2.2.1. Ô nhiễm nguồn nước do nước thải sinh hoạt
Nước thải là hệ quả tất yếu của việc sử dụng nước trong sinh hoạt. Với tốc độ gia tăng dân số nhanh, nước thải từ các hoạt động của người dân cũng gia tăng.
Lượng nước thải này rất lớn, nhưng không được thu gom và xử lý triệt để. Ở trên địa bàn huyện hiện tại chưa có hệ thống thu gom nước thải sinh hoạt, toàn bộ lượng thải đều chảy trực tiếp ra sông, kênh, rạch hoặc tự thấm vào đất. Thành phần nước thải sinh hoạt bao gồm chủ yếu là các chất cặn bã, các chất hữu cơ hòa tan (thông qua các chỉ tiêu BOD,COD) và các chất dinh dưỡng (thông qua các chỉ tiêu N,P).
Ngoài ra, còn có sự hiện diện của dầu mỡ, các chất hoạt động bề mặt, các vi khuẩn và vi trùng gây bệnh.
Do tập quán sinh hoạt vùng nông thôn, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn, thu nhập của khu vực nông thôn còn thấp, điều kiện vật chất còn nghèo nàn nên người dân có thói quen sinh hoạt không hợp vệ sinh, số hộ xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh còn thấp. Tình trạng sử dụng cầu tiêu ao cá vẫn còn khá phổ biến ở các hộ gia đình như: làm nhà vệ sinh trên sông, rạch gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường, nhất là vào mùa mưa, khi nước lũ dâng cao, đây cũng là một vấn đề đáng quan tâm trong nước thải sinh hoạt ở nông thôn. Vì sau khi xả thải vào kênh, rạch nội đồng thì nguồn nước này lại tiếp tục được lấy lên cung cấp cho sinh hoạt. Do đó bệnh tật có điều kiện để lây lan và gây ô nhiễm môi trường. Nước thải không được xử lý chảy vào sông rạch và ao hồ gây thiếu hụt oxy làm cho nhiều loại động vật và cây cỏ không thể tồn tại.
Hình 2.11: Hiện trạng mô hình cầu cá.
52 Hình 2.12: Tình hình xả thải nước thải sinh hoạt của người dân
2.2.2. Ô nhiễm do hoạt động công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các lảng nghề thường được xây dựng cặp theo hai bên bờ sông.
Việc hình thành ở những vị trí này thuận lợi cho giao thông thủy nhưng tạo ra rất nhiều bất lợi cho môi trường sinh thái, chiếm nhiều diện tích đất canh tác nông nghiệp màu mỡ, chất thải từ các hoạt động sản xuất dễ dàng xả thải vào các lưu vực.
Nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải. Khác với nước thải sinh hoạt hay nước thải đô thị, nước thải công nghiệp không có thành phần cơ bản giống nhau, mà phụ thuộc vào ngành sản xuất công nghiệp cụ thể. Tuy nhiên, các cơ sở sản xuất tham gia phát triển công nghiệp nhưng chưa nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường, sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Hầu hết các cơ sở sản xuất không có hệ thống xử lý chất thải, đặc biệt là nguồn nước thải. Quy hoạch cơ cấu không đồng bộ, thiếu hài hòa cân đối giữa các nghành, trình độ trang thiết bị lạc hậu, năng lực cạnh tranh hạn chế, ít quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm môi trường nước trên địa bàn các Huyện.
53 Hình 2.13: Hiện trạng hoạt động các cơ sở sản xuất dọc hai bên bờ sông.
Trên thực tế, các làng nghề, cơ sở sản xuất nhỏ lẻ hầu như không có hệ thống xử lý nước thải cũng như chất thải mà xả thẳng ra kênh, rạch gần đó. Đây chính là nguyên nhân gây ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng môi trường nước tại các nhánh kênh, rạch chảy vào sông Ba Lai, làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nước sông.
2.2.3. Ô nhiễm do hoạt động nông nghiệp và chăn nuôi
Hoạt động chăn nuôi rất phổ biến trong các hộ gia đình ở khu vực nông thôn, nó mang lại lợi ích và cải thiện kinh tế cho người dân. Tuy nhiên hiện nay, việc chăn nuôi ở địa bàn các Huyện gây ra nhiều vấn đề vệ sinh môi trường, do nước thải từ quá trình chăn nuôi chứa nhiều chất ô nhiễm và vi trùng gây bệnh chưa được quan tâm đúng mức. Khả năng lan truyền các chất ô nhiễm trong môi trường nước nhanh và rộng hơn so với môi trường đất, môi trường khí. Lượng chất thải này tuy đã được khuyến khích xử lý bằng biogas nhưng do ý thức người dân thấp, khả năng đầu tư cho chăn nuôi của các Huyện còn hạn chế nên hiệu quả không cao.
Môi trường nông nghiệp nông thôn trên địa bàn các huyện đang chịu sức ép ô nhiễm ngày càng lớn từ việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật bừa bãi, không đúng kỹ thuật, gây ô nhiễm môi trường nước, đất. Bên cạnh đó, việc lạm dụng phân bón hóa học nhằm nâng cao năng suất cây trồng cũng đã để lại một lượng tồn dư trong đất khá lớn. Hoạt động trồng trọt trong những năm gần đây có sản lượng cây trồng gia tăng và các loại hóa chất bảo vệ thực và các loại phân bón hóa học được sử dụng ngày càng giảm. Tuy nhiên, tình trạng sử dụng tùy tiện vẫn còn khá phổ biến. Nếu
54 tình trạng này không khắc phục được, không tuân thủ theo yêu cầu kỹ thuật canh tác như hiện nay sẽ gây ảnh hưởng lớn tới môi trường.
Hình 2.14: Ao nuôi vịt của một hộ gia đình
Nguồn nước ở vùng nông nghiệp không những ô nhiễm hữu cơ do phân bón, nước thải sinh hoạt mà còn do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Hiện nay trên địa bàn tỉnh, việc quản lý thuốc bảo vệ thực vật còn chưa được tốt, không kiểm soát được các loại thuốc cấm, thuốc ngoài danh mục nên xảy ra tình trạng sử dụng bừa bãi, gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường và nhất là môi trường nước. Ngoài ra, phần lớn các loại chai, lọ chứa đựng thuốc trừ sâu, TBVT sau khi sử dụng người dân thải bỏ trực tiếp ra môi trường mà không có biện pháp xử lý loại chất thải độc hại này, nhất là thải ra các kênh rạch gần nhà, việc này làm pha loãng lượng thuốc trừ sâu, TBVTV còn sót lại vào nguồn nước gây ô nhiễm, ảnh hưởng đến chất lượng sống của các loài sống rong nước, giảm tính đa dạng sinh học, và đại bộ phận người dân trện địa bàn huyện ở các vùng gần kênh rạch sử dụng nguồn nước này để sinh hoạt, như vậy nguồn nước mang các chất độc hại sẽ tác động đến sức khỏe của người dân, gây các bệnh về da, đường ruột…
55 Hình 2.15: Thực trạng xả thải từ hoạt động chăn nuôi và trồng lúa
2.2.4. Ô nhiễm do hoạt động nuôi trồng thủy sản
Hoạt động nuôi trồng thủy sản và khai thác thủy hải sản đã có những bước phát triển mạnh. Tuy nhiên, chính hoạt động này đã làm gia tăng lượng chất thải vào nguồn nước. Hoạt động khai thác thủy sản quá mức và không hợp lý trong thời gian khá dài đã làm cho sản lượng khai thác hàng năm giảm, nhiều giống loải thủy sản đang dần cạn kiệt. Thêm vào đó, hoạt động nuôi trồng thủy sản ồ ạt và thiếu kiểm soát chặt chẽ đối với chất thải đã làm gia tăng lượng chất thải vào môi trường nước tại địa phương gây ảnh hưởng đến các loài thủy sinh.
Nguyên nhân là do thức ăn, nước trong hồ, ao nuôi lâu ngày bị phân hủy không được xử lý tốt mà xả ra sông, kênh rạch gây ô nhiễm nguồn nước. Các chất thải nuôi trồng thủy sản là nguồn thức ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy, các chất tồn dư sử dụng như hóa chất và thuốc kháng sinh, vôi và các loại khoáng chất. Chất thải ao nuôi công nghiệp có thể chứa đến trên 45% Nitrogen và 22% là các chất hữu cơ khác, là nguồn có thể gây ô nhiễm môi trường và dịch bệnh thủy sản phát sinh trong môi trường nước.
56 Hình 2.16: Hiện trạng nuôi trồng thủy sản tại các xã dọc sông Ba Lai.
2.2.5. Ô nhiễm do hoạt động xây dựng và giao thông thủy lợi
Trong những năn gần dây, để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế, tốc độ phát triển ngành xây dựng khu vực cũng khá cao. Sự phát triển này tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa nhưng kéo theo những áp lực rất lớn đối với môi trường. Các huyện chưa có quy hoạch xây dựng đồng bộ , cơ chế quản lý xây dựng của địa phương chưa chặt chẽ tạo cơ hội cho việc xây dựng tràn lan, gây ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và chất lượng môi trường
Hình 2.17: Hiện trạng hoạt động giao thông thủy
57