Hai câu đề mở ra không gian, thời gian và công việc của bà Tú. Một công việc vất vả, cơ cực và gian nan vô cùng: “Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng.” Mở đầu tác phẩm, Tú Xương đã giới thiệu hoàn cảnh kiếm sống của bà Tú qua thời gian “quanh năm”’ chỉ sự nối tiếp, triền miên, hết ngày này qua tháng khác, hết năm này qua năm khác, ngày nào cũng như ngày nào, lặn lội ngược xuôi để mưu sinh không chút thời gian rảnh rỗi, nghỉ ngơi và không gian “mom sông” là phần đất ở bờ sông nhô ra phía lòng sông, nơi người làng chài thường hay tụ tập, buôn bán. Qua đó mà ta thấy được hình ảnh người phụ nữ lao động vất vả, nhọc nhằn và hoàn cảnh làm việc vất vả, không thuận lợi và đầy nguy hiểm. Đồng thời, ta thấy được tình cảm xót xa, yêu thương vợ của tác giả. Từ “nuôi đủ” là không thừa, không thiếu, đủ về số lượng và chất lượng. Từ đó, ta thấy được sự đảm đang, tháo vát, chu đéo với chồng con của bà Tú. Hình ảnh gắng nặng “năm con với 1 chồng” kết hợp với số từ “5,1” đã nhấn mạnh cuộc đời, gia đình đề nặng trên vai bà Tú vì nuôi con là chuyện thường của cha mẹ nhưng nuôi chồng là chuyện lạ. Vì người đàn ông vốn là trụ cột của gia đình nên từ “với” để nối “5 con với 1 chồng”chứ không nói 6 người đã khiến 2 đầu đòn gánh như ngang bằng nhau. Ông tú tự tách mình ra thành 1 đứa con đặc biệt, như một phận ăn them, ăn ké các con. Qua đó, ta thấy được sự mỉa mai, chế diệu chính mình qua giọng điệu trữ tình, trào phúng, tự trách mình của ông Tú. Đồng thời đó là tình cảm tri ân, biết ơn đối với vợ.
Trang 1Nhận định về thơ của Tú Xương có ý kiến cho rằng: “Bên cạnh một Tú Xương quyết liệt
dữ dội trong châm biếm, trào phúng, còn có một Tú Xương da diết và đằm thắm trong trữ tình” Trần Tế Xương hay còn gọi làTú Xương, ngoài là một nhà thơ lớn với sự nghiệp thơ ca đã trở thành bất tử, ông còn là một người chồng rất yêu thương vợ Với tình cảm yêu thương, sự quý trọng, ông đã ghi lại một cách xúc động, chân thực hình ảnh người vợ tần tảo, giàu đức hi sinh qua tác phẩm “Thương vợ”
Tác phẩm “Thương vợ” được Tú Xương sáng tác năm 1896, là tác phẩm cảm động nhất
mà ông viết cho bà Tú Vợ ông là con nhà gia giáo nhưng khi lấy chồng lại chịu nhiều vất vả, gian truân Bà Tú từng chịu nhiều vất vả, gian truân trong cuộc đời nhưng bà lại có niềm hạnh phúc là ngay lúc còn sống đã được đi vào thơ ông Tú với tất cả niềm thương yêu, trân trọng của chồng Bởi thơ xưa viết về người vợ đã ít, mà viết về người vợ khi đang còn sống càng hiếm hoi hơn Thơ Trần Tế Xương lại khác Trong sáng tác của ông, có hẳn một đề tài về bà Tú gồm cả thơ, văn tế, câu đối Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú đường luật với bố cục gồm 4 phần: đề thực luận kết
Hai câu đề mở ra không gian, thời gian và công việc của bà Tú Một công việc vất vả, cơ cực và gian nan vô cùng:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng.”
Mở đầu tác phẩm, Tú Xương đã giới thiệu hoàn cảnh kiếm sống của bà Tú qua thời gian “quanh năm”’ chỉ sự nối tiếp, triền miên, hết ngày này qua tháng khác, hết năm này qua năm khác, ngày nào cũng như ngày nào, lặn lội ngược xuôi để mưu sinh không chút thời gian rảnh rỗi, nghỉ ngơi
và không gian “mom sông” là phần đất ở bờ sông nhô ra phía lòng sông, nơi người làng chài thường hay tụ tập, buôn bán Qua đó mà ta thấy được hình ảnh người phụ nữ lao động vất vả, nhọc nhằn và hoàn cảnh làm việc vất vả, không thuận lợi và đầy nguy hiểm Đồng thời, ta thấy được tình cảm xót xa, yêu thương vợ của tác giả Từ “nuôi đủ” là không thừa, không thiếu, đủ về
số lượng và chất lượng Từ đó, ta thấy được sự đảm đang, tháo vát, chu đéo với chồng con của
bà Tú Hình ảnh gắng nặng “năm con với 1 chồng” kết hợp với số từ “5,1” đã nhấn mạnh cuộc đời, gia đình đề nặng trên vai bà Tú vì nuôi con là chuyện thường của cha mẹ nhưng nuôi chồng
là chuyện lạ Vì người đàn ông vốn là trụ cột của gia đình nên từ “với” để nối “5 con với 1 chồng”chứ không nói 6 người đã khiến 2 đầu đòn gánh như ngang bằng nhau Ông tú tự tách mình ra thành 1 đứa con đặc biệt, như một phận ăn them, ăn ké các con Qua đó, ta thấy được sự mỉa mai, chế diệu chính mình qua giọng điệu trữ tình, trào phúng, tự trách mình của ông Tú Đồng thời đó là tình cảm tri ân, biết ơn đối với vợ
2 câu thực đã ghi lại một cách ngắn gọn và hàm súc về cuộc đời của bà Tú:
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”
Hình ảnh “con cò, cái cò” trong ca dao cổ: “Con cò lặn lội bờ sông”, “Con cò đi đón cơn mưa”,
“Cái cò, cái vạc, cái nông” được tái hiện trong thơ Tú Xương qua hình ảnh “thân cò” lầm lũi, đã
Trang 2gợi lên trong tâm hồn người đọc cuộc sống tần tảo, lam lũ của người lao động Việt Nam hàng ngàn đời nên rất dễ được chia sẻ, đồng cảm Tác giả đã sử dụng biện pháp đảo ngữ, đảo 2 từ “lặn lội, eo sèo” lên đầu câu để nhấn mạnh những vất vả, gian lao của bà Tú Từ láy tượng hình “lặn lội” chỉ bóng người với tư thế vất vả, nhọc nhằn, bước những bước thụt lầy, lặn lội nơi rám nắng, xông pha nơi đầu gió cuối gió Từ láy tượng thanh “eo sèo” kết hợp với từ “đò đông” mở ra một
âm thanh tranh mua tranh bán Cùng hình ảnh đối lập “khi quãng vẵng” chỉ khoảng thời gian sáng sớm hoặc tối muộn với không gian vắng vẻ, heo hút với “buổi đò đông” vừa gợi cảnh đông người trên một chuyến đò hoặc đông đò trên một khúc sông Đó là không gian chen chúc, bươn trải của những người buôn bán mà sự cạnh tranh đến mức sạt phạt Hình ảnh đối lập này đã nhấm mạnh không gian làm việc của bà Tú luôn chứa đựng nguy hiểm rình rập Qua đó, ta thấy được cuộc đời gian truân vì kiếm sống mưu sinh để nuôi gia đình, đồng thời cho thấy ảnh mắt của ông Tú luôn dõi theo vợ để đồng cảm, thương xót và âu lo cho vợ
Nếu như 2 câu thực ghi lại một cách ngắn gọn mà rất sinh động cảnh làm ăn của bà Tú thì đến 2 câu luận, nhà thơ đã “nói hộ” những suy nghĩ “độc thoại” của bà Tú để làm nổi bật phẩm chất tinh thần đáng trân trọng ở người vợ của mình:
“Một duyên hai nợ, âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công.”
Tác giả đã vận dụng một cách rất tài tình các thành ngữ dân gian “một duyên 2 nợ”, “năm nắng mười mưa” để nói lên những nỗi vất vả, cơ cực của bà Tú Tác giả đã vận dụng một cách rất sáng tạo thành ngữ về “duyên nợ” bằng cách chen xem vào các số từ “1,2” và tách từ “duyên, nợ” ra đã nhấn mạnh rằng: “duyên” vợ chồng thì chỉ có 1 mà “nợ” - trách nhiệm, là gánh nặng gia đình thì có đến 2 Có nghĩa là hạnh phúc, ấm áp thì chẳng bao nhiêu mà cay đắng nhọc nhằn thì không kể hết Thành ngữ “năm nắng mười mưa” đã được tác giả sáng tạo từ thành ngữ dân gian “một nắng hai xương” để chỉ những khó khăn của thời tiết, đất trời, đồng thời ẩn dụ cho khó khăn, khắc nghiệt của cuộc đời Kết hợp sử dụng các số từ tăng cấp “1,2,5,10” như nhấn mạnh hoàn cảnh số kiếp của bà Tú với bao khó khăn trong cuộc sống Cuộc đời vất vả, gian lao nhưng
bà luôn cam chịu, phó mặc cho số phận, vị tha, hi sinh , hết lòng vì chồng con qua cụm từ “âu đành phận” Qua đó, ta thấy được đức tính cao đẹp của bà Tú, là kết tinh tiêu biểu cho người phụ
nữ Việt Nam
2 câu kết khép lại bài thơ vừa như một tiếng chửi vừa như một lời than của bà Tú:
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không.”
Đây là giọng của bà Tú do nhà thơ hư cấu Bà Tú là một người vợ hiền thảo, chịu thương, chịu khó thường nhẫn nhịn, không than thở, kêu ca, hi sinh vì chồng còn Vì vậy, ông Tú đã mượn lời
bà Tú để nói hộ tâm tình sâu kín của người vợ, đồng thời để chửi cái “thói đời” “Chửi” ở đây là chửi " thói đời",chửi thói quen của người đời là những quan niệm, những hủ tục của xã hội phong kiến, chửi những quy tắc xã hội lúc ấy sao lại bất công, bạc bẽo với những người phụ nữ như vậy Câu thơ cuối cùng là lời tự trách móc chính bản thân mình của tác giả, trách khứ mình
Trang 3bất tài, vô dụng Thân là đấng nam nhi, là trụ cột vững chắc của gia đình mà lại để cho người vợ mang gánh nặng nhọc nhằn trên vai, thật đáng buồn, đáng chê trách! 2 câu kết không có một lời
ca ngợi trực tiếp nào nhưng ẩn dưới các hàng chữ là tình cảm của ông Tú luôn thương yêu đối với vợ, quan tâm, thấu hiếu và lo lắng cho vợ Đồng thời đó là nỗi xót xa, day dứt, áy náy của người chồng không làm được gì giúp cho vợ Từ hai câu thơ kết, ta không trách ông Tú mà cảm nhận rằng Tú Xương cũng thật đáng thương, nhưng cũng thật đáng kính trọng và thấy được nỗi lòng của một nhà Nho chân chính trong bối cảnh hán học đã tàn và giá trị nhân đạo của tác phẩm
Với tình cảm yêu, quý trọng, tác giả đã ghi lại một cách xúc động, chân thực hình ảnh người vợ tần tảo, giàu đức hi sinh qua bài thơ “Thương vợ” Đồng thời , bao trùm lên cả bài thơ
là tình cảm và tấm lòng thương vợ đến xót xa, da diết của nhà thơ Trần Tú Xương Thể thơ thất ngôn bát cú đường luật với giọng điệu trữ tình, trào phúng, tự trách bản thân trước tình cảm tri
ân, biết ơn đối với vợ Bài thơ sử dụng các biện pháp nghệ thuật linh hoạt như đảo ngữ “lặn lội”,
“eo sèo”, phép đối “quãng vắng – buổi đò đông”, thành ngữ “một duyên 2 nợ, 5 nắng 10 mưa” cùng với từ ngữ giản dị, tự nhiên, giàu sức biểu cảm và các hình ảnh đặc sắc, được vận dụng sáng tạo, mang đậm cách nói của văn học dân gian như “thân cò” Tất cả đã góp phần làm nên giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm
Tóm lại “Thương vợ” là một bài thơ hay mang đậm giá trị cảm xúc của Tú Xương Nó hay trong cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh trong ca dao, thành ngữ của Tú Xương Bài thơ lại mang đậm cảm xúc chân thành, lời thơ giản dị mà sâu sắc, nói lên tình cảm yêu thương, sự quý trọng
mà Tú Xương dành cho vợ Bên cạnh đó, bài thơ còn thể hiện đức tính đẹp của người phụ nữ Việt Nam xã hội xưa nói chung và bà Tú nói riêng