1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận tư pháp quốc tế

4 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận Tư pháp Quốc tế
Tác giả Trần Thị Thanh Hòa
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Tư pháp quốc tế
Thể loại Bài thi học phần
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 42,47 KB
File đính kèm TPQT__VB213HP_Trần Thị Thanh Hòa_VB213HP043.rar (35 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI THI HỌC PHẦN MÔN TƯ PHÁP QUỐC TẾ Họ và tên Trần Thị Thanh Hòa MSSV VB213HP043 Lớp VB2K13 GV ĐIỂM Tình huống giả định Năm 2015, Công ty Login (pháp nhân Hàn Quốc) đầu tư góp vốn liên doanh với Công ty Sao Đỏ (Việt Nam) thành lập Công ty liên doanh LOGIN ĐỎ và xây dựng nhà máy sản xuất xe máy tại Việt Nam Vốn góp của Công ty Login bao gồm tiền, một số sáng chế và mẫu kiểu dáng thiết kế xe máy đã được cấp bằng bảo hộ tại Hàn Quốc Thời điểm năm 2016, Công ty LOGIN ĐỎ đã thực hiện đăng ký quyền s.

Trang 1

BÀI THI HỌC PHẦN MÔN TƯ PHÁP QUỐC TẾ

Họ và tên:Trần Thị Thanh Hòa

MSSV: VB213HP043

Lớp: VB2K13

GV:

ĐIỂM:

Tình huống giả định

Năm 2015, Công ty Login (pháp nhân Hàn Quốc) đầu tư góp vốn liên doanh với Công ty Sao Đỏ (Việt Nam) thành lập Công ty liên doanh LOGIN ĐỎ

và xây dựng nhà máy sản xuất xe máy tại Việt Nam Vốn góp của Công ty Login bao gồm tiền, một số sáng chế và mẫu kiểu dáng thiết kế xe máy đã được cấp bằng bảo hộ tại Hàn Quốc Thời điểm năm 2016, Công ty LOGIN ĐỎ đã thực hiện đăng ký quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng xe máy tại Việt Nam và đã được cơ quan có thẩm quyền cấp Văn bằng bảo hộ

Năm 2020, trên thị trường Việt Nam xuất hiện một số mẫu xe máy có kiểu dáng giống hệt mẫu kiểu dáng của LOGIN ĐỎ đang sản xuất và bán tại thị trường Việt Nam do Công ty DAISY (Đài Loan) sản xuất, nhập khẩu và bán tại Việt Nam

Việc công ty DAISY sản xuất, nhập khẩu và bán tại Việt Nam dòng xe máy như trên có được hay không?

Nêu biện pháp cụ thể giải quyết vụ việc trên

Giải quyết tình huống

Theo Công ước Paris 1883 về bảo hộ quốc tế quyền sở hữu công nghiệp

+ Thống nhất hóa quy trình thủ tục nộp đơn đăng ký quốc tế đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp

+ Ngăn chặn tình trạng copy, sử dụng sai phép các đối tượng của quyền

sở hữu công nghiệp

+ Nguyên tắc bảo hộ: Nguyên tắc đối xử quốc gia (Điều 2): Mọi đối tượng quyền sở hữu công nghiệp phải được hưởng sự bảo hộ ngang bằng như các quyền đã được bảo hộ tại các nước thành viên

Trang 2

Việt Nam và Hàn Quốc Bản đều là thành viên Công ước Paris năm 1883

về bảo hộ sở hữu công nghiệp do đó, Công ty LOGIN ĐỎ được pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại đối với xe máy theo qui định

Tại thời điểm năm 2020 xuất hiện một số mẫu xe máy có kiểu dáng giống hệt mẫu kiểu dáng của LOGIN ĐỎ đang sản xuất và bán tại thị trường Việt Nam do Công ty DAISY (Đài Loan) sản xuất, nhập khẩu và bán tại Việt Nam là

vi phạm quyền sở hữu công nghiệp, quyền của chủ sỡ hữu sáng chế là Công ty LOGIN ĐỎ theo quy định tại khoản 1, Điều 126, Luật SHTT với hành vi nhập khẩu và bán ra thị trường sản phẩm xe máy có thiết kế giống với sản phẩm của Công ty LOGIN ĐỎ đang trong thời gian được pháp luật Việt Nam bảo hộ

Do đó, để thực hiện các biện pháp bảo hộ quyền đối với mẫu kiểu dáng xe máy của LOGIN ĐỎ tại Việt Nam, Công ty LOGIN ĐỎ nộp đơn kiện Công ty DAISY đến Tòa án Việt Nam theo Điều 469 Bộ Luật tố tụng dân sự - Thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Căn cứ Điều 679 Bộ Luật dân sự 2015: Quyền sở hữu trí tuệ được xác định theo pháp luật của nước nơi đối tượng sở hữu trí tuệ được yêu cầu bảo hộ

Theo quy định tại Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ (viết tắt Luật SHTT) thì:

“Nguyên đơn và bị đơn trong vụ kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có quyền

và nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 79 của Bộ luật tố tụng dân sự

2015 và theo quy định tại Điều này” (Điều 203.1 Luật SHTT)

Như vậy, một trong những quyền và nghĩa vụ đầu tiên của chủ sở hữu quyền và của người vi phạm quyền là quyền và nghĩa vụ chứng minh đã được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự: “đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp” (khoản 1, Điều 79, Bộ luật tố tụng dân sự 2015)

Đối với nguyên đơn: theo quy định tại khoản 2 Điều 203 của Luật Sở hữu trí tuệ, để chứng minh là chủ thể quyền sở hữu công nghiệp (QSHCN), nguyên đơn phải đưa ra một trong các chứng cứ sau đây: Văn bằng bảo hộ, Sổ đăng ký

Trang 3

quốc gia về sở hữu công nghiệp b(SHCN), chứng cứ cần thiết để chứng minh quyền đối với bí mật kinh doanh, tên thương mại, nhãn hiệu nổi tiếng; bản sao hợp đồng sử dụng đối tượng SHCN trong trường hợp quyền sử dụng được chuyển giao theo hợp đồng

Ngoài ra nguyên đơn phải cung cấp các chứng cứ về hành vi xâm phạm QSHCN hoặc hành vi cạnh tranh không lành mạnh (khoản 3 Điều 203 Luật SHTT) Theo quy định tại Điều 25 của Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết và thi hành Luật SHTT thì các tài liệu, hiện vật sau được coi là chứng cứ chứng minh hành vi xâm phạm QSHCN: bản gốc hoặc bản sao hợp pháp tài liệu mô tả, mẫu vật, hiện vật có liên quan thể hiện đối tượng được bảo hộ; Vật mẫu, hiện vật có liên quan, ảnh chụp, bản ghi hình sản phẩm bị xem xét; bản giải trình, so sánh giữa sản phẩm bị xem xét với đối tượng được bảo hộ; biên bản, lời khai, tài liệu khác nhằm chứng minh xâm phạm

Đối với bị đơn: theo quy định tại khoản 2 Điều 79 Bộ luật tố tụng dân sự

2015 thì: “đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh” (Điều 79.2 Bộ luật tố tụng dân sự 2015) Trường hợp một bên trong vụ kiện xâm phạm QSHTT chứng minh được chứng cứ thích hợp để chứng minh cho yêu cầu của mình bị bên kia kiểm soát do đó không thể tiếp cận được thì có quyền yêu cầu tòa án buộc bên kiểm soát chứng cứ phải đưa ra chứng cứ đó”

Xác định thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật

Theo quy định tại khoản 6 Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ thì: “trong trường hợp có yêu cầu bồi thường thiệt hại thì nguyên đơn phải chứng minh thiệt hại thực tế đã xẩy ra và nêu căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 205 của Luật Sở hữu trí tuệ”

Thiệt hại được xác định theo quy định tại Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ gồm có:

Trang 4

- Thiệt hại về vật chất bao gồm các tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại

- Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng

- Mức độ thiệt hại được xác định trên cơ sở các tổn thất thực tế mà chủ thể QSHCN phải chịu do hành vi xâm phạm QSHTT gây ra

Về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Khi phát hiện vi phạm, chủ sở hữu QSHCN thường muốn có ngay được các biện pháp hữu hiệu cần thiết, nhanh chóng nhất để ngăn chặn một cách kịp thời, có hiệu quả các hành vi vi phạm quyền, lợi ích chính đáng của mình, tức là muốn hành động để chấm dứt ngay lập tức hành vi vi phạm quyền SHCN Điều

206 Luật SHTT quy định: “khi khởi kiện hoặc sau khi khởi kiện, chủ thể QSHTT có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong các trường hợp sau đây: a) đang có nguy cơ xẩy ra thiệt hại không thể khắc phục được cho chủ thể QSHTT; b) hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm QSHTT hoặc chứng cứ liên quan đến hành vi xâm phạm QSHTT có nguy cơ bị tẩu tán hoặc bị tiêu hủy nếu không được bảo vệ kịp thời”

Điều 207 Luật SHTT quy định các biện pháp khẩn cấp tạm thời bao gồm: thu giữ, kê biên, niêm phong, cấm thay đổi hiện trạng, cấm di chuyển, cấm dịch chuyển quyền sở hữu Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 206 của Luật SHTT thì: “Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu của chủ thể QSHTT quy định tại khoản 1 điều này trước khi nghe ý kiến của bên

bị áp dụng biện pháp đó”

Ngày đăng: 03/07/2022, 09:54

w