Nếu như văn học trung đại coi thời gian là tuần hoàn, lặp lại, vĩnh viễn “ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại” thì nhà thơ mới lại lí giải qua điệp từ “xuân”. Điệp từ “xuân” xuất hiện ở từng dòng thơ như ẩn dụ chỉ tuổi trẻ, tuổi xuân của con người, gắn với những trạng thái đối lập trong kiểu câu định nghĩa, tăng cấp “nghĩa là” kết hợp với điệp ngữ “nghĩa là” nhấn mạnh triết lí về mùa xuân và tuổi trẻ đời người với thời gian tuyến tính, một đi không trở lại. Cách sử dụng các cặp từ đối lập “tới – qua”, “nongià” đã cho thấy sự cảm nhận tinh tế của nhà thơ trước bước đi của thời gian. Quan niệm này xuất phát từ cái nhìn lấy sinh mệnh cá nhân, tuổi trẻ làm thước đo thời gian. Qua đó, ta thấy được cái nhìn thể hiện sự thức tỉnh mạnh mẽ về ý thức cá nhân, thấy được giá trị của thời gian, sự hữu hạn của đời người. Ở đây, đoạn thơ đã sử dụng một loạt các từ ngữ, hình ảnh đối lập nhau: “rộngchật”, “xuân tuần hoàn – tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”, “cònchẳng còn” đã làm nổi bật tâm trạng tiếc nuối thời gian, cuộc đời. Nghệ thuật đối lập giữa thiên nhiên và con người kết hợp với giọng thơ hờn dỗi, ngậm ngùi trước quy luật nghiệt ngã của thời gian. Với sự thức tỉnh ý thức cá nhân sâu sắc, nhà thơ cảm nhận hơn ai hết một sự thật đáng buồn: tuổi trẻ chhawngr hai lầm thấm lại cho dù mùa xuân của đất trời vẫn cứ tuần hoàn, ngày hôm nãy đã khác ngày hôm qua, huống chi năm này với năm khác, xuân thì vô hạn còn tuổi trẻ mỗi người đều có giới hạn. Như triết học đã từng khẳng định:
Trang 1Vội vàng (16 câu giữa)
Trong “Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã nhận xét về thơ Xuân Diệu: “Thơ Xuân Diệu là môt nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn, tha thiết.” Điều này được thể hiện rõ nhất
qua bài thơ “Vội vàng” – in trong tập “Thơ thơ” (1938) đã cho thấy niềm khao khát sống mãnh liệt, sống hét mình và quan niệm về thời gian, về tuổi trẻ và hạnh phúc của Xuân Diệu Đặc biệt, 13 câu đầu của bài thơ đã cho thấy quan niệm mới về cuộc sống, tuổi trẻ và hạnh phúc của tác giả
Khi đặt tên cho bài thơ là “Vội vàng”, Xuân Diệu đã thể hiện một triết lí sống, một niềm khát khao sống mãnh liệt,tích cực Tính từ “vội vàng” là trạng thái, tư thế sống cuống quýt, gấp gáp, vội vã, bởi nhà thơ muốn hưởng trọn vẹn cuộc đời ngắn ngủi của mình Song, nhan đề cũng hé mở tâm thế, tuyên ngôn sống mạnh mẽ, hết mình về tuổi trẻ của tác giả Qua nhan đề của bài thơ mà ta thấy “Vội vàng” như một bài thơ tự bạch, tự họa của Xuân Diệu
Nếu như ở 13 câu đầu là khát vọng kì lạ dến ngông cuồng thì đến 17 câu giữa là quan niệm mới về thời gian:
“Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm chi răng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời.”
Nếu như văn học trung đại coi thời gian là tuần hoàn, lặp lại, vĩnh viễn “ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại” thì nhà thơ mới lại lí giải qua điệp từ “xuân” Điệp từ “xuân” xuất hiện ở từng dòng thơ như ẩn
dụ chỉ tuổi trẻ, tuổi xuân của con người, gắn với những trạng thái đối lập trong kiểu câu định nghĩa, tăng cấp “nghĩa là” kết hợp với điệp ngữ “nghĩa là” nhấn mạnh triết lí về mùa xuân và tuổi trẻ đời người với thời gian tuyến tính, một đi không trở lại Cách sử dụng các cặp từ đối lập “tới – qua”,
“non-già” đã cho thấy sự cảm nhận tinh tế của nhà thơ trước bước đi của thời gian Quan niệm này xuất phát từ cái nhìn lấy sinh mệnh cá nhân, tuổi trẻ làm thước đo thời gian Qua đó, ta thấy được cái nhìn thể hiện sự thức tỉnh mạnh mẽ về ý thức cá nhân, thấy được giá trị của thời gian, sự hữu hạn của đời người Ở đây, đoạn thơ đã sử dụng một loạt các từ ngữ, hình ảnh đối lập nhau: “rộng-chật”, “xuân tuần hoàn – tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”, “còn-chẳng còn” đã làm nổi bật tâm trạng tiếc nuối thời gian, cuộc đời Nghệ thuật đối lập giữa thiên nhiên và con người kết hợp với giọng thơ hờn dỗi, ngậm ngùi trước quy luật nghiệt ngã của thời gian Với sự thức tỉnh ý thức cá nhân sâu sắc, nhà thơ cảm nhận hơn ai hết một sự thật đáng buồn: tuổi trẻ chhawngr hai lầm thấm lại cho dù
Trang 2mùa xuân của đất trời vẫn cứ tuần hoàn, ngày hôm nãy đã khác ngày hôm qua, huống chi năm này với năm khác, xuân thì vô hạn còn tuổi trẻ mỗi người đều có giới hạn Như triết học đã từng khẳng định:
“Không ai tắm hai lầm trên một dòng sông.”
Bởi vậy, Xuân Diệu đãnhận thức về thời gian tuyến tính “Trời đất, còn” là sự vĩnh hằng, vô tận, vĩnh cửu “Tôi chẳng còn” là ý thức về sự chảy trôi của thời gian, đời người nhất là quãng thời gian tuổi trẻ thật ngắn ngủi và hữu hạn Từ cảm nhận về thời gian tuyến tinh nên với con mắt của một nhà thơ mới luôn nhìn đời bằng cặp mắt xanh non, biếc vờn, say xưa trong bức tranh mùa xuân ở đoạn đầu thì đến đoạn thơ này thiên nhiên chuyển hóa từ hợp thành tan Tính từ, từ láy “bâng khuâng” và tính từ “tiếc” đã cho thấy tâm trạng bâng khuâng, tiếc nuối, bất lực của thi nhân khi ý thức được sự hữu hạn của thời gian Tóm lại, ta thấy được quan niệm về thời gian mới mẻ của nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới
Với tâm trạng bâng khuâng, tiếc nuối, giọng thơ không còn say mê, náo nwucs, vội vàng như trước mà trầm lắng:
“Mùa tháng năm đều rơm rớm vị chia phôi, Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt
Cơn gió xinh thì thào trong gió biếc, Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chỉm rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi.
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?”
Biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác và nhân hóa “mùa tháng năm” khiến mùi tháng năm như có mùi, có vị của sự chia phôi Thời gian được cảm nhận bằng khứu giác: “mùi tháng năm” – thời gian của Xuân Diệu được làm bằng hương Từ khứu giác, tác giả đã chuyển qua thị giác qua từ “rớm”
“Rớm” gợi ta nhắc đến hình ảnh giọt lê đang rơm rớm nước mắt trước sự chia phôi Nó như cứa vào da thịt con người khi không níu giữa được thời gian Ngoài ra, tác giả còn sử dụng vị giác qua
từ “vị chia phôi” Thời gian vốn vô hình, không mùi, không vị, đi vào thơ Xuân Diệu bỗng có mùi,
có vị chia phôi Đó chính là cái mới của nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới Tràn ngập không gian sông núi rộng lớn là âm thanh “than thầm tiễn biệt” của tạo vật Đó là những hình ảnh “gió xinh” thì thào trong lá biếc, âm thành của “chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi” đã cho thấy một lẽ thường của tạo hóa, một quy luật trần thế vạn vật đều không thể tránh khỏi Có lẽ chúng đều sợ thời gian chảy trôi, sợ những chia lìa, nước mắt, sợ sự phai tàn, héo úa Kết hợp sử dụng kết cấu lặp cú pháp trong câu hỏi tư từ “Phải chăng ?” như một niềm xót xa, tiếc nuối về sự chảy trôi của thời gian Qua đó, ta thấy được tâm trạng lo lắng cho sự phai tàn sắp sửa của tạo vật
Không thể buộc gió, không thể tắt nắng, không thể giữ thời gian, thi sĩ bỗng thốt lên:
“Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa ”
Giải pháp cho tâm trạng của thi nhân trước thời gian khép lại đoạn thơ là câu cảm thán dồn dập kết hợp với điệp ngữ “chẳng bao giờ”, thán từ “ôi” đã diễn tả tâm trạng tiếc nuối đến thẫn thờ, chất
Trang 3chứa bao cảm xúc, bâng khuâng, lưu luyến trước đời người, cuộc sống, gợi nỗi ám ảnh về số phận mong manh, chống tàn lụi của tuổi xuân Nhịp thơ gấp gáp trong câu cuối như một lời giục giã sống thật mãnh liệt Vì thế, nhà thơ “giục giã” chúng ta phải nhanh lên, vội vàng để tận hưởng cuộc đời, tuổi trẻ khi mà “mùa chưa ngả chiều hôm”, khi mà xuân non, xuân chưa già Tóm lại, ta thấy được giá trị nhân sinh tích cực và nhân văn cao đẹp của một hồn thơ khát khao giao cảm với đời