1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

kl huynh thi kim ngan

136 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn cử nhân Xã hội học “Định hướng giá trị của sinh viên đang học tập tại TP.HCM hiện nay” mặc dù không đi sâu phân tích về những giá trị truyền thống của dân tộc nhưng đã đề cập đ

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Việt Nam bước vào thế kỷ XXI- thế kỷ của nền văn minh tri thức – với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin và các tiến bộ khoa học kỷ thuật Trong bối cảnh đó, thanh niên nói chung và sinh viên nói riêng ngày càng có một vị trí và vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của dân tộc Họ không chỉ đơn thuần là một chủ nhân tương lai của đất nước mà hơn thế, chính họ sẽ là lực lượng chủ yếu, tiên phong chiếm giữ những tri thức khoa học tiên tiến để đưa đất nước đi lên cùng với sự phát triển chung của nhân loại Điều đó đặt ra yêu cầu đòi hỏi sinh viên cần phải tích cực lao động và học tập để đón nhận và đảm trách được sứ mệnh lịch sử của mình trước những thời cơ và thách thức mới

Tuy nhiên, bên cạnh việc trang bị cho mình những tri thức khoa học hiên đại, sinh viên còn cần đến những điều hết sức quan trọng - đó chính là các giá trị truyền thống dân tộc Thực tế cho thấy dân tộc ta khó có thể có một tương lai phát triển nếu không dựa trên nền tảng những gì mà ta có được trong quá khứ Bản thân thanh niên, sinh viên Việt Nam cũng khó có thể đi lên, làm chủ đất nước trong bối cảnh của sự mở cửa, giao lưu, hội nhập quốc tế nếu họ không giữ vững được trong mình những giá trị truyền thống được coi là bản sắc của người Việt

Trong bối cảnh hiện nay, với thực hiện nền kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế, sự xâm nhập của nhiều giá trị và cả phản giá trị đã và đang có tác động mạnh mẽ đến lối sống, cách nghĩ của sinh viên, đặc biệt là đến cách nhìn nhận và thái độ của họ đối với các giá trị truyền thống Mặc dù bản thân sinh viên được đón nhận khá nhiều sự giáo dục về tri thức, về văn hóa, đạo đức trong nhà trường và ngoài xã hội Nhưng do ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai và sự quá coi trọng đồng tiền trong điều kiện kinh tế thị trường nên một bộ phận không nhỏ trong họ đã không còn gìn giữ được những tố chất của mình, sa vào nhiều tệ nạn xã hội và lối sống sai lầm, buông thả Thậm chí có người còn có tư tưởng quay lưng lại với quá khứ, với những giá trị truyền thống Những hiện tượng đó khiến cho không ít người bắt đầu hoài nghi vào thế hệ tương lai của đất nước Họ e ngại

Trang 2

thanh niên nói chung, sinh viên nói riêng có thể đánh mất những giá trị truyền thống tốt đẹp của người Việt và chạy theo những giá trị đã bị “Tây hóa” Nói chung một cách công bằng và khách quan, sinh viên hiện nay đã và đang có những nhận thức

và biểu hiện đối với một số giá trị truyền thống khác với những quy chuẩn của nhiều thế hệ đi trước Đồng thời, một bộ phận không nhỏ sinh viên đã có những nhận thức lệch lạc, xa rời lý tưởng và truyền thống của dân tộc Tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng phần lớn sinh viên vẫn giữ được những phẩm chất truyền thống nhưng với những biểu hiện khác đi Ta vẫn bắt gặp hình ảnh các sinh viên tình nguyện đi đến vùng sâu, vùng xa dạy chữ và giúp người dân nông thôn làm đường, dựng nhà Ta còn bắt gặp trong những ngày hè oi ả, không ít sinh viên đứng ở các ngã ba, ngã tư đường phố hỗ trợ cảnh sát phân luồng giao thông v.v…Ta có thể kể

ra rất nhiều những ví dụ như vậy để nhận thấy rằng mặc dù thái độ và biểu hiện của sinh viên hiện nay đối với môt số giá trị truyền thống của người Việt Nam có sự khác biệt so với cha ông nhưng đó mới chỉ là sự “khác biệt” chứ không phải là

“đánh mất” và sự khác biệt đó không phải là hoàn toàn tiêu cực Trong nhiều trường hợp, nó thể hiện sự nhạy bén, tích cực và cần thiết đối với con người trong thời đại mới Chính vì vậy, luận văn nghiên cứu “Nhận thức và thái độ của sinh viên đối với một số giá trị truyền thống dân tộc trong điều kiện hiện nay” không đi sâu về mặt lý luận vì đã có nhiều công trình nghiên cứu về giá trị nói chung, và giá trị truyền thống nói riêng Tác giả của luận văn chỉ hy vọng nghiên cứu này có thể mô tả được thực trạng nhận thức, thái độ và hoạt động thực tiễn của sinh viên đối với giá trị truyền thống dân tộc Từ đó đề xuất một số giải pháp định hướng cho sinh viên đối với giá trị truyền thống trong điều kiện hiện nay

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Đã có nhiều bài viết của nhiều nhà khoa học đề cập đến lĩnh vực này Song, tất cả đều mang ý nghĩa lí luận khoa học được đăng trên một số sách, báo, tạp chí khoa học Trong đó tiêu biểu là:

“Gia đình, trẻ em và sự kế thừa các giá trị truyền thống”, tác giả Đặng

Cảnh Khanh, NXB Lao động xã hội, Hà Nội, 2003, đã tập trung phân tích các giá trị

Trang 3

truyền thống nhưng ở một khía cạnh khác – đó là nhấn mạnh tới vai trò của gia đình đối với việc giáo dục giá trị truyền thống Nghiên cứu này đi sâu nghiên cứu vị trí vai trò của gia đình cùng với những mối quan hệ của nó tới hiện đại Qua đó tác giả làm rõ sự biến đổi của gia đình và những chuẩn mực của gia đình dưới tác động của

sự thay đổi các điều kiện kinh tế - xã hội Nghiên cứu không chỉ khẳng định vai trò

to lớn của gia đình trong việc bảo lưu, giáo dục giá trị này cho thanh thiếu niên mà còn đưa ra một số giải pháp tăng cường vai trò của gia đình đối với việc giáo dục giá trị truyền thống cho thanh thiếu niên trong điều kiện hiện nay Tuy nhiên, nghiên cứu của ông chủ yếu hướng tới đối tượng thanh thiếu niên nói chung mà không đi sâu , quan tâm cụ thể đến sinh viên – một đối tượng đang có những thay đổi sâu sắc và là tầng lớp đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước trong nền kinh tế tri thức hiện nay Hơn nữa tác giả Đặng Cảnh Khanh chỉ đi sâu vào yếu tố gia đình mà ít đề cập đến các yếu tố khác cũng không kém phần quan trọng đến việc nhận thức của sinh viên hiện nay đối với các giá trị truyền thống dân tộc

“Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề văn hóa” - Ban tư tưởng văn hóa Trung

Ương, Hà Nội, 2003 Những giá trị tinh thần được tác giả đi sâu nghiên cứu đó là: Chủ nghĩa tập thể,lao động tự giác và sáng tạo, chủ nghĩa yêu nước kết hợp với chủ nghĩa quốc tế, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản Những nguyên tắc này là một trong những cơ sở để tác giả lựa chọn những tiêu chí nghiên cứu về các giá trị truyền thống dân tộc

Trong cuốn: “Định hướng giá trị của sinh viên – con em cán bộ khoa học”

NXB đại học Quốc Gia – Hà Nội, 2001 của TS Vũ Hào Quang nghiên cứu này cho thấy vai trò và tác động của các giá trị đến thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay Tuy nhiên

đề tài chỉ tìm hiểu định hướng giá trị nghề nghiệp, việc làm, gia đình… của sinh viên nói chung và các sinh viên là con em cán bộ khoa học nói riêng, mà ít quan tâm tới nhận thức, thái độ của sinh viên đối với các giá trị truyền thống của dân tộc

“Nhận thức chính trị, đạo đức, lối sống của sinh viên; những khuynh hướng và các yếu tố ảnh hưởng” được viết dưới dạng Luận văn cử nhân xã hội học

Trang 4

của sinh viên Nguyễn Huy Hường, trường ĐH BC Tôn Đức Thắng, 2003 Đề tài đã

đề cập đến nhận thức về chính trị, đạo đức, lối sống của sinh viên hiện nay Trong phần nhận thức của sinh viên về vấn đề đạo đức có nói đến những giá trị truyền thống như lòng yêu nước, tình yêu, hôn nhân và gia đình, lòng hiếu nghĩa, tình đoàn kết…Đây cũng là những cơ sở để tác giả luận văn lựa chọn những tiêu chí để phục

vụ cho việc nghiên cứu đề tài này

Bài viết “ Nhận thức của sinh viên sư phạm về các giá trị truyền thống trong học tập” của tác giả Nguyễn Văn Bắc đăng trên Tạp chí Tâm lý học (trang

43,số 3, 2006 ) cũng quan tâm đến nhận thức của sinh viên hiên đối với giá trị truyền thống dân tộc nhưng trong lĩnh vực học tập Ở đây, những giá trị truyền thống được tác gỉa quan tâm là những giá trị rất tiêu biểu trong hệ giá trị truyền thống của dân tộc như lòng thân ái, đoàn kết giúp đỡ nhau trong học tập

Luận văn cử nhân Xã hội học “Định hướng giá trị của sinh viên đang học tập tại TP.HCM hiện nay” mặc dù không đi sâu phân tích về những giá trị truyền

thống của dân tộc nhưng đã đề cập đến một số giá trị khác của sinh viên hiện nay như các giá trị sống, đạo đức, nghề nghiệp, hoạt động vui chơi giải trí, học tập…Những nội dung này cho chúng ta nhận biết thêm về một số giá trị của sinh viên trong điều kiện hiện nay, từ đó có cơ sở đối chiếu , so sánh với các giá trị truyền thống

Công trình nghiên cứu của tác gỉa Trần Văn Giàu về “Gía trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam”( NXB Khoa học Xã Hội, 1980) Trong cuốn

sách này tác giả đã phân tích sự vận động của các giá trị truyền thống dân tộc qua các giai đoạn thăng trầm của lịch sử Những giá trị tinh thần dân tộc mà tác giả Trần Văn Giàu nghiên cứu là những nền tảng khá hữu ích cho việc tiếp cận vấn đề

nghiên cứu về Nhận thức, thái độ của sinh viên hiện nay đối với một số giá trị

truyền thống dân tộc

Cuốn sách “Bản sắc dân tộc trong lối sống hiện đại” của tác giả Lê Như

Hoa, NXB Văn Hóa – Thông Tin Trong chương 3 tác giả đã đề cập đến vấn đề

“Lối sống của gia đình – sự chuyển tiếp từ văn hóa gia đình truyền thống đến văn

Trang 5

hóa gia đình hiện đại.” Tác giả đã nêu lên một số giá trị truyền thống của gia đình

nhưng những giá trị đó vẫn còn cần thiết cho đời sống gia đình hiện đại như: sự chung thủy giữa vợ và chồng, lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, lòng kính trọng, biết ơn của thế hệ trẻ đối với ông bà, tổ tiên Và tác giả cũng đã nêu lên một

số mối quan hệ gia đình trong bối cảnh hiện nay như quan hệ giữa vợ - chồng phải được xây dựng trên cơ sở tình yêu lứa đôi hòa hợp với lối sống văn hóa gia đình, quan hệ giữa cha mẹ và con cái là quan hệ hai chiều, quan hệ giữa anh, chị, em với nhau trong gia đình là quan hệ ruột thịt trong cùng một tổ ấm mà mỗi người đều có bổn phận và trách nhiệm đối với nhau Mặc dù tác giả chỉ đề cập đến một số giá trị truyền thống gia đình nhưng đó cũng là những cơ sở để tác giả luận văn làm nền móng cho luận văn của mình

Sách: “Một số vấn đề về đạo đức, lối sống, chuẩn mực giá trị xã hội” của

GS.TSKH Huỳnh Khái Vinh, năm 2001 Qua điều tra nghiên, cứu tác giả cho rằng khi kinh tế đất nước phát triển do chính sách mở cửa hội nhập với thế giới, phát huy mọi tiềm năng của cá nhân thì nhu cầu, thị hiếu của mỗi người cũng như khả năng lựa chọn, mức sống được nâng lên và do đó lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội

sẽ phải thay đổi tương ứng với điều kiện kinh tế

Đồng thời tác giả cũng cho rằng: kinh tế thị trường đã đặt mọi đối tượng dưới quan niệm hàng hóa hay có tính chất hàng hóa, đặt mối quan hệ trong đó có lối sống, đạo đức vào mối tương quan mua bán sòng phẳng Đất nước phải tham gia vào quá trình phát triển kinh tế thế giới thì mới có thể tồn tại và đi lên Mọi cá nhân

dù muốn hay không, một khi quá trình này đã khởi động thì không ai có thể đứng ngoài nó, mọi người đều phải chịu sự chi phối của qúa trình này Ngoài những lợi ích mà nó mang lại, chúng ta không thể phủ nhận rằng nếu không tỉnh táo ta sẽ ngày càng bị cuốn hút vào vòng xoay cạnh tranh, sự lệ thuộc vào vật chất, tiện nghi, vào

sự tính toán làm sao cho có lợi nhất mà quên đi những khóai cảm tinh thần có được

do những mối quan hệ vô tư mang lại

Trang 6

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Làm rõ những khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn, phương pháp luận nghiên cứu vấn đề nhận thức và thái độ của sinh viên đối với một số gía trị truyền thống của dân tộc Việt Nam

+ Phân tích thực trạng nhận thức, thái độ của sinh viên hiện nay đối với giá trị truyền thống

+ Phân tích vai trò của các nhân tố tác động đến nhận thức, thái độ của sinh viên đối với một số giá trị truyền thống dân tộc

+ Đề xuất các giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiểu biết và giáo dục giá trị truyền thống cho sinh viên hiện nay

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Nhận thức và thái độ của sinh viên đối với một số giá trị truyền thống dân tộc trong điều kiện hiện nay

4.2 Khách thể nghiên cứu:

Sinh viên thuộc 2 khối ngành Knh tế và Xã hội

5 Giới hạn lĩnh vực nghiên cứu:

Nghiên cứu xã hội học về nhận thức, thái độ của sinh viên hiện nay đối với một số giá trị truyền thống nhưng đây không phải là những giá trị truyền thống chung mà chỉ tập trung vào một số giá trị được coi là đã góp phần hình thành nên phẩm chất

Trang 7

và bản sắc con người Việt Nam trong suốt quá trình phát triển của dân tộc Vì vậy, những giá trị truyền thống mà luận văn lựa chọn đó là:

- Tinh thần yêu nước

- Tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái

- Cần cù, hiếu học

- Lạc quan

- Dũng cảm

- Tôn trọng các mối quan hệ gia đình

6.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:

6.2 Phương pháp nghiên cứu:

6.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: phân tích các tài liệu như sách, báo, tạp

chí…

6.2.2 Phương pháp quan sát: là phương pháp thu thập các dữ kiện sơ cấp về đối

tượng khảo sát bằng tri giác và ghi nhận các yếu tố có liên quan đến đối tượng khảo sát

6.2.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với nghiên cứu định tính: đề

tài thu thập thông tin định lượng bằng bảng hỏi Anket và thu thập thông tin định tính bằng phỏng vấn sâu

6.2.4 Cách thức chọn mẫu nghiên cứu:

Vì điều kiện không thể nghiên cứu hết tổng thể nên đề tài chỉ nghiên cứu 2 trường hợp sinh viên thuộc khối Kinh tế ở trường ĐH BC Tôn Đức Thắng và sinh viên thuộc khối Xã hội ở trường ĐH Mở TP.HCM Với tổng số sinh viên thuộc 2 khối ngành này ở 2 trường là 5.630 sinh viên

Trang 8

- Chọn dung lượng mẫu theo công thức: n = N / (1+e2) = 5630/ (1+ 0.12) = 98 n: quy mô của mẫu

N: qui mô dân số

e: mức sai lệch mong muốn (10%)

- Nguyên tắc chọn mẫu: chọn ngẫu nhiên các sinh viên học năm 3, năm 4 thuộc

2 khối ngành ở 2 trường Trong đó 50 sinh viên thuộc khối ngành kinh tế, 50 sinh viên thuộc khối ngành xã hội Tỷ lệ giới tính 50 nam, 50 nữ

6.2.5 Phương pháp thu thâp thông tin

- Phỏng vấn bằng bảng hỏi: sử dụng bảng hỏi với các câu hỏi đóng và mở Đây phương pháp thu thập thông tin chủ yếu của đề tài nhằm khai thác những thông tin

về những vấn đề mà đề tài nghiên cứu

- Phỏng vấn sâu: phỏng vấn sâu 4 sinh viên thuộc 2 trường đại học

6.2.6 Phương pháp xử lý số liệu:

- Những thông tin thu được sẽ được phân loại và xử lý trên phần mềm SPSS for Windown 11.0 nhằm tìm hiểu các vấn đề cốt lõi cần nghiên cứu của đề tài để làm cơ sở cho phân tích thực nghiệm

7 Phạm vi nghiên cứu

-Không gian: Sinh viên của trường ĐH Bán công Tôn Đức Thắng và trường

ĐH Mở tại TP.HCM

-Thời gian: 01.04.2007 đến 30.06.2007

8 Gỉa thuyết nghiên cứu:

- Nội hàm của các giá trị truyền thống trong đời sống sinh hoạt, lao động và học tập của sinh viên hiện nay có một số nội dung khác biệt so với các thế hệ đi trước

- Nhận thức của sinh viên hiện nay đối với một số giá trị truyền thống đã có nhiều thay đổi so với trước kia

- Môi trường xã hội hóa và các yếu tố cá nhân (giới tính, ngành học, nơi cư trú, điều kiện gia đình,… đã tác động đến nhận thức, thái độ của sinh viên đối với một

số giá trị truyền thống dân tộc

Trang 9

- Phương tiện thông tin đại chúng

Giá trị định hướng hành vi đối với cộng đồng

Trang 10

Thứ nhất là hoàn cảnh địa lý tự nhiên thông qua các quan hệ xã hội nhào nặn

ra một số đức tính tương ứng của con người để có thể sống trên vùng đất này là một vùng đất, tuy phì nhiêu đặc biệt nhưng cũng lắm thiên tai nghiệt ngã Thứ nhì là vị trí ngã tư đường giao lưu văn hóa và kinh tế bắc nam, đông tây, tức là một vị trí chiến lược rất quan trọng mà bọn xâm lược hết sức thèm thuồng nhằm làm một bàn đạp bành trướng Bản thân xứ ta giàu có tự nhiên và nhân dân ta khéo léo, siêng năng, bọn xâm lược nào cũng muốn giành làm chủ miếng mồi béo bở Cho nên không lạ gì mà thấy rằng từ thời cổ đại cho đến thời hiện đại, lịch sử nước ta giống như một chuỗi dài những cuộc chiến tranh xâm lược của ngoại bang và chiến tranh chống xâm lược của dân tộc ta Tổ tiên chúng ta, ông cha ta và chúng ta đây luôn luôn đã phải đương đầu với những kẻ địch to lớn và mạnh hơn ta gấp bội Việc chống địch họa như thế đã tạo cho nhân dân ta những đức tính cần phải có, đã tạo cho nhân dân ta những giá trị tinh thần không thể thay thế được nhằm bảo vệ sự

Trang 11

sống còn của dân tộc, bảo vệ nền độc lập tự chủ của quốc gia Nếu không có thì mất hết, chết hết Thứ ba là trên cơ sở một nền văn minh bản địa có đặc sắc, có cá tính của mình, nhân dân Việt Nam ở trên ngã tư đường giao lưu của nhân loại, đã biết

mở rộng cửa trí và cửa lòng mình để tiếp thu tinh hoa nhiều trào lưu văn hóa lớn, từ ngoài vào của phương Đông cũng như của phương Tây, làm sinh nở, phát triển hoặc lắng đọng những chất lượng tinh thần mới, bời bổ cho chất lượng tinh thần vốn có

tự bao giờ Thứ tư là suốt những thế kỷ thứ 18, thứ 19 và vào đầu thế kỷ 20, dân tộc Việt Nam lâm vào một trạng thái hết sức sôi động, xáo trộn: khởi nghĩa nông dân rất nhiều và rất lớn, chiến tranh xâm lược và chống xâm lược, hết cuộc này đến cuộc khác, các triều đình sụp đổ, vạn ức nhân dân lưu tán, nước mất nhà tan, cũ mới xung đột, đường tiến thủ mịt mờ…, khiến luân thường, đạo đức, các giá trị tinh thần

cũ nhiều phần đảo lộn và nhú lên những đức tính mới của một dân tộc tuy đang ở cảnh đau thương nhưng vẫn cố sức vùng dậy để tự cứu Và thứ năm là trong cuộc vận động chống thực dân và chống phong kiến, chủ nghĩa Mác-Lênin sớm du nhập vào nước Viêt Nam mau thấm sâu vào ý thức tâm lý quần chúng Ở nơi là hệ ý thức phong kiến thất bại và hệ ý thức tư sản bất lực thì chủ nghĩa Mác-Lênin thành công rực rỡ: Cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ đều thắng lợi trọn vẹn Đảng, Mặt trận, Hồ Chủ Tịch đã huy động các giá trị đạo đức, các giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc một cách có ý thức, có hệ thống, có phê phán, có lựa chọn hơn bất cứ lúc nào trước đó trong toàn bộ lịch sử Việt Nam Việc lớn ấy đã làm cho các tầng lớp nhân nhân như phát kiến lại cuộc sống nhiều nghìn năm của nòi giống mình, do đó ta tự hào một cách chính đáng, do đó sức chiến đấu nhân dân tăng lên gấp bội và do đó các giá trị cách mạng, các giá trị truyền thống quyện lại với nhau thành một lực lượng tinh thần to lớn

Nằm trong khu vực có điều kiện nhiệt đới gió mùa ẩm và có hệ thống sông ngòi dày đặc với rất nhiều lưu vực sông như sông Hồng, sông Mã, sông Lam, sông

Mê Công Việt Nam được thiên nhiên ban tặng những mảnh đất phù sa, màu mỡ rất thích hợp cho việc phát triển nghề trồng lúa nước và trồng dâu nuôi tằm Điều kiện

tự nhiên và khí hậu đã hình thành nên nền văn minh gắn với thực vật, lúa nước của người Việt thuở xưa Tuy nhiên, thiên nhiên không chỉ ban tặng cho người Việt

Trang 12

mảnh đất màu mỡ, trù phú, được bồi đắp bởi rất nhiều phù sa mà nó còn gây nhiều thử thách, khó khăn cho cuộc sống của người Việt bởi điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt Người dân luôn phải nhiều lần gánh chịu những đợt hạn hán xảy ra triền miên Có khi, họ lại đương đầu với những trận đại hồng thủy vô cùng ác liệt Điều kiện tự nhiên và lao động sản xuất đó đã hun đúc cho người Việt tính cần cù, chăm chỉ và sáng tạo trong lao động sản xuất, tinh thần giỏi chịu đựng trong khó khăn, gian khổ, luôn biết trân trọng những sản phẩm, giá trị lao động Ca dao tục ngữ xưa

đã từng có những ca từ rất hay để tôn vinh tinh thần yêu lao động, chịu thương chịu khó của người Việt Nam

“Cày đồng đang buổi ban trưa

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

Ai ơi bưng bát cơm đầy

Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”

Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và nền sản xuất kinh tế - sản xuất nông nghiệp lúa nước không chỉ hun đúc lên tinh thần chăm chỉ, cần cù trong lao động, học tập mà còn tạo dựng nên tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái trong cộng đồng người dân Đây cũng chính một nét tiêu biểu trong hệ giá trị truyền thống của người Việt Nam Trong xã hội truyền thống, tuy các gia đình của người Việt Nam tồn tại như một đơn vị kinh tế độc lập nhưng vì điều kiện sản xuất lúa nước nên các gia đình luôn phải trợ giúp lẫn nhau để làm công tác thủy nông, đảm bảo nước tưới tiêu cho đồng ruộng Ngay từ xa xưa, người Việt vẫn thường dạy bảo nhau rằng

Trang 13

“Thương người như thể thương thân” hay “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng

khác giống nhưng chung một giàn”

Tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái đó được hình thành không chỉ do yêu cầu hợp sức trong hoạt động lao động sản xuất, phòng chống thiên tai mà đặc biệt còn được củng cố, tăng cường trong quá trình người Việt phải chống trọi với nạn địch họa Lịch sử hàng nghìn năm phát triển đất nước cũng chính là lịch sử hàng nghìn năm con người Việt Nam phải chống trọi với các kẻ thù xâm lược từ phương Đông đến phương Tây Bởi vậy, trong suốt hành trình lịch sử, không chỉ có tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái được xây dựng và trở thành nét đặc trưng cho truyền thống của người Việt Nam, mà hơn thế, chính hoàn cảnh lịch sử đó đã hình thành nên tinh thần yêu nước Tinh thần yêu nước của người Việt được ví như sợi chỉ đỏ xuyên suốt các thế hệ Lưu truyền từ đời này sang đời khác Lòng yêu nước cũng trở thành giá trị truyền thống của người Việt Nam Quả thực, trên thế giới hiếm có một dân tộc nào trong quá trình phát triển của mình lại phải chống chọi với nhiều kẻ thù xâm lược như dân tộc Việt Nam Trong hơn nữa quảng đường lịch

sử của mình người Việt phải triền miên sống trong cảnh chiến tranh Ngay từ những buổi đầu công nguyên, hai bà Trưng đã phải phất cờ khởi nghĩa chống xâm lược Triệu Đà để trả nợ nước, thù nhà Tiếp đó, các triều đại phong kiến Ngô – Đinh – tiền Lê cho tới Lý – Trần – hậu Lê cũng đều phải liên tiếp chiến đấu chống lại kẻ thù phương Bắc, lập nên những trang sử thiêng cho dân tộc Sang thế kỷ XIX – XX, dân tộc Việt Nam lại phải chống chọi những kẻ thù lớn mạnh, đó là những kẻ thù từ phương Tây, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Thêm một lần nữa, lòng yêu nước cùng với tinh thần đoàn kết đã góp phần đáng kể giúp chúng ta lập lên trận Điện Biên Phủ trấn động địa cầu và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đánh tan quân xâm lược, đưa đất nước đi vào thời kỳ độc lập, tự do, tiến lên chủ nghĩa xã hội Cũng chính trong điều kiện luôn phải đối mặt với nạn thiên tai địch họa, tinh thần dũng cảm cũng sớm được hình thành và phát triển Nó trở thành một đức tính đáng quý của người Việt và là một giá trị tinh thần quý báu của dân tộc ta Chính nhờ lòng dũng cảm, người Việt Nam đã quật cường chiến đấu và chiến thắng trước các thế lực thù địch bạo tàn

Trang 14

Bên cạnh các yếu tố về điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử, vị trí địa lý cũng có vai trò không nhỏ đối với sự hình thành các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam Nằm ờ bán đảo Đông Dương, chiếm giữ vị trí ngã tư Đông Tây – Nam – Bắc trên các đường bộ và đường thủy, Việt Nam có một vị trí địa lý không chỉ thuận lợi cho sự thông thương, giao lưu kinh tế với nhiều nước mà còn có cơ hội được tiếp xúc, giao lưu với những nền văn hóa của các nước trong khu vực Đông Nam Á cũng như với những nền văn hóa lớn của phương Đông như Trung Quốc,

Ấn Độ Những nền văn hóa này có khi nối tiếp nhau, có khi cùng lúc du nhập vào Việt Nam Người Việt Nam với những đặc tính mềm dẻo, dung hòa và linh hoạt đã sớm tiếp nhận các nền văn hóa du nhập từ bên ngoài và có những thay đổi nhất định

để chúng phù hợp hơn với nền văn hóa bản địa, với hoàn cảnh cũng như điều kiện sinh sống, sản xuất của người Việt Nam Những nền văn hóa du nhập từ bên ngoài

và có ảnh hưởng mạnh mẽ tới tư tưởng và các mối quan hệ của người Việt Nam chính là hệ tư tưởng Nho giáo của Trung Quốc và Phật giáo của Ấn Độ

Hệ tư tưởng Nho giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm nhưng suốt thời kỳ Bắc thuộc, nó vẫn không được người dân tiếp nhận nhiều và chưa có vị trí đáng kể trong xã hội như các tôn giáo khác (Phật giáo, Đạo giáo) bởi lẽ trong thời gian đầu, Nho giáo chính là công cụ để chính quyền đô hộ cai trị người dân Giao Chỉ Lúc bấy giờ, Nho giáo không cung cấp cho người dân Việt Nam một ý thức hệ cần thiết cho các cuộc khởi nghĩa chống chính quyền đô hộ vì một trong những tư tưởng chủ đạo của Nho giáo là phải giữ chữ Trung (Trung ở đây là phải trung thành với hoàng đế Hán, Đường) Nho giáo ít được người dân tiếp nhận bởi nó đã không đóng góp gì cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc Đến tận thời kỳ độc lập, khi Ngô Quyền dẹp loạn mười hai xứ quân và thành lập chính quyền phong kiến Việt Nam, vị trí Nho giáo ở Việt Nam mới bắt đầu được cải thiện và dần dần trở thành công cụ hữu hiệu để chính quyền phong kiến cai trị đất nước Đến thời Lê, Nho giáo

đã trở thành quốc giáo của Việt Nam Các trường học Nho giáo bắt đầu mọc lên ở khắp nơi Bên cạnh đó, do nội dung cốt lõi của Nho giáo là coi trọng đạo đức, lấy nhân làm gốc nên nó khá phù hợp với bản chất, tinh thần truyền thống của người Việt Vì thế, Nho giáo có ảnh hưởng to lớn tới xã hội và gia đình Việt Nam bởi bên

Trang 15

cạnh việc bàn về trị quốc, Nho giáo cũng dành phần đáng kể để bàn về các mối quan hệ trong gia đình Ngày từ xa xưa, gia đình và các mối quan hệ trong gia đình luôn được người Việt Nam coi trọng với những đạo lý cơ bản như lòng hiếu thảo của con cháu, lòng nhân từ của cha mẹ, lòng thủy chung của vợ chồng, sự hòa thuận giữa anh chị em Những điều đó đã trở thành nguyên tắc đạo đức trong cách cư xử của người Việt và khiến sự coi trọng các mối quan hệ gia đình trở thành một giá trị truyền thống đẹp đẽ của dân tộc Ta có thể bắt gặp những hình ảnh rất đẹp ca ngợi những mối quan hệ gia đình trong văn thơ xưa như:

Ca ngợi tình cảm của cha mẹ:

“Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”

Ca ngợi tình cảm vợ chồng:

“Trên đồng cạn dưới đồng sâu Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”

Ca ngợi sự hòa thuận của anh chị em trong gia đình:

“Anh em như thể tay chân Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần”

Tuy các yếu tố như điều kiện địa lý, tự nhiên, hòan cảnh lịch sử dân tộc đã khiến cho người Việt gặp không ít gian truân trong cuộc sống và phải trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử nhưng chính những yếu tố đó đã hình thành nên những giá trị cao đẹp trong truyền thống dân tộc Việc giữ gìn và bảo lưu những giá trị đó có ý nghĩa hết sức sâu sắc đối với sự phát triển từ trong truyền thống đến hiện đại của dân tộc Việt Nam nói chung và của văn hóa Việt Nam nói riêng Người ta không thể xây dựng lên những tòa thành mà không dựa trên những nền móng vững chắc Sự phát triển dân tộc và văn hóa dân tộc cũng vậy Để không ngừng phát triển, con người ta chẳng những cần phải hướng lên phía trước mà còn dựa vào cả những

Trang 16

nền tảng những gì có được từ trong quá khứ Trước bối cảnh văn hóa ngày càng có vai trò to lớn đối với sự phát triển, trở thành động lực và mục tiêu của sự phát triển thì việc khai thác và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp từ trong truyền thống có

ý nghĩa rất to lớn Vì vậy, giá trị truyền thống của các cộng đồng ở đầu thế kỷ này đang hiện ra như là những lời khuyên hữu ích, những bài học kinh nghiệm đắt giá đối với từng bước đi tiếp theo của quá trình phát triển Chẳng có sự phát triển nào bắt đầu từ hư vô Bởi vậy, giá trị truyền thống trên thực tế vẫn là hành trang không

dễ bị coi nhẹ đối với hành trình của con người trong thế kỷ XXI Tương lai càng không được hứa hẹn một cách chắc chắn thì lại càng làm cho truyền thống trở thành một lãnh địa để con người tìm kiếm hy vọng

1.1.2 Những biến đổi và thách thức đối với giá trị truyền thống trong điều kiện hiện nay

Đất nước ta đang bước vào quá trình toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, quá trình này đã tạo ra cho chúng nhiều cơ hội để phát triển Sự biến đổi của đời sống kinh tế xã hội đã và đang tác động tới đời sống vật chất cũng như tinh thần của mọi tầng lớp người Việt Nó có ảnh hưởng lớn tới mọi khía cạnh của cuộc sống trong đó có văn hóa Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện cho các giá tế trị truyền thống có cơ hội cọ sát với những giá trị mới của thời đại để chúng có thể tự đổi mới mình Trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, để có thể tiếp tục phát triển và khẳng định được vai trò của mình, các giá trị truyền thống Việt Nam cần được tích hợp với tinh hoa văn hóa nhân loại, cải biến những nét đặc sắc trong tinh hoa văn hóa nhân loại cho phù hợp với mình Có như vậy, giá trị truyền thống dân tộc mới không ngừng được đổi mới, vừa đậm đà tính dân tộc, vừa mang tính hiện đại

Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế cũng đang đặt ra rất nhiều thách thức đối với các giá trị truyền thống

Trước tiên Toàn cầu hóa kinh tế quốc tế ảnh hưởng trực tiếp đến ý thức hệ -

nhân tố cốt lõi của văn hóa Trong quá trình hội nhập, giao lưu của toàn cầu hóa kinh tế, các tâp đoàn tư bản dựa vào sức mạnh kinh tế để thực hiện mưu đồ chính trị

Trang 17

buộc các nước chấp nhận giao lưu, hợp tác quốc tế kinh tế, thương mại phải chấp nhận hệ tư tưởng tư sản Không phải ngẫu nhiên mà Đảng ta nhấn mạnh: “Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình vừa hợp tác để phát triển, vừa đấu tranh rất phức tạp, đặc biệt là đấu tranh của các nước đang phát triển bảo vệ lợi ích của mình, vì một trật tự kinh tế quốc tế công bằng, chống lại những áp đặt phi lý của các siêu cường quốc kinh tế, các công ty xuyên quốc gia

Thứ hai, Toàn cầu hóa kinh tế sẽ dẫn tới sự phân cực giàu nghèo quá đáng,

tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội, làm “lệch chuẩn” các giá trị văn hóa tiêu biểu cho khát vọng mà nhân loại hướng tới, nó tạo ra lối sống chỉ biết xem đồng tiền là tất cả, xem cá nhân hơn cộng đồng, xem cái lợi quý hơn tình nghĩa, coi khinh người nghèo, trọng cái giàu Toàn cầu hóa kinh tế tác động trực tiếp đến lối sống, dễ làm lệch chuẩn các bậc thang giá trị trong xã hội, đây là một thách thức đáng ngại nhất

Thứ ba Toàn cầu hóa kinh tế dễ dẫn tới làm lưu mờ và xói mòn văn hóa

truyền thống Cuộc cách mạng khoa học công nghệ và sự bùng nổ thông tin toàn cầu, biến thế giới thành “một làng truyền thông” thì sự ảnh hưởng văn hóa phương Tây, văn hóa Mỹ thông qua toàn cầu hóa truyền thông trở thành vũ khí lợi hại thách thức văn hóa dân tộc Ta cần ý thức rõ rằng, khi khoảng cách về địa lý giữa các quốc gia được thu hẹp đáng kể và mất dần ý nghĩa do những tiến bộ khoa học, kỹ thuật, giao thông, công nghệ kỳ diệu mang lại thì cơ hội tốt cho sự tiếp thu nhanh chóng các giá trị văn hóa tiên tiến là rất lớn Song, bên cạnh đó, sự thách thức và mối đe dọa lan truyền và phá hoại từ các phản giá trị, các thứ văn hóa ngoại lai có hại đối với các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc bị lép vế về kinh tế, về khoa học công nghệ cũng không hề nhỏ hơn Bởi vậy, đối với các nước kém phát triển về kinh tế cần phải tranh thủ lợi dụng đến mức tối đa các cơ hội, các lợi thế và nhanh chóng tiếp nhận các giá trị mới do toàn cầu hóa mang lại để phát triển, vì trong thời đại chúng ta không một quốc gia nào có thể phát triển được nếu thiếu sự hợp tác quốc tế và đứng ngoài quá trình toàn cầu hóa

Thứ tư, cùng với sự thách thức về thế giới quan, nhân sinh quan, lối sống và

các khía cạnh văn hóa dân tộc nêu trên, toàn cầu hóa kinh tế thông qua sự tác động mạnh mẽ của cơ chế kinh tế thị trường, kinh tế tri thức sẽ dẫn tới “lý trí hóa” nhận

Trang 18

thức thẩm mỹ, “hình thức hóa” các bản chất thẩm mỹ dân tộc, kích thích thị hiếu thẩm mỹ theo kiẻu phương Tây, làm ảnh hưởng cảm xúc thẩm mỹ, tình cảm thẩm

mỹ truyền thống, kinh tế hóa, thương mại hóa lối suy nghĩ, lối ứng xử tốt đẹp của dân tộc

Vì vậy, trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta không chỉ tiếp nhận những tinh hoa văn hóa nhân loại mà còn phải đối mặt với những giá trị không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh dân tộc, trong đó có cả những phản giá trị, đi ngược lại truyền thống, đạo lý của người Việt Trong khi những gía trị, lối sống mới du nhập vào Việt Nam vẫn chưa có thời gian để thẩm định, việc giáo dục phát huy vai trò của giá trị truyền thống còn hạn chế đã đưa tới nhiều hiện tượng rối loạn, sai lệch trong xã hội: Sự suy giảm của các mối quan hệ gia đình; tỷ lệ ly hôn, tỷ lệ trẻ em lang thang ngày một cao; Tình trạng thanh thiếu niên nghiện hút, sử dụng chất kích thích, quan hệ tình dục trước hôn nhân cũng không ngừng gia tăng; thái độ thờ ơ với xã hội, với đất nước, chỉ chú trọng nhiều hơn tới lợi ích vật chất cá nhân cũng ngày càng phổ biến… Thêm vào đó, việc đẩy mạnh chiến lựơc diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch với nhiều luận điệu xuyên tạc, phản động về đất nước Việt Nam, truyền thống dân tộc Việt Nam đã ảnh hưởng không nhỏ tới tư tưởng, thái độ của một bộ phận người dân đối với những giá trị truyền thống dân tộc Giá trị truyền thống trong nhiều trường hợp không còn được nhiều người, nhất là thế hệ trẻ để ý, coi trọng

Như vậy, bối cảnh kinh tế thị trường và giao lưu hợp tác quốc tế đã đem lại cho giá trị truyền thống nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức Việc làm thế nào để giữ gìn và phát triển không ngừng các giá trị truyền thống trong điều kiện mới sẽ có ý nghĩa to lớn đối với quá trình phát triển đất nước Ta có thể thấy đựơc vai trò của văn hóa truyền thống, trong đó các giá trị truyền thống dân tộc, qua rất nhiều hình ảnh của các nứơc trên thề giới Vào đầu thế kỷ XX , khi các nước Tây

Âu đã phát tirển với một trình độ khá cao, các nước phương Đông, trong đó có cả những nước lớn như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc vẫn còn là những nước nghèo nàn, lạc hậu Tuy nhiên, chỉ hơn nửa thế kỷ sau, họ đã vươn lên, có nền kinh

tế phát triển ngang tầm với những nước đứng đầu thế giới Các nước đó đạt được

Trang 19

những thành tựu như vậy không chỉ bởi họ có được những cơ hội, những thế mạnh

và sự hậu thuẫn từ nhiều phía Một yếu tố vô cùng quan trọng đối với sự phát triển các nước này là do họ đã khơi dậy và phát huy được những giá trị tốt đẹp, những cốt cách dân tộc để tạo nên sức mạnh riêng có cho bản thân mình Từ đó ta thấy việc khai thác sức mạnh từ những giá trị truyền thống và phát huy nó trong bối cảnh hiện đại là điều vô cùng quan trọng và có ý nghĩa to lớn Điều đó không chỉ đòi hỏi bản thân các giá trị truyền thống không ngừng được đổi mới để khẳng định sức sống và vai trò của nó trong cuộc sống hiện đại mà còn cần tăng cường hơn nữa việc tuyên truyền, giáo dục để hệ giá trị truyền thống có thể giữ được vai trò là chuẩn giá trị chi phối hành vi của con người

1.1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà Nước về việc giữ gìn, phát huy và giáo dục các giá trị truyền thống dân tộc

Sự phát triển chung của dân tộc và thời đại luôn phải gắn liền với phát triển văn hoá bởi lẽ văn hoá vừa là động lực, vừa là mục tiêu của phát triển Do giá trị truyền thống chính là một hợp phần quan trọng của văn hoá dân tộc nên việc coi trọng và phát triển giá trị truyền thống dân tộc là lẽ đương nhiên trong quá trình phát triển chung của đất nước Chính vì thế, giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc đã và đang là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Trước những biến đổi và thách thức của giá trị truyền thống trong điều kiện kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hoá, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm giữ gìn, phát huy những giá trị văn hoá của dân tộc (bao gồm giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể) Trong quá trình xây dựng, phát triển nền văn hoá nói chung, việc giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống được coi trọng đáng kể Nghị quyết IX của Bộ Chính trị

(18/2/1995) đã khẳng định vai trò của giá trị văn hoá dân tộc là " nền tảng và sức

mạnh tinh thần to lớn để nhân dân ta xây dựng một xã hội phát triển, tiến bộ, công bằng,nhân ái " Do vậy xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

đang là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc đổi mới đất

nuớc Nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở đây là nền văn hoá " gắn lý

tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin

Trang 20

và tư tưởngHồ Chí Minh ", đồng thời phải chứa đựng những " giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đông các dân tộc Việt Nam được vun đắp lên qua lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình, đức tính cần cù sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, giản dị trong lối sống " - đó chính là nội dung xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm

đà bản sắc dân tộc thể hiện trong tinh thần của Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII của Đảng Để xây dựng được nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đó, báo cáo chính trị của ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII tại Đại hội Đảng lần thứ VIII khẳng định rõ trong quá trình đất nước bước vào xây dựng nền kinh tế thị trường,mở rộng giao lưu quốc tế, công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cần phải " tiếp thu những tinh hoa của nhân loại,

song phải luôn luôn coi trọng những giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc, quyết không được tự đánh mất mình, trở thành bóng mờ hoặc bản sao chép của người khác " [12, tr.109] Cũng trong văn kiện này, tại phần Xây dựng nền văn hoá tiên

tiến đậm đà bản sắc dân tộc một lần nữa Đảng ta chỉ rõ: "Trong nền kinh tế thị

trường và mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm gìn giữ và nâng cao bản sắc văn hoá dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc Tiếp thu tinh hoa của các dân tộc trên thế giới, làm giàu đẹp thêm nền văn hiá Việt Nam; đấu tranh chống sự xâm nhập của các văn hoá độc hại, những khuynh hướng sùng ngoại, lai căng, mất gốc Khắc phục tâm lý sùng bái đồng tiền, bất chấp đạo lý, coi thường các giá trị nhân văn” [12, tr.123]

Cùng với những chủ trương, quan điểm trong các kỳ Đại hội Đảng, sự quan tâm, chú trọng tới giá trị truyền thống văn hoá dân tộc của Đảng và Nhà nước còn thể hiện qua việc phát động các phong trào, cuộc thi tìm hiểu về truyền thống dân tộc, lịch sử đất nước nhằm khơi dậy, phát huy những truyền thống tốt đẹp đó Điều này thể hiện rất rõ sự coi trọng vai trò của các giá trị truyền thống của Đảng và Nhà nước trong quá trình quản lý, xây dựng đất nước hiện nay

Trang 21

1.2 Các khái niệm:

1.2.1 Gía trị:

Gía trị được coi là yếu tố trung tâm của văn hoá nói chung, là sản phẩm của một nền văn hoá nhất định Sự phong phú trong quan niệm về văn hoá là một trong những nguyên nhân tạo nên sự đa dạng xung quanh thuật ngữ giá trị

Trong cuốn "Bách khoa toàn thư quốc tế về xã hội học" (Nhà xuất bản

Fitzroy Dearborn ấn hành năm 1995, tập 1, trang 283): “giá trị được hiểu đơn giản

là những tiêu chuẩn để đánh giá thế nào là tốt hay xấu, phải hay trái, đẹp đẽ hay xấu xa.” Còn trong cuốn "Bách khoa toàn thư xã hội học" ( Nhà xuất bản Macmilan,

tập 4, trang 2217) các tác giả lại cho “giá trị là những điều kiện thiết yếu trong việc

đánh giá mà nếu thiếu nó mọi sự đánh gía, nhận xét đều trở nên vô nghĩa” Trong

cuốn " Nhập môn xã hội học" ( Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội 1993, trang

32), được dịch và xuất bản gần đây, các tác giả cho rằng: " giá trị là những quan

niệm về cái đáng mong muốn ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn, là những tiêu chuẩn chung của hành vi"

Gía trị có tính chất hướng dẫn và lựa chọn, vì vậy khi nó chỉ ra những cái gì

là phù hợp, cái gì không phù hợp với cá nhân, với cộng đồng với xã hội thì đống thời chúng cũng chấp nhận những hành vi nào đó và phủ nhận những hành vi khác Gía trị được thực hiện thông qua hành động của các vai trò xã hội và vì vậy giá trị quy định tính thống nhất của các vai trò xã hội, kiến tạo sự " đồng thuận xã hội"

1.2.2 Truyền thống:

"Truyền thống là những thói quen lâu đời đựoc hình thành trong nếp sống,

suy nghĩ và hành động là sự lặp laị những suy nghĩ, những cảm xúc những hành

vi của một tập đoàn xã hội hay một dân tộc."( Vũ Khiêu Bàn về văn hiến Việt

Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1996, tập 3, trang 73 và trang 245) Theo giáo

sư Phan Huy Lê " Truyền thống là tập hợp những thói quen trong tư duy lối sống và

ứng xử của một cộng đồng người nhấn định, được hình thành trong lịch sử và trở nên ổn định, được lưu truyền từ đời này sang đời khác".( Tạp chí Cộng Sản số 18-

19/1996, trang 30) Được hình thành trong những điều kiện lịch sử nhất định, truyền

Trang 22

thống vừa có những mặt tích cực lại vừa có những mặt tiêu cực Tích cực khi nó giúp con người hiện đại kế thừa được những thành quả kinh nghiệm phong phú và quý báu của các thế hệ trước để lại mà không phải tìm kiếm lại từ đầu Trong trường hợp này, truyền thống có thể được coi là những bậc thang để nhân loại tiến lên phía trước, là điều kiện thiết yếu của qúa trình duy trì và phát triển xã hội mặt tiêu cực của truyền thống bộc lộ ở chỗ, trong những điều kiện lịch sử đã thay đổi, những thói quen trong suy nghĩ, hành động cũ không còn thích hợp nữa nhưng vẫn núp bòng truyền thống, lặp đi lặp lại trở thành bảo thủ, lỗi thời ngăn cản sự phát triển

1.2.3 Gía trị truyền thống:

Gía trị truyền thống được hiểu là: “những giá trị tương đối ổn định, những gì

là tốt đẹp, là tích cực, là tiêu biểu cho bản sắt văn hóa dân tộc có khả năng truyền lại qua không gian, thời gian, cần phải bảo vệ và phát triển.” [2, trang 111]

1.2.4 Dân tộc:

Dân tộc là cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, một quốc gia gắn bó với nhau trong truyền thống, những nghĩa vụ và quyền lợi [13, trang 520]

1.2.5 Thái độ:

Theo cuốn Đại Từ Điển Tiếng Việt thì “ thái độ” là mặt biểu hiện bề ngoài của ý nghĩ; tình cảm đối với ai hay việc gì, thông qua nét mặt , cử chỉ, lời nói hành động.[13, trang 1241]

Trang 23

1.3 Quan điểm của các nhà xã hội học và hướng tiếp cận lý thuyết

1.3.1 Quan điểm của các nhà xã hội học:

Thuật ngữ "gía trị"có nguồn góc từ một từ gốc Hylạp là AXLA có nghĩa là giá trị Thuật ngữ này được dùng nhiều trong các trường phái triết học, xã hội học thực chứng, tương tác tượng trưng vấn đề giá trị được các nhà xã hội học quan tâm

từ rất sớm Họ thường đi sau tìm hiểu vai trò của giá trị trong việc điều chỉnh hành

vi của con người và các mối quan hệ xã hội Liên quan đến nghiên cúu về giá trị trong ngành khoa học xã hội học, có lẽ ta phải kể đến những cây đại thụ tiêu biểu cho ngành khoa học này như M.Weber, E.Durkheim

Weber là người đưa ra khái niệm này với tư cách là một phạm trù vào trong khoa học xã hội học Theo quan niệm của Weber thì bất kỳ hành động nào của cá nhân có ý thức thì đều kèm theo một giá trị Tuy nhiên hành vi có ý thức của cá nhân cũng chưa đủ điều kiện để trở thành hành vi xã hội được nếu như chủ thể hành động không có định hướng, không quan tâm đến phản ứng đáp lại của những người xung quanh (xã hội) Khi bàn về những hành vi tôn giáo của con người Weber cho rằng khi con người tụng kinh thầm, nghĩa là chỉ có mối liên hệ giữa anh ta và Chúa, lúc đó hành vi có ý thức nhưng không phải hành vi xã hội, hành vi này mang "giá trị

cá nhân" Cũng trường hợp tụng kinh nhưng kẻ hành đạo kia đọc thành lời hoà cùng với những ngưòi xung quanh, lắng nghe giọng điệu và âm thanh của họ để hoà vào một hành động tụng kinh chung, hành vi này lại là hành vi xã hội Và dĩ nhiên lúc

đó hành động của anh ta mang giá trị xã hội Khi con người gia nhập vào các hoạt động tập đoàn nó phải tuân thủ kỷ luật, quy tắc của tâp đoàn, đó chính là những chuẩn mực điều chỉnh hành vi xã hội của cá nhân cũng như của tập đoàn xã hội

Khi Weber đi tìm nguồn gốc của giá trị trong quan hệ của cá nhân với tư cách là chủ thể hoạt động xã hội với những cá nhân khác vừa là khách thể vừa là chủ thể trong tương tác xã hội thì Durkheim coi giá trị chính là ý thức tập đoàn được hình thành trong sự hợp tác và đoàn kết xã hội Ý thức tập đoàn hình thành nhờ vào cơ chế điều tiết của các giá trị xã hội cơ bản Hoạt động là cơ sở của sự đoàn kết xã hội mà nó có cội nguồn từ sự phân công lao động xã hội và tổ chức xã

Trang 24

hội Đoàn kết xã hội theo Durkheim, nó giống như một kiểu quan hệ giữa cấu trúc

và chứa năng với các giá trị phù hợp Hiểu theo nghĩa đó, để có thể duy trì sự đoàn kết xã hội đòi hỏi phải có một hệ gia trị phù hợp để điều chỉnh, chi phối các mối quan hệ đó Hệ giá trị giống như chuẩn mực chi phối hành vi của cá nhân với các mối quan hệ xã hội Khi hệ giá trị mất đi vai trò trong việc chi phối, điều chỉnh hành

vi của con người và các mối quan hệ xã hội, nó dẫn tới sự rối loạn và có thể phá vỡ cấu trúc xã hội Những hành vi đi ngược lại hệ giá trị trong xã hội bị quy là những hành vi lệch chuẩn Durkheim phân tích sâu hơn về vai trò của giá trị khi ông bàn

về vấn đề tự tử Durkheim không lý giải hiện tượng tự tử từ góc độ sự bất ổn trong tâm lý cá nhân mà ông lý giải hiện tượng này từ góc độ xã hội Theo Durkheim tự

tử có liên quan đến đoàn kết xã hội - sự phụ thuộc của cá nhân vào các mối quan hệ

xã hội và vào sự kiểm soát, điều tiết của hệ giá trị, chuẩn mực xã hội và hành vi cá nhân Như vâỵ, giá trị có vai trò rất quan trọng trong xã hội bởi nó điều tiết được hành vi cá nhân và mối quan hệ xã hội, từ đó nó góp phần duy trì ổn định của xã hội

1 3.2 Hướng tiếp cận lý thuyết

1.3.2.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng

Các đại diện cho thuyết này là: E.Durkheim, T.Parsons, H.spencer… E.Durkheim và những người kế tục lý thuyết của ông đã quan tâm tới một vấn đề cơ bản là: làm sao mà xã hội có thể tồn tại lâu dài như một thể thống nhất chứ không phải chỉ là tập hợp những cá nhân đối nghịch Câu trả lời về “vấn đề trật tự xã hội” này là: chính xã hội hóa đã dẫn đến sự hòa cảm đối với các chuẩn mực và giá trị Đối với họ nguyên nhân tạo nên sự bền vững của xã hội là sự tuân thủ các quy luật của hành vi.Các cá nhân có thể đến rồi đi, nhưng xã hội tiếp tục bền vững bởi vì nó

có thể quy định được hành vi của những cá nhân mới tham gia vào xã hội sao cho thích đáng

Từ quan điểm này, các đặc trưng xã hội không thể được giải thích như là sản phẩm của những lựa chọn của các cá nhân do bản thân những lựa chọn này mà là sản phẩm của quá trình xã hội hóa Những người theo thuyết chức năng cho rằng

Trang 25

các xã hội có những khuynh hướng được xây dựng nội tại hướng tới hài hòa và tự điều chỉnh, tương tự như những tổ chức hay cơ thể sinh học Xã hội là một hệ thống các thiết chế phụ thuộc lẫn nhau và tham gia tạo nên sự ổn định bền vững của tổng thể Vai trò của xã hội không chỉ đơn giản liên quan tới những hành vi được xã hội quan sát xem các cá nhân có thực hiện hay không mà trong thực tế, xã hội quan niệm những hành vi đó phải được thực hiện Chúng ta sẽ gọi những ý thức về cái

mà mỗi người sẽ phải làm, hành vi nào “đúng đắn” hay “thích hợp” là chuẩn mực

và giá trị Gía trị là những tiêu chuẩn chung của hành vi; ví dụ những quy định như

“ giữ vững pháp luật”,” bảo vệ cuộc sống gia đình”…

Các nhà lý thuyết đồng cảm quy định cho các giá trị một vai trò hết sức quan trọng: cho dù có khác biệt trong hành vi giữa những nhóm xã hội khác nhau, vẫn phải tồn tại một mối đồng cảm chung về giá trị quan trọng nhất – các giá trị trung tâm – để xã hội được vận hành một cách đúng đắn

Mối quan hệ giữa chuẩn mực giá trị và xã hội hóa là hết sức rõ ràng Trong khi các chuẩn mực và giá trị quy định những quy luật của xã hội thì thông qua xã hội hóa, các cá nhân có thể tiếp thu được những chuẩn mực và gía trị của những người khác, học được cách coi các quy luật và truyền thống xã hội mình đang sống

là đúng đắn

Từ đó khi nghiên cứu nhận thức, thái độ của sinh viên hiện nay đối với một

số giá trị truyền thống cần xem xét các yếu tố tác động tổng hợp đến nhận thức, thái

độ của sinh viên như gia đình, nhà trường, các tổ chức địa phương và đặt nó trong bối cảnh kinh tế - xã hội của TP.HCM trong giai đoạn hiện nay

Ngoài ra, khi tìm hiểu nhận thức, thái độ của sinh viên đối với một số giá trị truyền thống chúng ta cần coi mặt nhận thức này là một nhu cầu đối với mỗi sinh viên và toàn xã hội nhằm hoàn thiện nhân cách cùng với trình độ khoa học kỹ thuật, kỹ năng lao động để hoàn thiện con người Đó là chức năng duy trì và phát triển xã hội một cách trật tự và hài hòa giữa các thế hệ Có những chức năng mới xuất hiện và

có những chức năng cũ bị loại bỏ vì không còn phù hợp với điều kiện nhận thức của sinh viên hiện nay

Trang 26

1.3.2.2 Lý thuyết tương tác biểu tượng

Thuyết tương tác biểu trưng là lý thuyết ra đời từ trường phái Chicago (Mỹ) Thuật ngữ tương tác biểu trưng được Blumer sử dụng lần đầu tiên vào năm 1937 Sau này, lý thuyết tương tác biểu trưng nhiều người theo đuổi và phát triển như Charles Cooley, Howard S.Becker và đặc biệt là George Herbert Mead Trong khi các lý thuyết như thuyết chức năng, thuyết xung đột tập trung vào các quá trình vĩ

mô - giải thích cơ cấu xã hội thì thuyết tương tác biểu trưng lại tập trung vào quá trình vi mô - lý giải hành vi của con người Lý thuyết tương tác biểu trưng được Mead xây dựng bắt nguồn từ quan niệm triết học thực dụng và chủ nghĩa hành vi trong tâm lý học - đó là con người luôn hướng tới một ý nghĩa hành vi trong tâm lý học - đó là con người luôn hướng tới một ý nghĩa thực tế và bản chất hành vi con người là hướng tới lý giải ý nghĩa của thực tế đó Theo Mead, quá trình hành động của con người trải qua 4 giai đoạn :

Thứ nhất, giai đoạn kích thích - đó là có nhiều người hành động xuất phát từ nhu cầu của họ có được do những sự tác động trực tiếp lên các giác quan

Thứ hai, giai đoạn trả lời kích thích - Con người không trả lời kích thích một cách trực tiếp mà thông qua các biểu trưng, thông qua các yếu tố nhận thức, yếu tố tinh thần để đánh giá tình huống Khi kích thích được lựa chọn, phân tích thông qua những biểu trưng của chủ thể thì nó biến thành mục tiêu hành động của họ

Thứ ba, giai đoạn chủ thể hành động lựa chọn thao tác Giai đoạn này chủ thể cân nhắc các thao tác, cách thức hành động để đạt được mục tiêu tối ưu

Thứ tư, giai đoạn hành động - tiến hành hành động để đạt mục tiêu đã đề ra, thoã mãn nhu cầu

Như vậy, biểu trưng có ý nghĩa khá to lớn đối với hành vi của con người Trong xã hội, để đạt được mục đích của mình, các cá nhân luôn phải tương tác với nhau Sự tương tác đó diễn ra khi cá nhân cùng nhận thức hoặc có cùng một biểu trưng về hành động mà họ thực hiện Biểu trưng sẽ giúp các cá nhân đạt được lợi ích của mình trong quá trình tương tác với các chủ thể hành động khác Các chủ thể

có chung một biểu trưng có thể thực hiện tương tác thực sự được với nhau Biểu

Trang 27

trưng tồn tại trong các tương tác xã hội, nó xuất hiện khi các chủ thể hành động tương tác với nhau và nó mang ý nghĩa mà các bên tương tác cùng thừa nhận Bởi vậy, biểu trưng được xem như những giá trị, chuẩn mực điều chỉnh hành vi của các chủ thể hành động Do thuyết tương tác biểu trưng chủ yếu tập trung vào cấu trúc vi

mô - hành vi con người - nên nó bị phê phán là không thấy rõ được tầm quan trọng của các cấu trúc vĩ mô như các nhân tố lịch sử, đặc biệt là tầm quan trọng của sức mạnh kinh tế và chính trị

Vận dụng lý thuyết tương tác biểu trưng vào nghiên cứu này, giá trị noí chung và giá trị truyền thống dân tộc nói riêng tồn tại giống như những ý nghĩa, biểu trưng Chúng có vai trò quan trọng trong mối tương tác giữa các cá nhân với nhau và giữa cá nhân với các nhóm xã hội (có thể gọi là trong các quan hệ xã hội)

Hệ giá trị truyền thống là giá trị được hình thành và kiểm nghiệm qua thời gian Chúng chứa đựng những ý nghĩa sâu sắc và được thừa nhận như những chuẩn mực điểu chỉnh hành vi của con người.Như vậy khi biểu trưng ( tức các giá trị) này không được cá nhân thừa nhận, hoặc giữa các cá nhân không cùng chia sẽ biểu trưng chung này thì quá trình tương tác giữa họ có thể thất bại, thậm chí có thể xung đột do họ theo đuổi những biểu trưng riêng Hoặc, khi giữa các cá nhân cùng chia sẻ những biểu trưng nhưng những biểu trưng đó không phải là những giá trị tốt đẹp, thậm chí có thể là phản giá trị thì quá trình tương tác của họ có thể đem laị những lợi ích và thoã mãn nhu cầu của bản thân chủ thể hành động nhưng nó không có ảnh hưởng tốt đối với sự phát triển chung của xã hội Điều đó cho thấy để các tương tác

xã hội, các mối quan hệ xã hội có thể vận hành tốt, góp phần củng cố sự phát triển của toàn xã hội thì phải có được những biểu trưng, hay những chuẩn giá trị chi phối hành vi của các xá nhân trong quá trình thực hiện tương tác Chuẩn giá trị có thể bao gồm nhiều giá trị khác nhau Trong xã hội Việt Nam, chuẩn giá trị hiện nay không chỉ bao gồm những giá trị của thời đại mà nó còn chứa đựng rất nhiều giá trị truyền thống được hình thành và kiểm định trong suốt chặng đường lịch sử Để những giá trị này có thể trở thành biểu trưng cho mọi người cùng chia sẻ và có vai trò điều chỉnh hành vi của con người trong các qúa trình tương tác xã hội, chúng cần được biểu trưng hoá trong ý thức chung của cả cộng đồng và trở thành mô hình

Trang 28

hành vi cho mỗi đối tượng trong đó có sinh viên

1.3.2.3 Lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý

Lý thuyết lựa chọn hợp lý phát sinh từ kinh tế học cổ điển Nó được phát triển lên thành lý thuyết xã hội học nhờ công lao của Jane S Coleman Theo Coleman, lý thuyết lựa chọn hợp lý (hay ông còn gọi là mô hình của hành động hợp lý") là lý thuyết duy nhất có khả năng tạo ra một mô hình hòa hợp Colemanlý luận rằng cách tiếp cận này vận hành từ một nền tảng trong phương pháp luận của chủ nghĩa cá nhân và sử dụng lý thuyết chọn lựa hợp lý như là cơ sở cấp độ vi mô để lý giải các hiện tượng vĩ mô

Hai thành tố chủ chốt trong lý thuyết lựa chọn hợp lý của Coleman là các tác nhân và các tiềm năng Coleman cho rằng các chủ thể hành động khi hành động đều hướng tới một mục tiêu được định hình bởi các gía trị hoặc các sở thích Chủ thể hành động sẽ tối đa hoá các lợi ích hay sự thoả mãn các nhu cầu, mong muốn của mình Theo ông, mỗi chủ thể hành động có nhiều tiềm năng và cách thức sử dụng tiềm năng khác nhau Điều đó ảnh hưởng đáng kể tới việc đạt được mục đích hoạt động của họ Ngoài các tiềm năng, chủ thể còn chịu ảnh hưởng của các thiết chế xã hội Tất cả những nhân tố đó đều quy định hành vi của các cá nhân, quy định sự lựa chọn các hành vị của họ

Trong khoảng hai thập kỷ gần đây, lý thuyết lựa chọn hợp lý khá được ưa chuộng Nó được phát triển mạnh khi các lý thuyết vĩ mô ( như thuyết xung đột, thuyết cấu trúc ) có những quan điểm không thống nhất được với nhau khi lý giải các vấn đền thuộc tầm vĩ mô của xã hội Tuy nhiên, Hollis (1987) cũng chỉ ra hai điểm hạn chế quan trọng cần chú ý trong lý thuyết lựa chọn hợp lý - đó là :

Thứ nhất, lý thuyết lựa chọn hợp lý gặp khó khăn khi phải đối đầu với các vấn đề, ví dụ như sự giảm sút những mọng đợi của cá nhân liên quan tới hành vi của các chủ thể khác

Thứ hai, lý thuyết lựa chọn hợp lý có sự liên hệ với nhận thức luận của chủ nghĩa thực chứng và chủ nghĩa thực dụng Chúng ít chú ý tới việc phân tích hành vi

xã hội được định hướng theo chuẩn mực, vai trò và sự thay đổi các luật lệ

Trang 29

Vận dụng lý thuyết lựa chọn hợp lý vào nghiên cứu nhận thức, thái độ của sinh viên đối với giá trị turyền thống dân tộc ta thấy sinh viên có thể được coi là các chủ thể hành động Trong quá trình tổ chức hoạt động sống của mình, họ luôn hành động dựa trên hoặc hướng tới những giá trị nhất định Đó có thể là những giá trị phù hợp hoặc không phù hợp với sự phát triển chung Đó cũng có thể là giá trị của cá nhân chủ thể hành động hoặc có thể là hệ giá trị chung của toàn xã hội Trong các giá trị tồn tại hiện nay, bên cạnh hệ giá trị truyền thống tồn tại từ lâu đời còn xuất hiện nhiều giá trị mới Chúng được nảy sinh từ trong bối cảnh kinh tế xã hội của đất nước, hoặc được du nhập từ bên ngoài vào Việt Nam Trong điều kiện rất nhiều giá trị cùng tồn tại trong xã hội, sinh viên phải đứng trước sự lựa chọn những giá trị mà

họ thấy phù hợp để định hướng hành vi của bản thân mình Tuy nhiên, không phải

ai cũng có sự lựa chọn đúng đắn bởi quá trình lựa chọn giá trị chịu tác động từ nhiều phía Nó không chỉ dựa trên sự nhận thức của bản thân sinh viên đối với các giá trị để xem xét giá trị nào có ý nghĩa hoặc phù hợp với bản thân Hơn thế, những biến số khác nhau như môi trường kinh tế - văn hoá – xã hội, hoàn cảnh sống v.v cũng có tác động khá lớn tới quá trình lựa chọn giá trị của họ Những yếu tố đó chính là những tác nhân có tác động đến nhận thức, thái độ của sinh viên đối với một số giá trị truyền thống dân tộc

Trang 30

Chương 2

Nhận Thức Và Thái Độ Của Sinh Viên Đối Với Một Số Giá Trị

Truyền Thống Dân Tộc Trong Điều Kiện Hiện Nay

2.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội ở TP.HCM hiện nay

Thành phố Hồ Chí Minh là nơi hoạt động kinh tế năng động nhất, đi đầu trong cả nước về tốc độ tăng trưởng kinh tế Nếu như năm 2001 tốc độ tăng GDP của thành phố là 7,4 % thì đến năm 2005 tăng lên 12,2% Phát triển kinh tế với tốc

độ tăng trưởng cao đã tạo ra mức đóng góp GDP lớn cho cả nước Tỷ trọng GDP của thành phố chiếm 1/3 GDP của cả nước

Có thể nói thành phố là hạt nhân trong vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN) và trung tâm đối với vùng Nam Bộ Với mức đóng góp GDP là 66,1% trong vùng(KTTĐPN) và đạt mức 30% trong tổng GDP của cả khu vực Nam Bộ

Kinh tế thành phố có sự chuyển dịch mạnh mẽ Năm 2005, năng suất lao động bình quân toàn nền kinh tế thành phố đạt 63,63 triệu đ/người/năm, năng suất lao động công nghiệp-xây dựng đạt 67,05 triệu đồng (bằng 105,4% năng suất lao động bình quân toàn nền kinh tế), năng suất lao động dịch vụ đạt 66,12 triệu đ (bằng 103,12%), năng suất lao động nông nghiệp đạt 13,66 triệu đồng (bằng 21,5%)

Thành phố là nơi thu hút vốn đầu tư nước ngoài mạnh nhất cả nước, kể từ khi Luật đầu tư được ban hành Số dự án đầu tư vào thành phố chiếm khoảng 1/3 tổng

số dự án đầu tư nước ngoài trên cả nước Năm 2005, đầu tư trực tiếp của nước ngoài tăng khá so với năm 2004, 258 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép với tổng vốn

577 triệu USD, tăng 4,5% về số dự án và 43,7% về vốn đầu tư Có 145 dự án tăng vốn với số vốn điều chỉnh tăng 330 triệu USD Tính chung tổng vốn đầu tư kể cả tăng vốn là 907 triệu USD, tăng 7,7% Bên cạnh đó, có 5 dự án đầu tư ra nước ngoài

có tổng vốn là 29,1 triệu USD

Thành phố luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng thu ngân sách của nhà nước, mặc dù gặp nhiều khó khăn song thu ngân sách của thành phố vẫn không ngừng tăng Năm 2005, tổng thu ngân sách trên địa bàn 58.850,32 tỷ đồng, tăng 22,21% so với năm 2004, đạt 108,27% dự toán cả năm

Trang 31

Về thương mại, dịch vụ, thành phố là trung tâm xuất nhập khẩu lớn nhất nước Kim ngạch xuất nhập khẩu của thành phố ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn đạt 12,4 tỷ USD, tăng 26,1% so với năm 2004 (nếu không tính dầu thô, kim ngạch xuất khẩu tăng 17%) Trong đó, khu vực kinh tế trong nước tăng 28,5%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 23,5% Tổng mức hàng hóa bán lẻ tăng 21,1%, nếu loại trừ yếu tố biến động giá, tăng 11,4% Cơ sở vật chất ngành thương mại được tăng cường với khoảng 400 chợ bán lẻ, 81 siêu thị, 18 trung tâm thương mại, 3 chợ đầu mối Khu vực dịch vụ tăng trưởng vượt kế hoạch, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất - kinh doanh và phục vụ đời sống dân cư Giá trị gia tăng các ngành dịch vụ tăng 12,2% so với năm 2004 Năng suất lao động của các ngành dịch vụ nói chung là 66,12 triệu đồng/người/năm (giá trị gia tăng) trong đó năng suất lao động của Thương mại là 51,6 triệu đồng/người/năm (bằng 78% năng suất lao động ngành dịch vụ)

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm tài chính ngân hàng lớn nhất Việt Nam, thành phố dẫn đầu cả nước về số lượng ngân hàng và doanh số quan hệ tài chính - tín dụng Doanh thu của hệ thống ngân hàng thành phố chiếm khoảng 1/3 tổng doanh thu toàn quốc Năm 2005, các hoạt động tín dụng - ngân hàng tiếp tục phát triển, góp phần đáp ứng nhu cầu sản xuất - kinh doanh Nguồn vốn huy động qua ngân hàng đạt 170.890 tỷ đồng, tăng 23,1% so với năm 2004

Trong quá trình phát triển và hội nhập, thành phố Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò là một trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, dịch vụ của cả nước; là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, một trong ba vùng kinh tế trọng điểm lớn nhất nước và cũng là vùng động lực cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở địa bàn Nam Bộ và cả nước theo chiến lược toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa đã mở ra cho đất nước ta một kỷ nguyên mới, đem lại cho chúng ta nhiều cơ hội để phát triển Nhưng đồng thời toàn cầu hóa cũng mang lại nhiều thách thức trên nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường…Ở đây, tôi muốn chỉ ra sự thách thức trong lĩnh vực văn hóa trước xu thế toàn cầu hóa Bởi vì trong xã hội đổi mới ngày nay đã và đang diễn ra xu thế biến

Trang 32

đổi đáng lo ngại về thang giá trị trong tâm lý không ít người: “Gía trị kinh tế trội hơn giá trị tinh thần, văn hóa; giá trị kinh tế hơn giá trị chính trị; giá trị trước mắt trội hơn giá trị lâu dài; gía trị hiện đại dễ lấn át hơn giá trị truyền thống Vì vậy, cần phải huy động và khai thác một cách tối đa sức mạnh của dân tộc, trong dó có sức mạnh từ chính các giá trị văn hóa truyền thống Điều không kém phần quan trọng nữa là không thể để cho các giá trị truyền thống đó bị băng hoại trước các phản giá trị hoặc bị lấn lướt bởi các thứ văn hóa xa lạ làm tổn hại bản sắc văn hóa dân tộc

2.2 Quan niệm và thái độ của sinh viên về nội hàm của một số giá trị truyền thống dân tộc

Dưới tác động của nền kinh tế thị trường không ngừng biến đổi và phát triển, các giá trị truyền thống dân tộc tồn tại song hành cùng với sự xuất hiện và phát triển của một số giá trị mới Trong hệ giá trị mới đó, có những giá trị tốt đẹp, nhưng bên cạnh đó cũng có một số giá trị xâm nhập vào xã hội mà chưa được kiểm định, chắt lọc, thậm chí là phản giá trị Điều này đã tác động đến nhận thức, thái độ của người Việt Nam nói chung và của thế hệ trẻ trong đó có sinh viên nói riêng đối với một số giá trị truyền thống của dân tộc Trong nghiên cứu về nhận thức của sinh viên đối với một số giá trị truyền thống dân tộc, nếu chỉ đơn thuần nghiên cứu nhận thức của sinh viên đối với một số giá trị truyền thống dân tộc thì rất khó có thể đánh giá được thực sự về nhận thức và thái độ của sinh viên về vấn đề này Tuy nhiên, nếu đặt các giá trị truyền thống dân tộc trong mối tương quan với một số giá trị mới hiện nay để sinh viên có sự cân nhắc khi đánh gía, lựa chọn thì ta có thể đánh giá chính xác hơn xem sinh viên hiện nay có thái độ, nhận thức như thế nào đối với một số giá trị truyền thống dân tộc Do vậy, trong phân tích nhận thức, thái độ của sinh viên về giá trị truyền thống dân tộc, chúng ta sẽ đi vào phân tích, so sánh nhận thức của sinh viên về vai trò và tính cần thiết của giá trị truyền thống trong sự đan xen giữa những giá trị khác trong cuộc sống đương đại Đồng thời, chúng ta cũng đi sâu phân tích nhận thức, thái độ của sinh viên đối với từng giá trị truyền thống dân tộc được lựa chọn nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn thực trạng nhận thức, thái độ của sinh viên hiện nay đối với một số giá trị truyền thống dân tộc

Trang 33

Bảng 2.1: Bảng xếp hạng những giá trị được sinh viên coi trọng thứ 1,

lượng Phần trăm lượngSố Phần trăm lượng Số Phần trăm Tôn trọng các

mối quan hệ

(.Nguồn:Một số yếu tố tác động đến nhận thức, thái độ của sinh viên đối với giá trị

truyền thống dân tộc trong điều kiện hiện nay, 2007 )

Nhìn vào bảng số liệu, chúng ta cĩ thể thấy được nhận thức, thái độ của sinh viên hiện nay đối với một số giá trị truyền thống dân tộc cĩ nhiều sự khác biệt so

với các thế hệ đi trước Nếu như trước kia, Lịng yêu nước đĩng vai trị chủ đạo

trong hệ giá trị truyền thống dân tộc thì ngày nay, đối với một bộ phận thế hệ trẻ lịng yêu nước đã cĩ sự thay đổi đáng kể trong bậc thang giá trị Trong hệ các giá trị

được sinh viên coi trọng thứ nhất, gía trị Tơn trọng các mối quan hệ gia đình được

lựa chọn với tỷ lệ cao nhất, cĩ 57 trường hợp lựa chọn chiếm 57% Tiếp đến giá trị

Chăm chỉ lao động, học tập được xếp vào hàng thứ hai nhưng cĩ tỷ lệ thấp hơn

nhiều cĩ 12 trường hợp chiếm 12% Và giá trị được sinh viên lựa chọn xếp vào

hàng thứ ba là giá trị tinh thần Yêu nước cĩ 10 trường hợp chiếm 10%

Trong hệ những giá trị được sinh viên coi trọng thứ hai, giá trị được ưu tiên

lựa chọn nhiều nhất là Chăm chỉ lao động, học tập cĩ 25 trường hợp chiếm 25% Tiếp theo giá trị được xếp hàng thứ hai, thứ ba lần lượt là giá trị Lạc quan, yêu đời

Trang 34

có 20 trường hợp, chiếm 20% và giá trị Đoàn kết tương thân, tương ái có 17 trường

hợp chiếm 17% Như vậy, ta thấy rằng ba giá trị được sinh viên xếp vào hàng giá trị được coi trọng thứ hai có tỷ lệ chênh lệch không đáng kể và ba giá trị này cũng phù hợp với truyền thống của dân tộc Việt Nam Từ ngày xưa, người Việt Nam vốn có truyền thống chăm chỉ, cần cù, lạc quan và luôn biết đoàn kết, giúp đỡ mọi người và ngày nay bản chất đó vẫn ăn sâu vào con người, vào thế hệ trẻ Việt Nam

Các giá trị được sinh viên xếp vào hàng coi trọng thứ ba là ba giá trị cũng có

tỷ lệ chênh lệch không lớn đó là tinh thần Đoàn kết tương thân, tương ái chiếm 18%

và giá trị Chăm chỉ lao động, học tập chiếm 17%, tiếp đến là giá trị Tự do cá nhân

chiếm 13% Tuy có tỷ lệ lựa chọn không nhiều nhưng ba giá trị trên được ưu tiên lựa chọn nhiều nhất trong hệ giá trị được coi trong thứ ba Ở hệ giá trị được coi trọng thứ ba này đã có sự khác biệt so với trước kia đó là sự xuất hiện của một giá

trị mới là Tự do cá nhân Có lẽ, sống trong thời kỳ đổi mới, thế hệ trẻ nói chung và

sinh viên nói riêng rất chú trọng đến việc “tự do”, họ không muốn bị ràng buộc vào bất cứ điều gì, muốn làm theo cách của mình và muốn mọi người phải tôn trọng

mình nên giá trị Tự do cá nhân có tỷ lệ lựa chọn đứng thứ ba trong hệ giá trị được

được sinh viên coi trong thứ ba

Như vậy, những giá trị được sinh viên coi trọng (ở mức độ khác nhau) đa số đều là những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc được kết tinh và lưu truyền qua bao thế hệ Mặc dù vậy, vẫn có sự khác biệt đôi chút là trật tự các bậc thang giá trị

có thay đổi ít nhiều so với trước kia Đối với cha ông ta ngày trước thì Lòng yêu

nước luôn là giá trị được xếp đầu tiên trong hệ thống các giá trị, rồi sau đó mới đến

các giá trị khác nhưng ngày nay, sinh viên chú trọng đến gía trị Tôn trọng các mối

quan hệ trong gia đình nhiều hơn Có lẽ do ngày nay, sinh viên sống trong cảnh đất

nước thanh bình nên nhận thức và biểu hiện của sinh viên về giá trị yêu nước không được rõ ràng và cụ thể như trước nữa mà nó được biểu hiện thông qua những hành

vi khác hay được chuyển tải qua những giá trị khác mà cụ thể ở đây là Tôn trọng các mối quan hệ gia đình Bởi vì, gia đình có êm ấm, hạnh phúc thì mới góp phần xây dựng đất nước tốt đẹp được Tuy nhiên, điều đáng chú ý là những giá trị được

Trang 35

sinh viên coi trọng khơng hồn tồn là những giá trị mà sinh viên cho là cần thiết đối với cuộc sống của họ

Bảng 2.2 Bảng xếp hạng những giá trị được sinh viên cho là cần thiết thứ nhất, thứ hai, thứ ba.(%)

(.Nguồn:Một số yếu tố tác động đến nhận thức, thái độ của sinh viên đối với giá trị

truyền thống dân tộc trong điều kiện hiện nay, 2007 )

Đối với câu hỏi về xếp hạng những giá trị mà sinh viên cho là cần thiết thứ nhất đối với cuộc sống của mình thì giá trị được đánh giá là cần thiết thứ nhất đối

với cuộc sống của sinh viên hiên nay là tinh thần Lạc quan, yêu đời (cĩ 26 trường hợp, chiếm 26 % ).Tiếp đĩ là gía trị Tơn trọng các mối quan hệ gia đình với (21

trường hợp lựa chọn, chiếm 21%) Gía trị tiếp theo được đánh giá cần thiết nhất đối

với cuộc sống sinh viên hiện nay là Kiếm được nhiều tiền (cĩ 18 trường hợp, chiếm

18%) Mặc dù tỷ lệ lựa chọn giữa các giá trị chênh lệch khơng nhiều nhưng chúng

ta cũng thấy cĩ sự khác biệt giữa giá trị được sinh viên coi trọng nhất và giá trị được

sinh viên cho là cần thiết nhất Nếu như giá trị Tơn trọng các mối quan hệ gia đình

được sinh viên lựa chọn cao nhất (57%) trong ba giá trị sinh viên coi trọng thứ nhất

Gía trị bạn cho là cần thiết thứ 3 Số

lượng Phần trăm lượng Số Phần trăm lượng Số Phần trăm Tôn trọng các

mối quan hệ

Trang 36

thì đối với giá trị sinh viên cho là cần thiết nhất, giá trị này có tỷ lệ lựa chọn thấp

hơn nhiều (21%), xếp sau giá trị Lạc quan, yêu đời Và có thêm một sự khác biệt nữa là trong hệ giá trị sinh viên cho là cần thiết nhất tiếp theo không phải là Cần cù,

chăm chỉ lao động học tập hay Lòng yêu nước mà là giá trị Kiếm được nhiều tiền

Những giá trị được sinh viên đánh giá là cần thiết thứ hai đối với cuộc sống

của mình vẫn là giá trị Lạc quan, yêu đời có tỷ lệ lựa chọn cao nhất (24 trường hợp, chiếm 24%) Tiếp theo là tinh thần Dũng cảm (có 23 trường hợp, chiếm 23%) và giá trị Chăm chỉ lao động, học tập ( có 19 trường hợp, chiếm 19%)

Các giá trị được sinh viên đánh giá cần thiết thứ ba đối với cuộc sống của

mình là Kiếm được nhiều tiền với tỷ lệ lựa chọn cao nhất (có 30 trường hợp, chiếm 30%) Tiếp theo là gía trị Đoàn kết tương thân tương ái (có 17 trường hợp, chiếm 17%) và giá trị Chăm chỉ lao động, học tập (có 13 trường hợp chiếm 13%)

Như vậy, ta có thể thấy những giá trị cần thiết đối với cuộc sống của sinh

viên hiện nay chủ yếu xoay quanh giá trị Lạc quan yêu đời, Tôn trong các mối quan

hệ gia đình, Kiếm được nhiều tiền là chiếm tỷ lệ lựa chọn cao, còn các giá trị như Yêu nước, Đoàn kết tương thân tương ái thì chiếm tỷ lệ thấp hơn Số liệu khảo sát

cho thấy, số lượng sinh viên cho rằng giá trị Lòng yêu nước là cần thiết nhất đối với

cuộc sống của họ thì không có trường hợp nào chiếm 0,0%, cần thiết thứ hai chỉ có

2 trường hợp chiếm 2% và cần thiết thứ ba có 3 trường hợp chiếm 3% Tương tự

như vậy, giá trị Đoàn kết tương thân tương ái, tỷ lệ sinh viên lựa chọn đây là giá trị

cần thiết thứ nhất chỉ có 6 trường hợp chiếm 6%, cần thiết thứ hai có 14 trường hợp chiếm 14% và thứ ba là 17 trường hợp chiếm 17% Trong khi đó, có giá trị nằm ngoài hệ giá trị truyền thống dân tộc tuy không được sinh viên coi trọng nhưng

được sinh viên đánh giá là cần thiết đối với cuộc sống của họ là Kiếm được nhiều

tiền

Từ sự phân tích kết quả khảo sát trên cho thấy giá trị truyền thống dân tộc hiện nay được sinh viên nhận thức khá tốt và đó vẫn là những giá trị được sinh viên coi trọng nhất (Tôn trọng các mối quan hệ gia đình; Chăm chỉ lao đông học tập; Lạc quan yêu đời; Đoàn kết tương thân tương ái và giúp đỡ mọi người) Điều này chứng

tỏ được ý nghĩa trường tồn và vai trò của các giá trị truyền thống dân tộc trong cuộc

Trang 37

sống hiện đại Mặc dù vậy, không phải giá trị truyền thống nào cũng được giữ nguyên vị trí của nó như ngày trước Yêu nước cũng là giá trị được coi trọng nhưng

nó không còn được xếp đầu bảng như trong xã hội truyền thống nữa Bên cạnh đó,

số liệu khảo sát cũng cho ta thấy không phải tất cả những giá trị được sinh viên coi trọng đều là những giá trị được sinh viên cho là cần thiết đối với cuộc sống của họ Chỉ có một số giá trị có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của sinh viên hiên nay như chăm chỉ lao động học tập, lạc quan yêu đời, tôn trọng các mối quan hệ gia đình là những giá trị được sinh viên đánh giá là cần thiết đối với cuộc sống của họ Trong khi đó, một số giá trị truyền thống khác như lòng Yêu nước, Đoàn kết tương thân tương ái, giúp đỡ mọi người đều xếp hạng không cao trong hàng những giá trị được sinh viên cho là cần thiết đối với cuộc sống của mình Thay vào đó sinh viên có xu hướng lựa chọn giá trị khác trong cuộc sống đương đại như Kiếm được nhiều tiền

Sự biến đổi của điều kiện, bối cảnh đời sống kinh tế xã hội khiến vai trò của các giá trị truyền thống thay đổi và đồng thời khiến cho những giá trị mới xuất hiện là điều tất yếu xảy ra Gía trị nào cũng có sức sống và sẽ phát huy mạnh mẽ vai trò của mình khi nó vừa là giá trị được coi trọng đồng thời cũng vừa là giá trị được cho là cần thiết đối với cuộc sống Tuy nhiên, nếu những giá trị này không thực sự cần thiết đối với cuộc sống đương đại bằng những giá trị khác, hoặc bản thân các giá trị truyền thống không khẳng định và phát huy được vai trò của mình trong cuộc sống thì tất yếu sự coi trọng các giá trị truyền thống của sinh viên sẽ bị mất dần và thay thế chúng là những giá trị khác Khi đó, nhận thức về giá trị truyền thống của dân tộc sẽ không còn tốt nữa Vấn đề đặt ra là làm thế nào để giá trị truyền thống dân tộc không chỉ là những giá trị được sinh viên coi trọng mà còn là những giá trị được sinh viên cho là cần thiết đối với cuộc sống của họ hiên nay? Như vậy, mới có thể tạo nên được sức sống mãnh liệt và bền vững cho các giá trị truyền thống khi đặt nó song hành cùng những giá trị hiện đại Để có thể hiểu được sâu sắc hơn về nhận thức của sinh viên đối với giá trị truyền thống dân tộc, ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về thái

độ, nhận thức của sinh viên đối với từng giá trị truyền thống được lựa chọn nghiên cứu

Trang 38

*Nhận thức của sinh viên về giá trị Lòng yêu nước

Tình cảm và tư tưởng yêu nước là tình cảm và tư tuởng lớn nhất của nhân dân, của dân tộc Việt Nam Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại Yêu nuớc thành một triết lý xã hội và nhân sinh của người Việt Nam Do hoàn cảnh lịch sử Việt Nam luôn phải đối đầu với kẻ thù xâm lược lớn nhỏ ở phương Đông và phương Tây nên tinh thần yêu nước đã trở thành giá trị đứng đầu bảng trong hệ giá truyền thống dân tộc Việt Nam Tuy nhiên, được sinh ra và lớn lên trong cảnh đất nước thanh bình nên không phải ai nhất là thế

hệ trẻ như sinh viên đều ý thức được giá trị yêu nước như ông cha ta ngày trước Khi đánh giá việc cần thiết phải giữ gìn giá trị Yêu nước kết quả như sau:

Hình 2.1 Mức độ cần thiết giữ gìn giá trị Yêu nước

Phần trăm (%)

không cần thiết

ít cần thiết

bình thường

cần thiết rất cần

thiết

Mức độ Mức độ cần thiết phải giữ gìn giá trị yêu nước

(.Nguồn: Một số yếu tố tác động đến nhận thức, thái độ của sinh viên đối với giá trị

truyền thống dân tộc trong điều kiện hiện nay, 2007 )

Bảng đánh giá về việc cần thiết giữ gìn giá trị Yêu nước cho ta thấy có 42% cho rằng cần thiết phải giữ gìn giá trị Yêu nước Tuy không nhiều nhưng cũng có 5% cho rằng không cần thiết phải giữ gìn giá tri này và tới 27 truờng hợp lựa chọn ở mức độ bình thường chiếm 27% Như vậy, có hơn 30% sinh viên cho rằng việc giữ gìn giá trị Yêu nước là bình thường hoặc không cần thiết Lý do của điều này có thể

Trang 39

là do sinh viên hiện nay chưa nhận thức và thấy rõ được vai trò của giá trị yêu nước trong cuộc sống đương đại Khi phỏng vấn sâu một số sinh viên, kết quả định tính cũng cho thấy có nhiều ý kiến khác nhau:

Yêu nước là một truyền thống quý báu của dân tộc Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, lòng yêu nước càng được khẳng định rõ ràng hơn vai trò của mình Nó được truyền từ đời này sang đời khác Nếu như cha ông ta ngày trước không có một lòng yêu nước nồng nàng thì liệu chúng ta có được như ngày nay hay không? Vì vậy, bản thân tôi nghĩ cần phải giữ gìn và phát huy lòng yêu nước của mình nhất là trong thời đại ngày nay bằng cách học tập tốt để góp phần xây dựng đất nước (Nữ; năm 4; khối xã hội)

Tôi thấy cũng bình thường thôi, vì những biểu hiện của lòng yêu nước ngày nay khá mờ nhạt và không rõ ràng lắm Đặc biệt giới trẻ trong đó có cả sinh viên ngày nay ít chú trọng, ít quan tậm lắm (Nam; năm 4; khối Kinh tế)

Tôi coi trọng tinh thần yêu nước, nhưng tôi nghĩ yêu nước không nhất thiết phải làm điều gì đó to tát mà chỉ cần chúng ta sống tốt, là một người công dân có ích cho xã hội, lao động và học tập tốt là cũng đủ thể hiện tinh thần yêu nước rồi (Nũ; năm 4; khối Kinh tế)

Với cá nhân tôi tinh thần yêu nước không thiết thực lắm đối với sinh viên trong thời đại ngày nay (Nam; năm 4; khối xã hội)

*Nhận thức của sinh viên về tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái

Tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái của dân tộc Việt Nam đã được truyền tụ và trải dài qua bao thế hệ Do đất nước ta bị đô hộ hàng nghìn năm, cùng với việc phải gánh chịu những thiên tai, lũ lut… Có lẽ vì vậy mà người dân Việt Nam từ rất sớm đã ý thức được giá trị của tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái

Họ phải đoàn kết để đánh đuổi giặc xâm lăng, đoàn kết cùng nhau chống trả thiên nhiên khắc nghiệt Và bản tính đó đã ăn sâu vào từng con người Việt Nam Có lẽ vì vậy mà tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị của

nó Khi đánh giá mức độ cần thiết phải giữ gìn giá trị tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái, kết quả thu được là

Trang 40

Hình 2.2: Mức độ cần thiết phải giữ gìn giá trị đoàn kết tương thân, tương ái

Phần trăm (%)

ít cần thiết bình thường cần thiết rất cần thiết

Mức độ

Mức độ cần thiết phải giữ gìn Tinh thần đoàn kết tương

thân tương ái

(.Nguồn: Một số yếu tố tác động đến nhận thức, thái độ của sinh viên đối với giá trị

truyền thống dân tộc trong điều kiện hiện nay, 2007 )

Khi được hỏi đánh giá về việc giữ gìn giá trị tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái thì có tới 46 sinh viên lựa chọn là cần thiết (46%) và tỷ lệ lựa chọn ở mức bình thường là 21% Nếu như so sánh với giá trị yêu nước thì giá trị đoàn kết tương thân, tương ái có tỷ lệ lựa chọn cao hơn Điều này chứng tỏ rằng, giá trị này vẫn được sinh viên coi trọng và đánh giá cao trong cuộc sống hiện nay Thật vậy, dù cuộc sống ngày nay có hiện đại hóa, công nghiệp hóa đến mấy đi nữa thì việc cảm thông chia sẻ, đoàn kết giúp đỡ mọi người vẫn rất cần thiết Vì vẫn còn rất nhiều những trẻ em mồ côi, những người nghèo khổ, những cụ già neo đơn…, họ vẫn cần

sự đỡ nâng của chúng ta Bên cạnh đó, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì tinh thần đoàn kết trong lao động, sản xuất cũng rất cần thiết Chúng ta không thể đơn phương cạnh tranh mà phải biết hợp sức để cùng nhau phát triển nền kinh tế

nước nhà

Kết quả phỏng vấn sâu cũng cho ta thấy nhận thức, thái độ của sinh viên hiện nay về giá trị tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái là khá tốt Phần lớn sinh viên khi được phỏng vấn đều thể hiện sự coi trọng của họ đối với giá trị này Đồng thời

Ngày đăng: 30/10/2022, 05:26