Bức tranh thiên nhiên chiều tối được miêu tả với những nét chấm phá ước lệ, đặc trưng của thơ cổ điển chỉ với hai hình ảnh là “cánh chim” và “áng mây” quen thuộc, gần gũi đã từng xuất hiện trong ca dao: “Chim bay về núi tối rồi” hay trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du: “Chim hôm thoi thót về rừng”. Trong thơ của Bác, cánh chim đang mỏi mệt về rừng tìm chốn ngủ, vừa khắc họa không gian vừa gợi bước đi của thời gian. Nếu như trong thơ xưa, hình ảnh cánh chim thường mang tính ước lệ, chung chung, gợi cảm giác xa xăm, phiêu bạt thì “chim mỏi” trong thơ , nó chỉ là cánh chim tìm về tổ ấm sau một ngày dài mỏi mệt kiếm ăn. Nhà thơ nhìn thấy được sự vận động bên trong của cánh chim, thấy được trong dáng bay của cánh chim có sự mỏi mệt của nó. Đồng cảm giống như người tù Hồ Chí Minh sau một ngày dài lê bước trên đường chuyển lao. Qua đó, ta thấy trong ý thơ có sự hòa hợp giữa người tù và thiên nhiên. Ở bản phiên âm, Bác viết: “Cô vân mạn mạn độ thiên không” nhưng bản dịch thơ đã làm mất đi chữ “cô” trong nguyên tác và nhịp bay chầm chậm, lững lờ của đám mây gợi lên qua từ “mạn mạn”. Câu thơ thứ hai mang đậm nét Đường thi và rất gần với câu thơ: “Cô vân độc khứ nhàn” của Lí Bạch. Hình ảnh chòm mây cô độc trôi giữa bầu trời đã trở thành hình ảnh quen thuộc trong thơ xưa, nó thường gợi lên cái cô độc thanh cao, thoát tục và nỗi khắc khoải của con người. Còn trong bài “Chiều tối”, hình ảnh chòm mây cô độc trôi nhè nhẹ qua bầu trời tạo nên cái không gian cao rộng của cảnh trời chiều, càng làm nổi bật lên sự yên ắng, êm ả của buổi chiều tối nơi rừng núi. Không những vậy, nó gợi lên hình ảnh người tù nơi đất khách quê người cô đơn, lẻ loi, băn khoăn, trăn trở, không biết tương lai sẽ đi về đâu. Ẩn sau bức tranh thiên nhiên là tâm trạng và bức chân dung của người tù, nhà thơ chiến sĩ Hồ Chí Minh trong hoàn cảnh chuyển lao đã từng xuất hiện trong thơ Bác:
Trang 1“Vần thơ của Bác vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”
Đó là lời nhận xét khái quát về phong cách sáng tác của Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ tài ba của dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, một nhà văn, nhà thơ lớn Trong cuộc đời cách mạng
đầy khó khăn, gian khổ, Bác đã để lại nhiều áng thơ văn sâu sắc Đặc biệt là bài thơ “Chiều tối” – bài thơ thứ 31 trong tập “Nhật kí trong tù”, được sáng tác năm 1942, trên đưởng chuyển lao từ Tĩnh
Tây đến Thiên Bảo Bài thơ đã cho thấy tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, ý chí vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt của nhà thơ chiến sĩ Hồ Chí Minh Đồng thời, ta thấy được sự kết hợp giữa chất thép và chất tình trong thơ Bác
“Chiều tối” là bài thơ tiêu biểu cho nội dung và nghệ thuật của tập “Nhật kí trong tù”
-tập thơ được Bác sáng tác khi bị bắt giam vô cớ bởi chính quyền Tưởng Giới Thạch khi Bác sang Trung Quốc tranh thủ sự viện trợ quốc tế Tập thơ vừa phản ảnh hiện thực nhà tù Tưởng Giới Thạch vừa là bức chân dung tinh thần tự họa của nhà thơ
Mở đầu bài thơ là khung cảnh thiên nhiên lúc chiều tối:
"Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không."
("Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ, Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không;")
Bức tranh thiên nhiên chiều tối được miêu tả với những nét chấm phá ước lệ, đặc trưng của thơ cổ điển chỉ với hai hình ảnh là “cánh chim” và “áng mây” quen thuộc, gần gũi đã từng xuất hiện trong
ca dao:
“Chim bay về núi tối rồi”
hay trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du:
“Chim hôm thoi thót về rừng”
Trong thơ của Bác, cánh chim đang mỏi mệt về rừng tìm chốn ngủ, vừa khắc họa không gian vừa gợi bước đi của thời gian Nếu như trong thơ xưa, hình ảnh cánh chim thường mang tính ước lệ, chung chung, gợi cảm giác xa xăm, phiêu bạt thì “chim mỏi” trong thơ , nó chỉ là cánh chim tìm về
tổ ấm sau một ngày dài mỏi mệt kiếm ăn Nhà thơ nhìn thấy được sự vận động bên trong của cánh chim, thấy được trong dáng bay của cánh chim có sự mỏi mệt của nó Đồng cảm giống như người
tù Hồ Chí Minh sau một ngày dài lê bước trên đường chuyển lao Qua đó, ta thấy trong ý thơ có sự
hòa hợp giữa người tù và thiên nhiên Ở bản phiên âm, Bác viết: “Cô vân mạn mạn độ thiên không”
nhưng bản dịch thơ đã làm mất đi chữ “cô” trong nguyên tác và nhịp bay chầm chậm, lững lờ của đám mây gợi lên qua từ “mạn mạn” Câu thơ thứ hai mang đậm nét Đường thi và rất gần với câu
thơ: “Cô vân độc khứ nhàn” của Lí Bạch Hình ảnh chòm mây cô độc trôi giữa bầu trời đã trở thành
hình ảnh quen thuộc trong thơ xưa, nó thường gợi lên cái cô độc thanh cao, thoát tục và nỗi khắc
khoải của con người Còn trong bài “Chiều tối”, hình ảnh chòm mây cô độc trôi nhè nhẹ qua bầu
trời tạo nên cái không gian cao rộng của cảnh trời chiều, càng làm nổi bật lên sự yên ắng, êm ả của buổi chiều tối nơi rừng núi Không những vậy, nó gợi lên hình ảnh người tù nơi đất khách quê
Trang 2người cô đơn, lẻ loi, băn khoăn, trăn trở, không biết tương lai sẽ đi về đâu Ẩn sau bức tranh thiên nhiên là tâm trạng và bức chân dung của người tù, nhà thơ chiến sĩ Hồ Chí Minh trong hoàn cảnh chuyển lao đã từng xuất hiện trong thơ Bác:
“Năm mươi ba cây số một ngày,
Áo mũ dầm mưa, rách hết giày”
Người tù trên hành trình giải lao đầy gian khổ, khắc nghiệt nên có lúc Bác mệt mỏi, muốn dừng chân nghỉ ngơi như chòm mây
trôi chậm, cô đơn, như cánh chim muốn tìm về tổ ấm, về tổ quốc, quê hương Từ bức tranh thiên nhiên, ta thấy nổi bật là chân dung, phong thái của một nhà thơ ung dung, tự tại mang dáng vẻ của một nhà hiền triết phương Đông rất cổ điển, truyền thống Và ta cũng như thấy vẻ đẹp của một tâm hồn, người tù chiến sĩ cách mạng với ý chí phi thường, nghị lực kiên cường vượt hoàn cảnh để khao khát tìm kiếm tự do trên bầu trời, để có cái nhìn nâng niu, trìu mến một cánh chim trời, một ánh mây trôi đến vậy Phải là một người yêu thiên nhiên, cuộc sống thì Bác mới có thể vẽ lên bức tranh thiên nhiên giản dị, chân thực, đồng điệu đến như vậy Hai câu thơ đầu là bức tranh thiên nhiên tả cảnh ngụ tình, thấm đượm nỗi buồn của người tù nơi đất khách quê người Qua đó, thể hiện bản lĩnh kiên cường, chất thép, ý chí nghị lực, tình yêu thiên nhiên của nhà thơ Hồ Chí Minh
Nếu như 2 câu đầu là khung cảnh thiên nhiên thì 2 câu kết là bức tranh đời sống con người:
"Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc, Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng."
Dịch thơ:
"Cô em xóm núi xay ngô tối, Xay hết, lò than đã rực hồng."
Câu thơ nguyên bản “Sơn thôn thiếu nữ” dịch là “Cô em xóm núi” đã không thể hiện được cái nhìn trân trọng, giọng điệu kính trọng của tác giả Người phụ nữ đã nhiều lần có mặt trong thơ chữ Hán, nhưng phần lớn người phụ nữ đều mang nỗi buồn thương man mác vì chiến tranh sinh ly tử biệt hay lỡ dỡ tình duyên Cũng là viết về hình ảnh người phụ nữ nhưng thơ Bác lại viết về người dân lao động với cái nhìn trân trọng, yêu thương mang niềm vui của tấm lòng nhân đạo.Thơ xưa thường
đề cao thiên nhiên, lấy thiên nhiên làm trung tâm như bài “Qua đèo ngang” của Bà Huyện Thanh Quan:
“Lom khom dưới núi, tiều vài chú Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.”
Ở đó, con người thường ẩn mình đi, hình ảnh con người chỉ càng làm tôn thêm cái hùng vĩ, hoang
sơ của đất trời thiên nhiên Còn ở bài “Chiều tối”, hình ảnh cô gái xay ngô, hình ảnh con người nổi bật lên là trung tâm của phong cảnh thiên nhiên Hai chữ “thiếu nữ” gợi lên vẻ trẻ trung, tươi tắn của cô gái với nghệ thuật láy âm vắt dòng “ma bao túc, bao túc ma hoàn” kết hợp nhịp thơ 2/3, câu thơ đã thể hiện nhịp nhàng vòng quay của cối xay ngô, vừa thể hiện dòng lưu chuyển của thời gian vừa thể hiện vẻ đẹp khỏe khoắn của người lao động Qua đó, ta thấy được niềm hứng khởi của nhà thơ trước vẻ đẹp cuộc sống, sự đồng cảm và sẻ chia với người lao động Cả bài thơ không hề có
Trang 3chữ “tối” nhưng tất cả hình ảnh đều thể hiện chiều tối Cô gái xay ngô từ khi trời còn ánh sáng; xay xong thì trời đã tối Thời gian đang vận động, đang xoay theo từng vòng quay của cối xay ngô Vòng quay của chiếc cối chấm dứt, công việc kết thúc (bao túc ma hoàn) thì lò than cũng vừa đỏ (lô dĩ hồng), ánh lửa đỏ ấm nồng xuất hiện thật bất ngờ, tỏa sáng vào đêm tối xua tan đi cái lạnh lẽo hiu hắt của núi rừng Đó cũng là lúc mà cô gái được quây quần bên mâm cơm ấm cúng của gia đình Hình ảnh “lô dĩ hồng” là điểm sáng, được coi là nhãn tự của bài thơ Hoàng Trung Thông
nhận xét rằng: “Với một chữ “hồng”, Bác đã làm sáng rực lên toàn bộ bài thơ, đã làm mất đi sự mệt mỏi, sự uể oải, sự vội vã, sự nặng nề đã diễn ra trong ba câu đầu, đã làm sáng rực lên khuôn mặt của cô em sau khi xay xong ngô tối Với chữ “hồng” đó có ai còn cảm giác nặng nề, mệt mỏi, nhọc nhằn nữa đâu, mà chỉ thấy màu đỏ đã nhuốm lên cả bóng đêm, cả thân hình, cả lao động của cô gái đáng yêu kia Đó là màu đỏ tình cảm Bác.” Từ đó, ta thấy chữ “hồng” ấy chính là niềm
lạc quan, ý chí, bản lĩnh kiên cường của người tù cách mạng luôn vận động hướng về ánh sáng, tương lai Khép lại hai câu thơ cuối, ta thấy được vẻ đẹp của bức trang sinh hoạt và vẻ đẹp tâm hồn Bác: dù hoản cảnh khắc nghiệt đến đâu vẫn luôn hướng về sự sống và ánh sáng
Bài thơ “Chiều tối” đã cho thấy sự hài hòa của chất thép và chất tình Chất thép là tinh thần chiến đấu, dũng khí kiên cường của người chiến sĩ Chất tình là tình yêu thắm thiết với thiên nhiên, con người, cuộc sống “Chiều tối” đã cho thấy tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống và vẻ đẹp tâm hồn Bác: dù hoản cảnh khắc nghiệt đến đâu vẫn luôn hướng về sự sống và ánh sáng Tác phẩm
là một thành công lớn không chỉ nội dung mà cả về nghệ thuật: thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đường luật mang tính hàm súc cao, ý tại ngôn ngoại; bút pháp chấm phá ước lệ tượng trưng, bút pháp tả cảnh ngụ tình giản dị, chân thật, hình ảnh mộc mạc, dân dã, đời thường, mạch thơ luôn vận động hướng tới ánh sáng, tương lai Bài thơ có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất thép, chất tình trong từng vần thơ, từng hình ảnh thơ Tất cả đã góp phần tạo nên giá trị nhân đạo của tác phẩm, tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống của tác giả
Tóm lại, “Chiều tối” đã cho thấy tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, ý chí vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt của nhà thơ chiến sĩ Hồ Chí Minh Đồng thời, ta thấy được sự kết hợp giữa vẻ đẹp
cổ điển và hiện đại trong bài thơ