1.Khái niệm tranh chấp quốc tế, các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp quốc tế.2.Căn cứ vào điều 33.1 của Hiến chương Liên hợp quốc và thực tiễn giải quyết tranh chấp quốc tế hãy phân nhóm các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp quốc tế.3.So sánh hai loại biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tế: ngoại giao và tư pháp.4.So sánh hai biện pháp tư pháp về giải quyết tranh chấp quốc tế: tòa án quốc tế và trọng tài quốc tế.5.Phân biệt được cơ chế giải quyết tranh chấp tại Hội đồng bảo an với biện pháp trừng phạt của Hội đồng bảo an.6.Nhận xét chức năng của Tòa án quốc tế Liên hợp quốc và chức năng của Tòa án trong nước.7.Hiện nay, tranh chấp giữa CHXHCN Việt Nam và các nước trong khu vực như Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Đài Loan, Brunei và vùng lãnh thổ Đài Loan được coi là một trong những điểm nóng có thể làm bùng phát các cuộc xung đột quân sự, đe dọa an ninh và hòa bình trong khu vực. Hãy cho biết: a.Có thể áp dụng biện pháp hòa bình nào để giải quyết tranh chấp nói trên?b.Giả sử Việt nam và Trung Quốc cùng mong muốn đưa vụ việc này ra giải quyết trước Tòa án công lý quốc tế, cần có những điều kiện pháp lý nào? hãy nêu và phân tích các điều kiện pháp lý đó.8.Quốc gia A đã đưa ra tuyên bố chấp nhận thẩm quyền giải quyết của tòa án Công lý quốc tế của Liên hợp quốc đối với các tranh chấp về lãnh thổ giữa nước A với các nước láng giềng B,C,D. 4 năm sau kể từ khi quốc gia A ra tuyên bố nói trên, đã xảy ra tranh chấp chủ quyền đối với 2 hòn đảo giữa nước A với nước B. Nước B cũng đã đồng ý chấp nhận thẩm quyền của Tòa án công lý quốc tế. Hỏi:a.Thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp trên được xác định trước hay sau (chấp nhận trước hay chấp nhận sau thẩm quyền của tòa án Công lý quốc tế)?b.Việc xác lập thẩm quyền của Tòa án công lý quốc tế được hiện theo phương thức nào trong số các phương thức đã được quy định trong quy chế của Tòa án công lý quốc tế?9.Quốc gia A ký Hiệp định đầu tư với quốc gia B và có hiệu lực vào ngày 01011996. Tháng 021997, quốc gia A ký hợp đồng khai thác dầu với Công ty C mang quốc tịch nước B. thời hạn 10 năm. Hợp đồng đã thực hiện được 5 năm thì quốc gia A quyết định tất các các mỏ dầu thuộc và nhân dân nước A và tất cả các Công ty đang khai thác dầu kể cả trong nước và của nước ngoài đều bị xung công và thuộc quyền quản lý của Nhà nước. Chính phủ căn cứ vào luật mới ban hành sẽ đền bù 50% vốn cho tất cả các Công ty dầu bị xung công (kể cả trong nước và nước ngoài). Quốc gia B, để bảo vệ quyền lợi cho Công ty C đã khởi kiện quốc gia A với lý do là quốc gia A đã vi phạm cam kết. Hãy cho biết:a.Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp này, giá trị của quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp.b.Giả thiết, Tòa án công lý quốc tế có thẩm quyền giải quyết, thì quốc gia A và B phải đáp ứng những điều kiện nào? Nêu cơ sở pháp lý?10.Hai quốc gia A và B đều là thành viên của Liên hợp quốc, tổ chức thương mại thế giới và Công ước Luật biển 1982. Đầu năm 2007, quan hệ giữa 2 nước trở nên căng thẳng do liên quan đến việc thăm dò dầu khí tại khu vực thềm lục địa chồng lấn giữa 2 nước. Hãy cho biết:a.Tranh chấp kể trên có phải là tranh chấp thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật quốc tế không? Tại sao?b.Những phương thức nào có thể được áp dụng để giải quyết hòa bình tranh chấp trên?c.Nếu cả 2 nước đều chấp thuận đưa vụ việc yêu cầu Tòa án công lý quốc tế giải quyết thì Tòa án này có thẩm quyền giải quyết không? Cơ sở pháp lý.11.Trước yêu cầu của Mỹ và Anh, Hội đồng bảo an Liên hợp quốc đã thông qua nghị quyết ngày 31021992 áp dụng cấm vận vũ khí, cấm các phương tiện hàng không, cấm vận kinh tế đối với Libya vì quốc gia này đã từ chối không chịu giao nộp hai người bị tình nghi là công dân Libya đã phạm tội khủng bố trong chuyến bay PanAm 103 trên vùng trời Lockerbie (Scotland) năm 1988. Hãy cho biết:a. Libya vi phạm nguyên tắc nào của Luật quốc tế?b.Trách nhiệm pháp lý Libya phải gánh chịu?
Trang 1THẢO LUẬN MÔN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CHƯƠNG 6 GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG LUẬT QUỐC TẾ
1 Khái niệm tranh chấp quốc tế, các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp quốc tế.
* Khái niệm tranh chấp quốc tế:
Từ góc độ thực tiễn, có thể hiểu tranh chấp quốc tế là hoàn cảnh thực tế, trong đó chủ thể tham gia
có những quan điểm, đòi hỏi trái ngược với nhau về những vấn đề liên quan đến lợi ích của họ Sovới tranh chấp trong luật quốc gia, tranh chấp quốc tế có hai đặc thù cơ bản là:
- Về chủ thể: chủ thể của tranh chấp quốc tế chính là chủ thể của luật quốc tế Mặc dù quốc giakhông là chủ thể duy nhất của luật quốc tế, nhưng quan hệ quốc tế chủ yếu vẫn là quan hệ giữua cácquốc gia Vì vậy, trong thực tiễn quốc tế, hầu hết các tranh chấp quốc tế chủ yếu xảy ra giữa các quốcgia
- Về đối tượng điều chỉnh của tranh chấp quốc tế: phải là quan hệ pháp luật thuộc đối tượng điềuchỉnh của luật quốc tế
* Các biện pháp hoà bình để giải quyết tranh chấp quốc tế:
Các biện pháp hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế có thể được phân loại dựa vào nhiều tiêu chíkhác nhau:
- Căn cứ vào giá trị pháp lý của các quyết định giải quyết tranh chấp, các biện pháp hoà bình đượcphân loại thành:
+ Các biện pháp đưa ra phán quyết có hiệu lực bắt buộc đối với các bên hữu quan (như giải quyếttranh chấp thông qua toà án quốc tế và trọng tài quốc tế)
+ Các biện pháp không đưa đến việc giải quyết tranh chấp có hiệu lực ràng buộc đối với các bênhữu quan (như giải quyết tranh chấp thông qua trung gian, hoà giải)
- Căn cứ vào chủ thể tham gia giải quyết tranh chấp quốc tế giữa các bên, có thể phân loại thành: + Các biện pháp giải quyết trực tiếp (như đàm phán)
+ Các biện pháp giải quyết gián tiếp, tức thông qua sự trợ giúp của bên thứ ba (như hình thức điềutra, trung gian, hoàn giải, trọng tài, toà án)
- Căn cứ vào hình thức giải quyết tranh chấp, có thể phân loại thành:
Trang 2+ Các biện pháp mang tính ngoại giao, bao gồm: đàm phán, trung gian, điều tra và hoà giải Biệnpháp đàm phán chỉ liên quan đến các bên tham gia tranh chấp Các biện pháp ngoại giao còn lại có sựtham gia (ở mức độ khác nhau) của bên thứ ba vào quá trình giải quyết tranh chấp quốc tế, nhưng cóđặc điểm chung là bên thứ ba không có quyền đưa ra quyết định giải quyết có hiệu lực đối với cácbên tranh chấp.
+ Các biện pháp tư pháp giải quyết tranh chấp quốc tế, bao gồm: trọng tài quốc tế và toà án quốc
tế Việc sử dụng các biện pháp này cũng có sự tham gia của bên thứ ba, nhưng khác với nhóm trên,bên thứ ba ở nhóm này có quyền đưa ra các quyết định có hiệu lực ràng buộc đối với các bên tranhchấp
+ Các biện pháp được quy định trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế hoặc thoả thuận khu vực
2 Căn cứ vào điều 33.1 của Hiến chương Liên hợp quốc và thực tiễn giải quyết tranh chấp quốc tế hãy phân nhóm các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp quốc tế.
Căn cứ quy định tại Điều 33, Hiến chương Liên Hợp Quốc:
“1 Các bên đương sự trong các cuộc tranh chấp, mà việc kéo dài các cuộc tranh chấp ấy có thể
đe dọa đến hoà bình và an ninh quốc tế, trước hết, phải cố gắng tìm cách giải quyết tranh chấp bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian, hoà giải, trọng tài, toà án, sử dụng những tổ chức hoặc những điều ước khu vực, hoặc bằng các biện pháp hoà bình khác tùy theo sự lựa chọn của mình;
2 Hội đồng bảo an, nếu thấy cần thiết, sẽ yêu cầu các đương sự giải quyết tranh chấp của họ bằng các biện pháp nói trên”.
Theo quy định trên, các biện pháp hoà bình để giải quyết tranh chấp quốc tế được chia thành cácnhóm Các biện pháp mang tính ngoại giao sau (dựa theo hình thức giải quyết tranh chấp):
* Các biện pháp mang tính ngoại giao:
- Đàm phán ngoại giao trực tiếp:
Đàm phán giải quyết tranh chấp quốc tế là sự tiếp xúc trực tiếp giữa các chủ thể luật quốc tế là cácbên tranh chấp để tìm ra cách thức giải quyết tranh chấp đó một cách hiệu quả, phù hợp với luật quốc
tế Đàm phán không chỉ là biện pháp giải quyết tranh chấp tế mà còn thường được tiến hành nhằmmục đích trao đổi quan điểm, ý kiến giữa các quốc gia về các vấn đề không nhất thiết có tính tranhchấp, như trao đổi thông tin, thoả thuận chính sách hay ký kết điều ước quốc tế
Trang 3Đàm phán để giải quyết tranh chấp quốc tế được tiến hành trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng và tôntrọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, với sự thể hiện thiện chí giải quyếttranh chấp quốc tế.
Về thể thức, thủ tục, thời gian và cấp đàm phán, luật quốc tế hoàn toàn không có quy định bắt buộcnào Vấn đề này hoàn toàn thuộc thẩm quyền của các bên có liên quan Trong thực tiễn quan hệ quốctê,s đàm phán có thể thực hiện ở các cấp độ khác nhau: giữa người đứng đầu nhà nước, đứng đầuchính phủ, bộ trưởng bộ ngoại giao hoặc giữa những đại diện có thẩm quyền của các bên hữu quan
- Trung gian, hòa giải :
+ Các biện pháp trung gian:
Trung gian và hoà giải là những biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tế với sự tham gia của bênthứ ba Bên thứ ba có thể là một quốc gia, nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, các cá nhân có uy tínquốc tế hoặc cơ quan quốc tế được thành lập Thông thường bên thứ ba là bên khách quan trong vụtranh chấp và có quan hệ hữu nghị với cả hai bên tranh chấp, được các bên tranh chấp yêu cầu Ngoài
ra, bên thứ ba có thể tự mình đưa ra yêu cầu đóng vai trò trung gian, hoà giải
Khi áp dụng biện pháp trung gian, bên thứ ba tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia tranhchấp xúc tiến các hoạt động đàm phán, đưa ra các lời khuyên hoặc chỉ dẫn cho các bên trong vụ tranhchấp, nhằm mục đích giúp đỡ các bên đạt được thoả thuận giải quyết tranh chấp Như vậy, trong vaitrò trung gian, bên thứ ba có nhiệm vụ làm dịu sự căng thẳng cũng như trung hoà các đòi hỏi, mâuthuẫn giữa các bên tranh chấp
Từ góc độ pháp lý quốc tế, các đề nghị, khuyến cáo của bên trung gian liên quan đến vụ tranh chấpkhông có giá trị pháp lý ràng buộc Chúng chỉ có thể là cơ sở cho các cuộc đàm phán và thoả thuậngiữa các bên tranh chấp
+ Các biện pháp hoà giải:
Nhiệm vụ của cơ quan hoà giải là làm sáng tỏ và xác định những yếu tố tạo nên tranh chấp, có thunhận thông tin theo con đường điều tra hoặc bằng các cách thức khác Khi tiến hành công việc hoàgiải, bên hoà giải có nhiệm vụ trung hoà các bên tham gia tranh chấp Bên hoà giải có quyền đề đạtnhững giải pháp, phương thức giải quyết tranh chấp, dự thảo nghị quyết và đưa ra kết luận giải quyếttranh chấp Như vậy, trong hoạt động hoà giải bao gồm cả hoạt động điều tra và trung gian Điều đókhiến giả thuyết cho rằng hoà giải là biện pháp có tính chất không hoàn toàn là ngoại giao và cũngkhông hẳn là biện pháp tư pháp (toà án)
Trang 4Quyết định và kết luận của cơ quan hoà giải chỉ mang tính khuyến nghị và tạo cơ sở thuận lợi choviệc giải quyết tranh chấp Như vậy, việc từ chối không làm theo các khuyến nghị của cơ quan hàogiải không được coi là hành vi vi phạm pháp luật.
Cơ quan hoà giải có thể là uỷ ban thường trực hoặc ad hoc Thành phần của cơ quan này gồm số lẻcác thành viên được lựa chọn với tư cách cá nhân, trong đó có thể bao gồm thành viên là công dâncủa các bên tranh chấp hoặc chỉ bao gồm công dân của nước thứ ba do các bên tranh chấp thoả thuậnlựa chọn
- Điều tra:
Hoạt động điều tra được xem là biện pháp giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế và thườngđược thực hiện thông qua uỷ ban điều tra Nhiệm vụ của uỷ ban này là xác định các sự kiện còn gâytranh cãi, không được hiểu thống nhất giữa các bên tham gia tranh chấp nhằm làm sáng tỏ thực trạng
vụ tranh chấp Như vậy, hoạt động điều tra thực chất không giải quyết tranh chấp quốc tế mà chỉ làmsáng tỏ các sự kiện hoặc hành động dẫn đến tranh chấp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyếttranh chấp Uỷ ban điều tra có 02 loại là uỷ ban lâm thời và uỷ ban thường trực
Về nguyên tắc, thành phần, thời hạn và thẩm quyền của uỷ ban do các bên thoả thuận quy định Vìvậy, thành viên của uỷ ban điều tra có thể chỉ là công dân của các bên tranh chấp nhưng họ không đạidiện cho quốc gia mình, có thể bao gồm cả công dân của nước trung lập, có thể chỉ có công dân củanước trung lập được các bên tranh chấp thoả thuận lựa chọn
Uỷ ban điều tra thường giải tán khi báo cáo (kết luận) điều tra được thông qua Báo cáo của uỷ banđiều tra thường được thông qua với đa số phiếu Báo cáo hay kết luận của uỷ ban điều tra không có hiệulực ràng buộc các bên tranh chấp Họ có toàn quyền chấp nhận hay bác bỏ toàn bộ hay một phần báo cáocủa uỷ ban điều tra
* Các biện pháp mang tính tư pháp:
- Giải quyết tranh chấp thông qua toà án quốc tế:
Giải quyết tranh chấp quốc tế theo trình tự thủ tục tố tụng của Toà án thường trực quốc tế được coi
là một trong những biện pháp hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế Cùng với trọng tài quốc tế, toà
án quốc tế được xem là cơ quan tài phán quốc tế Hiện tại, Toà án công lý quốc tế của Liên Hợp Quốc
là cơ quan tư pháp có quyền lực và ảnh hưởng toàn cầu
Phạm vi giải quyết tranh chấp của các toà án quốc tế khác nhau Tuy nhiên, các toà án quốc tếcũng có những đặc điểm chung sau:
Trang 5+ Mỗi toà án quốc tế đều hoạt động theo quy chế riêng, được thông qua từ trước để quy định thủtục và điều chỉnh quan hệ giữa toà cới các bên tranh chấp.
+ Thành phần xét xử của toà án quốc tế là cố định, nghĩa là các bên không có quyền lựa chọn thẩmphán, trừ một số trường hợp đặc biệt
+ Các bên tranh chấp không có quyền thay đổi các quy tắc, thủ tục tố tụng của toà án
+ Phán quyết của mọi toà án quốc tế đều có giá trị chung thẩm và bắt buộc các bên liên quan phảitriệt để tuân thủ
Cơ chế đảm bảo thi hành phán quyết của toà án quốc tế rất nghiêm ngặt và có hiệu quả Theo quychế của toà hoặc hiến chương của các tổ chức quốc tế, phán quyết của toà thường được đảm bảo thihành thông qua thẩm quyền của các cơ quan của tổ chức quốc tế Ví dụ: Hiến chương của Liên HợpQuốc đã trao cho Hội đồng bảo an quyền đưa ra những nghị quyết về những biện pháp cần áp dụngđối với quốc gia không thực hiện nghĩa vụ theo phán quyết của toà án
Ngoài chức năng chủ yếu là giải quyết tranh chấp quốc tế và đưa ra các kết luận tư pháp lý trongcác vụ việc cụ thể, toà án quốc tế còn có thể góp phần giải thích và củng cố hoàn thiện các quy phạmluật quốc tế Thông qua hoạt động của toà án quốc tế, tranh chấp quốc tế có thể được giải quốc tế cóthể được giải quyết triệt để, phán quyết do toà án quốc tế đưa ra thường đảm bảo được tính công bằng
và khách quan, các phán quyết của toà án quốc tế thường được các bên tôn trọng và tuân thủ nghiêmminh
- Giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài quốc tế:
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của toà trọng tài quốc tế là thẩm quyền tuỳ nghi, phụ thuộc vào
ý chí của các bên tranh chấp và ý chí đó phải được ghi nhận trong điều ước quốc tế chuyên môn hoặcđiều khoản trọng tài Các văn bản này còn xác định cụ thể trình tự, thủ tục xét xử, nguồn luật sử dụngtrong xét xử cũng như thủ tục và giá trị phán quyết của trọng tài
Về phân loại trọng tài khoa học luật quốc tế sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại, cụ thể:+ Căn cứ vào tính chất hoạt động, trọng tài quốc tế gồm có trọng tài thường trực (trọng tài theoquy chế) và trọng tài vụ việc
+ Căn cứ vào số lượng trọng tài viên, trọng tài được chia thành trọng tài đơn nhất (chỉ có mộttrọng tài viên) và trọng tài tập thể (bao gồm từ 03 trọng tài trở lên)
Trang 6+ Căn cứ vào thẩm quyền giải quyết, trọng tài được chia thành trọng tài có thẩm quyền chung (cóchức năng giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực khác nhau) và trọng tài chuyên môn(chỉ có thẩm quyền tranh chấp trong một hoặc một số lĩnh vực).
Thành phần của cơ quan trọng tài do các bên thoả thuận quy định, có thể chỉ bao gồm một trọngtài viên hoặc nhiều trọng tài viên (hội đồng trọng tài) Số lượng trọng tài viên luôn là số lẻ, để đảmbảo phán quyết của trọng tài được thông qua dễ dàng theo nguyên tắc đa số phiếu Trong trường hợptrọng tài được thành lập với một trọng tài viên duy nhất thì người này thường phải là công dân có uytín của nước thứ ba
Luật được áp dụng để giải quyết các tranh chấp quốc tế là luật quốc tế liên quan trực tiếp đến vụtranh chấp Ngoài ra, các bên có thể tự do thoả thuận lựa chọn luật quốc gia, nguyên tắc pháp luậtchung hay quy định chuyên môn nào đó để trọng tài sử dụng khi giải quyết tranh chấp giữa họ
Thủ tục tố tụng, trình tự phiên toà trọng tài về nguyên tắc do các bên tranh chấp ấn định Thôngthường, trình tự phiên toà trọng tài bao gồm hai giai đoạn: thủ tục viết và thủ tục nói Quyết định củatrọng tài sẽ được thông qua theo nguyên tắc nhất trí hoặc đa số phiếu
Phán quyết trọng tài thường được thông qua tại buổi thảo luận nghị án bằng đa số phiếu và sẽ đượctuyên đọc với sự có mặt của đại diện và cố vấn pháp lý của các bên tranh chấp Về nguyên tắc, phánquyết của trọng tài có giá trị chung thẩm và hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên Phán quyếtcủa trọng tài không thể bị khiếu nại, nhưng có thể được xem xét lakji trong trường hợp xuất hiện cáctình tiết và sự kiện ảnh hưởng có tính quyết định đến phán quyết, mà trước đó toà trọng tài chưa đượcbiết đến Trong trường hợp các bên có quan điểm, yêu cầu khác nhau về việc giải thích và thi hànhphán quyết thì chính cơ quan trọng tài với cùng thành phần xét xử sẽ xem xét và giải thích
* Các biện pháp được quy định trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế hoặc thoả thuận khu vực:
Căn cứ vào các điều ước quốc tế thành lập tổ chức quốc tế, mỗi tổ chức quốc tế đều có thẩm quyền
và chức năng giải quyết các tranh chấp quốc tế Tuy nhiêm, các bên tranh chấp không chỉ tìm đếnnhững cơ chế giải quyết được ấn định trong khuôn khổ của tổ chức quốc tế mà họ là thành viên, màcòn có quyền lựa chọn những biện pháp giải quyết hoà bình khác
Thông thường các tranh chấp liên quan trong khuôn khổ tổ chức quốc tế được giải quyết theo cơchế đã được quy định trong quy chế tổ chức quốc tế Phạm vi thẩm quyền của mỗi tổ chức quốc tếchuyên môn được quy định trong điều lệ của tổi chức quốc tế đó, trong các hiệp định song phương và
đa phương của tổ chức đó Như vậy, cơ chế giải quyết tranh chấp của từng tổ chức quốc tế chuyênmôn nói trên sẽ khác nhau, phụ thuộc vào phạm vi hoạt động của từng tổ chức
Trang 73 So sánh hai loại biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tế: ngoại giao và tư pháp.
- Đàm phán: các bên tiếp xúc trực tiếp
để tìm ra cách thức giải quyết tranhchấp
- Giải quyết tranh chấp thông qua Tòa
án quốc tế và Trọng tài quốc tế:
- Có thể tự lựa chọn các biện phápnhư: Thông qua tổ chức quốc tế khuvực, tòa cầu và thông qua các hiệpđịnh khu vực
Hiệu lực
Chỉ có tính chất khuyến nghị, khôngmang tính chất bắt buộc đối với bêntranh chấp
Có tính chất bắt buộc đối với các bêntranh chấp
Thi hành Vì hiệu lực của các quyết định đưa ra
không có giá trị ràng buộc đối với cácbên nên việc thực thi quyết định cũngkhông mang tính bắt buộc
Cơ chế đảm bảo thi hành phán quyếtcủa biện pháp này rất nghiêm ngặt và
có hiệu quả Theo quy chế của toàhoặc hiến chương của các tổ chức
Trang 8quốc tế, phán quyết của Toà án hoặcTrọng tài thường được đảm bảo thihành thông qua thẩm quyền của các
cơ quan của tổ chức quốc tế
4 So sánh hai biện pháp tư pháp về giải quyết tranh chấp quốc tế: tòa án quốc tế và trọng tài quốc tế.
- Đều là việc sử dụng các cơ quan tài phán quốc tế trên cơ sở sự thỏa thuận hoặc thừa nhận của cácbên tranh chấp bằng các phương pháp, thủ tục tư pháp
- Các phán quyết của Toà án quốc tế và Trọng tài quốc tế đều có hiệu lực pháp lý ràng buộc đốivới các bên tranh chấp
- Cơ chế đảm bảo thi hành phán quyết của cả hai biện pháp này rất nghiêm ngặt và có hiệu quả.Theo quy chế của toà hoặc hiến chương của các tổ chức quốc tế, phán quyết của Toà án hoặc Trọngtài thường được đảm bảo thi hành thông qua thẩm quyền của các cơ quan của tổ chức quốc tế
tế là cố định, tức là các bên không
có quyền lựa chọn thẩm phán
Thành phần của cơ quan trọng tài do cácbên thoả thuận quy định, có thể chỉ baogồm một trọng tài viên hoặc nhiều trọngtài viên (hội đồng trọng tài)
Thủ tục tố tụng, trình tự phiên toà trọng tài
về nguyên tắc do các bên tranh chấp thoảthuận ấn định vì thủ tục trọng tài đơn giải,linh hoạt và mềm dẻo hơn, qua đó tiết kiện
Trang 9thời gian và chi phí, rút ngắn quá trìnhthông qua phán quyết.
độ bảo mật của trình tự tố tụng
Đối với từng vụ việc, nếu các bên yêu cầu,nội dung giải quyết tranh chấp bằng trọngtài sẽ được giữ kín, đảm bảo cho các bênliên quan giữ được bí mật quốc gia, bíquyết kinh doanh, quy trình kỹ thuật,…vàqua đó, góp phần bảo vệ danh dự, uy tíncủa các bên tranh chấp
có thể không mang tính đối nghịch nhưphán quyết của toà án quốc tế Do đó, saukhi có phán quyết của trọng tài, các bênvẫn có thể tiếp tục giữ được mối quan hệvới nhau kể cả trong lĩnh vực vừa xảy ratranh chấp
Trình tự trọng tài do các bên tự quy định,
vì thế khả năng kiểm soát hoạt động trọngtài của bên rộng hơn
5 Phân biệt cơ chế giải quyết tranh chấp tại Hội đồng bảo an với biện pháp trừng phạt của Hội đồng bảo an.
Tiêu chí Giải quyết tranh chấp tại Hội đồng
bảo an
Biện pháp trừng phạt của Hội đồng
bảo an Khái niệm Giải quyết tranh chấp tại Hội đồng
bảo an là các phương tiện, cách thức,thủ tục mà các chủ thể của pháp luậtquốc tế có nghĩa vụ phải dùng đểgiải quyết tranh chấp quốc tế để duytrì hoà bình, an ninh quốc tế, phát
Biện pháp trừng phạt của Hội đồng bảo
an là những biện pháp tập thể được ápdụng theo quyết định của Hội đồng bảo
an Liên hợp quốc nhằm loại ra sự đe dọanền hoà bình, an ninh quốc tế, sự viphạm nền hoà bình của nhân loại hoặc
Trang 10triển quan hệ hoà bình và hợp tácgiữa các quốc gia.
loại trừ hành vi xâm lược
Cơ sở pháp lý Chương VI, Hiến chương Liên Hợp
Quốc (từ Điều 33 đến Điều 38)
Điều 42, Điều 43, Điều 44, Điều 45,Điều 46, Điều 47, Điều 49, Điều 50,Hiến chương Liên Hợp Quốc
Tính chất
Giải quyết tranh chấp thường sẽ ranhững quyết định, phán quyết ápdụng một cách hoà bình, phi quân sựcho các bên tranh chấp
Để ngăn chặn sự đe doạ nền hoà bìnhquốc tế, các biện pháp áp dụng có thể làbiện pháp quân sự hoặc phi quân sự
Mục đích
Giải quyết tranh chấp quốc tế để duytrì hoà bình, an ninh quốc tế, pháttriển quan hệ hoà bình và hợp tácgiữa các quốc gia
Ngăn chặn, loại bỏ sự đe dọa nền hoàbình, an ninh quốc tế, sự vi phạm nềnhoà bình của nhân loại hoặc loại trừ hành
- Tranh chấp thông thường phát sinhtrong mọi lĩnh vực đời sống quốc tế
Áp dụng các biện pháp trừng phạt đốivới những hành động hoặc không hànhđộng có khả năng đe đọa nền hoà bình,
an ninh quốc tế
Căn cứ áp
dụng
- Đối với các tranh chấp nếu kéo dài
có khả năng làm nguy hại hoà bình
và an ninh quốc tế: Nếu Hội đồngbảo an điều tra, xem xét nếu tranhchấp đó kéo dài gây nguy hại hoàbình và an ninh quốc tế, Hội đồngbảo an sẽ mời các giải quyết tranhchấp
- Đối với các tranh chấp thôngthường: Nếu các bên đệ trình thì Hộiđồng bảo an sẽ giải quyết (Điều 38,Hiến chương Liên Hợp Quốc)
Các biện pháp trừng phạt này chỉ được
áp dụng trong trường hợp cấp thiết đểchấm dứt các hành vi trái pháp luật quốc
tế của các bên tham gia xung đột, màxung đột này tiếp diễn có thể tạo ra mối
đe dọa cho nền hoà bình và an ninh quốc
tế hoặc đang vi phạm nền hoà bình, hoặc
đó là hành vi xâm lược