Một số tác nhân khác ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ của sinh viên hiện nay đối với một số giá trị truyền thống dân tộc

Một phần của tài liệu kl huynh thi kim ngan (Trang 92 - 107)

Bên cạnh những yếu tố như gia đình, nhà trường, các tổ chức địa phương…

thì những yếu tố như giới tính, nơi cư trú, ngành học cũng tác động không nhỏ đến nhận thức, thái độ của sinh viên đối với các giá trị tuyền thống dân tộc.

3.2.1 Gii tính

Trong đời sống hằng ngày giữa giới nam và giới nữ cũng có sự khác biệt trong việc nhìn nhận một vấn đề xã hội, do đó sẽ có sự khác biệt trong nhận thức giữa người nam và người nữ đối với các giá trị truyền thống dân tộc. Nguyên nhân trước hết là do yêu tố sinh học, tự nhiên, nguyên nhân thứ hai là phát xuất từ những quan niệm xã hội. Đặc biệt ảnh hưởng từ quá trình xã hội hóa, những điều họ tiếp thu được thông qua quá trình xã hội hóa sẽ là các tác nhân chi phối suy nghĩ và hành động của các cá nhân. Đứng trước xã hội, giới nữ thường bị kiểm soát gắt gao hơn về tính nết, phẩm chất đạo đức, lối sống. Do đó, nữ giới thường có đời sống nội tâm cao hơn so với nam giới, nữ giới sống khá khép kín và cẩn trọng hơn mặc dù sinh viên hiện nay đã có nhiều tiến bộ hơn trước về sự bình đẳng. Chính vì vây, giữa nam giới và nữ giới sẽ có sự khác biệt trong việc đánh giá những giá trị mà họ coi trọng và cho là cần thiết.

Bảng 3.9 Tương quan giữa giới tính và những gía trị đựơc sinh viên coi trọng thứ nhất, thứ hai và thứ ba.

Hệ giá trị

Gía trị bạn coi

trọng thứ nhất Gía trị bạn coi

trọng thứ hai Gía trị bạn coi trọng thứ ba

Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ

Tôn trọng các moỏi quan heọ trong gia ủỡnh

54.0% 60.0% 12.0% 14.0% 12.0% 10.0%

Lạc quan, yêu

đời 8.0% 8.0% 24.0% 16.0% 12.0% 10.0%

Chaờm chổ lao

động, học tập 12.0% 12.0% 20.0% 30.0% 12.0% 22.0%

Đoàn kết tửụng thaõn, tương ái

6.0% 10.0% 12.0% 22.0% 12.0% 24.0%

Dũng cảm 6.0% 2.0% 12.0% 4.0% 12.0% 10.0%

Lòng yêu

nước 12.0% 8.0% 8.0% 6.0% 8.0% 16.0%

Tự do cá nhân 2.0% 0.0% 10.0% 4.0% 22.0% 4.0%

Kiếm được

nhieàu tieàn 0.0% 0.0% 2.0% 4.0% 10.0% 4.0%

(.Nguồn:Một số yếu tố tác động đến nhận thức, thái độ của sinh viên đối với giá trị truyền thống dân tộc trong điều kiện hiện nay, 2007 .)

Đối với ba giá trị có tỷ lệ lựa chọn cao nhất trong hàng những giá trị được sinh viên coi trọng thứ nhất (Coi trong các mối quan hệ gia đình, Chăm chỉ lao động học tập, tinh thần Yêu nước), bảng số liệu cho ta thấy có sự khác biệt trong việc lựa chọn giữa hai giới. Trong tổng số sinh viên lựa chọn giá trị Tôn trọng các mối quan hệ gia đình là giá trị coi trọng nhất thì có 60% nữ giới lựa chọn giá trị này, và ở nam giới chiếm 54%. Sự chênh lệch này cũng thật dễ hiểu bởi nữ giới thường sống thiên về tình cảm và là người chịu trách nhiệm nhiều nhất về việc chăm lo cho gia đình từ việc giáo dục con cái đến việc củng cố mối quan hệ trong gia đình. Điều này cũng rất phù hợp với bản chất của người phụ nữ phương Đông nói chung và của người phụ nữ Việt Nam nói riêng. Với giá trị Yêu nước thì nam sinh viên có tỷ lệ lựa chọn cao hơn chiếm 12%, còn nữ sinh viên chỉ chiếm 8%. Từ ngày xưa, nam giới luôn đại diện cho sức mạnh và là người đi đầu trong việc giành và giữ độc lập tự do của Tổ quốc, và bản chất này đã ăn sâu vào con người vào thế hệ trẻ Việt Nam đặc biệt

là nam giới. Đối với Tinh thần chăm chỉ học tập lao động, giữa nam giới và nữ giới có tỷ lệ ngang nhau cùng chiếm 12%.

Ở ba giá trị đầu tiên trong hệ giá trị được coi trọng thứ hai là gía trị Chăm chỉ lao động học tập; Lạc quan yêu đời và tinh thần Đoàn kết tương thân tương ái cũng có sự khác biệt trong sự lựa chọn của nam giới và nữ giới. Hai giá trị được nữ giới lựa chọn với tỷ lệ cao nhất là Chăm chỉ lao động học tập chiếm 30% và Đoàn kết tương thân tương ái chiếm 22%. Còn đối với nam giới tỷ lệ lựa chọn hai giá trị này thấp hơn của nữ giới, lần lượt là 20% và 12%. Tuy nhiên, đối với giá trị Lạc quan, yêu đời thì nam giới có tỷ lệ lựa chọn cao hơn (chiếm 24%) so với nữ giới (chiếm 16%). Sang hệ các giá trị được sinh viên coi trọng thứ ba, những gía trị được nữ giới lựa chọn chiếm tỷ lệ cao là Đoàn kết tương thân tương ái (chiếm 24%), Tinh thần cần cù lao động, học tập (chiếm 22%). Cũng tương tự như hệ giá trị được coi trọng thứ hai, các giá trị được coi trọng thứ ba này ở nam giới cũng thấp hơn nữ giới với tỷ lệ là Đoàn kết tương thân tương ái (chiếm 12%), Tinh thần cần cù lao động, học tập (chiếm 12%).

Trong hệ giá trị được coi trọng thứ ba, giá trị được nam giới ưu tiên lựa chọn với tỷ lệ cao là một giá trị khác, nằm ngoài hệ giá trị truyền thống dân tộc là giá trị Tự tin vào bản thân (chiếm 22%), trong khi với giá trị này ở nữ giới chỉ chiếm tỷ lệ là 4%.

Bảng 3.10 Tương quan giữa giới tính và những gía trị đựơc sinh viên cho là cần thiết thứ nhất, thứ hai và thứ ba.

Hệ giá trị

Gía trị bạn cho là cân thiết

thứ 1

Gía trị bạn cho là cân thiết

thứ 2

Gía trị bạn cho là cân thiết

thứ 3

Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Tôn trọng các

moỏi quan heọ

trong gia ủỡnh 12.0% 30.0% 14.0% 8.0% 4.0% 6.0%

Lạc quan, yêu

đời 26.0% 26.0% 16.0% 32.0% 16.0% 8.0%

Chaờm chổ lao

động, học tập 18.0% 16.0% 14.0% 24.0% 8.0% 18.0%

Đoàn kết tương

thân, tương ái 8.0% 4.0% 16.0% 12.0% 16.0% 18.0%

Dũng cảm 12.0% 4.0% 30.0% 16.0% 18.0% 6.0%

Lòng yêu nước 0.0% 0.0% 2.0% 2.0% 2.0% 4.0%

Tự do cá nhân 2.0% 6.0% 4.0% 6.0% 10.0% 6.0%

Kiếm được nhiều

tieàn 22.0% 14.0% 4.0% 0.0% 26.0% 34.0%

(Nguồn: Một số yếu tố tác động đến nhận thức, thái độ của sinh viên đối với giá trị truyền thống dân tộc trong điều kiện hiện nay, 2007 .)

Trong hệ giá trị được cho là cần thiết đối với cuộc sống của sinh viên hiện nay, có sự khác biệt giữa nam và nữ trong việc lựa chọn những giá trị mà họ cho là cần thiết nhất. Mặc dù những giá trị được nam và nữ coi trọng nhất đều là các giá trị Coi trọng các mối quan hệ gia đình; Chăm chỉ lao động học tập và tinh thần Yêu nước nhưng những giá trị này không phải hoàn toàn là những giá trị được sinh viên cho là cần thiết đối với cuộc sống của họ. Đối với nam giới, những giá trị họ cho là cần thiết nhất đối với cuộc sống của họ có tỷ lệ cao nhất là giá trị Lạc quan yêu đời, chiếm 26% trong tổng số sinh viên nam, kế tiếp là giá trị Kiếm được nhiều tiền (22%, tỷ lệ lựa chọn giá trị này cao hơn nữ rất nhiều) và giá trị có tỷ lệ lựa chọn cao thứ ba là giá trị Chăm chỉ lao động học tập (18%). Còn đối với nữ giới, giá trị có tỷ lệ lựa chọn cao nhất trong tổng số sinh viên nữ vẫn là giá trị Tôn trọng các mối quan hệ gia đình với 30 sinh viên nữ lựa chọn, chiếm 30%, tiếp theo là giá trị Lạc quan yêu đời Chăm chỉ lao động học tập rồi mới đến giá trị Kiếm được nhiều

tiền lần lượt có tỷ lệ lựa chọn là 26%, 16% và 14%. Như vậy, trong hệ giá trị được cho là cần thiết nhất, nam giới đề cao tinh thần lạc quan và kiếm được nhiều tiền trong khi nữ giới vẫn trung thành với giá trị tôn trọng các mối quan hệ gia đình là cần thiết nhất. Đối với nữ giới gia đình luôn được đặt lên hàng đầu và việc làm như thế nào để có một gia đình hạnh phúc luôn là mối quan tâm của họ. Có lẽ vì lẽ đó mà giá trị Tôn trọng các mối quan hệ gia đình được nữ giới ưu tiên cho là giá trị được coi trọng nhất và cũng là giá trị cần thiết nhất đối với cuộc sống của họ.

Đối với các gía trị được cho là cần thiết thứ hai, nam giới ưu tiên lựa chọn giá trị Dũng cảm có tỷ lệ lựa chọn chiếm 30% trong khi nữ giới lại chọn giá trị Lạc quan yêu đời là giá trị có tỷ lệ lựa chọn cao nhất trong hệ giá trị được coi là cần thiết thứ hai (32%, cao gấp đôi sự lựa chọn của nam giới đối với giá trị này). Hai gía trị tiếp theo là tinh thần Đoàn kết tương thân tương ái Lạc quan yêu đời có tỷ lệ nam giới lựa chọn như nhau cùng chiếm 16%. Còn giá trị có tỷ lệ nữ giới lựa chọn cao thứ hai là giá trị Chăm chỉ lao động học tập (24%). Tiếp đến, gía trị có tỷ lệ lựa chọn cao thứ ba đối với nam giới là hai giá trị Tôn trong các mối quan hệ gia đìnhChăm chỉ lao động học tập (cùng chiếm 14%). Trong khi đó, nữ giới lại lựa chọn giá trị Dũng cảm. Điều này cho thấy rằng, ngày nay không chỉ có nam giới là mạnh mẽ, sẵn sàng đương đầu với những khó khăn mà phụ nữ cũng là những người không dễ bị khuất phục trước những khó khăn trong cuộc sống.

Đối với những giá trị cần thiết thứ ba trong cuộc sống của sinh viên, nam giới chọn nhiều nhất ở gía trị Kiếm được nhiều tiền (24%), kế tiếp là giá trị Dũng cảm (18%) và hai giá trị Lạc quan yêu đời; Đoàn kết tương thân tương ái cùng có tỷ lệ nam giới lựa chọn như nhau (16%). Cũng giống như nam giới, ở hệ giá trị được cho là cần thiết thứ ba thì nữ giới cũng ưu tiên lựa chọn giá trị Kiếm được nhiều tiền (34%), sau đó mới đến hai giá trị cùng có tỷ lệ lựa chọn như nhau đó lá giá trị Đoàn kết tương thân tương ái và giá tri Chăm chỉ lao động học tập (18%).

Một trong những tác động tiêu biểu về mặc giới tính còn được thể hiện trong việc đánh giá mức độ cần thiết phải giữ gìn các giá trị truyền thống dân tộc.

Bảng 3.11 Tương quan giữa giới tính và mức độ giữ gìn giá trị yêu nước Mức độ cần

thiết giữ gìn giá trị yêu nước

giới tính Tổng

nam nữ

Taàn soá

Phaàn traêm Taàn

soá Phaàn

traêm Taàn

soá Phaàn traêm Khoâng caàn

thieát 3 6.0 2 4.0 5 5.0

Ít caàn thieát 1 2.0 1 2.0 2 2.0 Bình thường 10 20.0 17 34.0 27 27.0 Caàn thieát 22 44.0 20 40.0 42 42.0 Raát caàn thieát 14 28.0 10 20.0 24 24.0 Toồng 50 100.0 50 100.0 100 100.0 (.Nguồn: Một số yếu tố tác động đến nhận thức, thái độ của sinh viên đối với giá trị truyền thống dân tộc trong điều kiện hiện nay, 2007 .)

Nhìn vào bảng số liệu cho ta thấy đối với việc đánh giá mức độ cần thiết phải giữ gìn giá trị yêu nước giữa nam và nữ có sự khác biệt. Cụ thể, có 28% nam sinh viên cho rằng việc giữ gìn giá trị yêu nước là rất cần thiết, và ở mức độ cần thiết có 44%. Trong khi đó, chỉ có 20% nữ giới cho rằng việc giữ gìn giá trị yêu nước là rất cần thiết và 40% cho là cần thiết (hai tỷ lệ lựa chọn này đều thấp hơn nam giới). Và chỉ có 20% nam giới cho việc giữ gìn giá trị yêu nước là bình thường nhưng lại có tới 34% nữ giới lựa chọn mức độ này. Như vậy, đối với việc giữ gìn giá trị yêu nước nam giới có sự đánh giá cao hơn nữ giới.

Ngoài ra còn có sự khác biệt giữa nam và nữ trong việc đánh giá mức độ giữ gìn giá trị tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái. Số liệu khảo sát cho ta thấy: nữ giới có sự đánh gía cao việc giữ gìn giá trị tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái hơn nam giới. Cụ thể, có tới 44% nữ sinh viên (cao hơn gấp đôi nam sinh viên) lựa chọn mức độ rất cần thiết phải giữ gìn giá trị tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái, trong khi đó chỉ có 20% nam sinh viên lựa chọn mức độ này. Và tỷ lệ lựa chọn mức độ bình thường khi đánh giá việc cần thiết phải giữ gìn tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái ở nam sinh viên là 28%, ở nữ sinh viên là 14%. Điều này cho thấy, nữ giới thường giúp đỡ nhau, quan tâm nhau hơn nam giới. Khi gặp khó khăn trong cuộc sống, họ dễ dàng tìm đến nhau để chia sẻ, tâm sự và cùng nhau vượt qua những khó khăn. Nhưng ngược lại, đối với nam giới họ lại thường tự mình giải quyết những khó khăn mà ít khi phải nhờ đến người khác.

Bảng 3.12 Tương quan giữa giới tính và tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái.

Mức độ cần thiết giữ gìn giá trị tinh thần đoàn kết tương thân tương ái

giới tính Tổng

nam nữ Tần

soá

Phaàn traêm Taàn

soá

Phaàn traêm

Taàn soá

Phaàn traêm

Ít caàn thieát 2 4.0 2 2.0

Bình thường 14 28.0 7 14.0 21 21.0 Caàn thieát 24 48.0 22 44.0 46 46.0 Raát caàn thieát 10 20.0 21 42.0 31 31.0 Toồng 50 100.0 50 100.0 100 100.0 (Nguồn: Một số yếu tố tác động đến nhận thức, thái độ của sinh viên đối với giá trị truyền thống dân tộc trong điều kiện hiện nay, 2007 .)

Và như trên đã phân tích, có sự khác nhau giữa nam và nữ trong tỷ lệ lựa chọn giá trị Tôn trọng các mối quan hệ gia đình là giá trị được coi trọng và cần thiết đối với cuộc sống nên cũng sẽ có sự khác biệt giữa nam và nữ khi đánh giá vai trò của gia đình trong cuộc sống hiên nay.Kết quả khảo sát cho thấy có 80% nam giới lựa chọn gia đình luôn là động lực để bạn phấn đấu vươn lên, tỷ lệ lựa chọn này cao hơn nữ giới (70%). Có lẽ nam giới luôn ý thức được trách nhiệm của mình trong gia đình - họ sẽ là trụ cột vững chắc của gia đình sau này - vì vậy họ luôn lấy gia đình làm mục tiêu phấn đấu vươn lên trước tiên là để báo đáp công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ và sau là để xây dựng cho mình một gia hạnh phúc, ấm no. Và tỷ lệ lựa chọn gia đình có vai trò cung cấp những thứ bạn cần trong cuộc sống thì nam giới vẫn cao hơn nữ giới (72% - 60%). Tuy nhiên, đối với nội dung lựa chọn gia đình là chỗ dựa tinh thần, tình cảm thì nữ giới lại có tỷ lệ lựa chọn cao hơn nam giới. Điều này cũng nói lên xu hướng nữ giới thường sống thiên về tình cảm hơn.

Bảng 3.13 Tương quan giữa giới tính và việc đánh giá vai trò của gia đình trong cuộc sống hiện nay.

Vai trò của gia đình

giới tính

nam nữ

Tần số Phần trăm Tần số Phần trăm Luôn là động lực để

bạn phấn đấu 40 80.0% 35 70.0%

Là chỗ dựa tinh thần,

tình cảm của bạn 33 66.0% 44 88.0%

Cung cấp cho bạn những

thứ cần thiết 36 72.0% 30 60.0%

Gia đình không có vai

trò gì 1 2.0% 2 4.0%

Tổng 50 220.0% 50 222.0%

(.Nguồn: Một số yếu tố tác động đến nhận thức, thái độ của sinh viên đối với giá trị truyền thống dân tộc trong điều kiện hiện nay, 2007 .

Đối với giá trị tinh thần Dũng cảm cũng cho ta một sự khác biệt khá rõ nét giữa hai giới. Khi so sánh sự đánh giá về việc giữ gìn giá trị Tinh thần dũng cảm giữa nam giới và nữ giới thì ta thấy rằng nam giới đề cao giá trị này hơn nữ giới. Tỷ lệ nam giới cho rằng rất cần thiết phải giữ gìn giá trị Tinh thần dũng cảm (26%) cao hơn nữ giới (12%). Trong khi đó, số nam giới cho việc giữ gìn giá trị Tinh thần dũng cảm là bình thường (28%) lại thấp hơn nữ giới (42%). (xem bảng phụ lục) 3.2.2 Ngành hc.

Trong thực tế cho thấy, sinh viên thuộc khối ngành xã hội thường nhạy cảm hơn về mặt tâm lý, sống thiên về tình cảm hơn, trong khi đó sinh viên thuộc khối kinh tế thường sống thực tế hơn. Ở đây, chúng ta không nên bàn cãi hoặc đánh gía sinh viên ngành kinh tế hay sinh viên ngành xã hội là tốt hay xấu mà chúng ta chỉ tìm hiểu sự nhận thức khác nhau giữa hai khối ngành và chính sự khác nhau này sẽ làm phong phú, đa dạng thêm cách sống, cách nhìn nhận vấn đề của sinh viên. Do vậy, yếu tố ngành học cũng sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến nhận thức, thái độ của sinh viên đối với một số giá trị truyền thống. Khi so sánh giữa hai khối ngành kinh tế và khối ngành xã hội về những giá trị mà họ coi trọng và cho là cần thiết đối với cuộc sống của sinh viên, kết quả khảo sát như sau:

Bảng 3.14 Tương quan giữa khối ngành học và đánh giá những giá trị được coi trọng thứ nhất, thứ hai, thứ ba.

Hệ giá trị

Gía trị bạn coi trọng thứ

nhaát

Gía trị bạn coi

trọng thứ hai Gía trị bạn coi trọng thứ ba Kinh

tế Xã hội Kinh tế Xã

hội Kinh tế Xã hội Tôn trọng các

moỏi quan heọ trong gia ủỡnh

52.0% 62.0% 14.0% 12.0% 8.0% 14.0%

Lạc quan, yêu đời 12.0% 4.0% 18.0% 22.0% 8.0% 14.0%

Chaờm chổ lao

động, học tập 6.0% 18.0% 26.0% 24.0% 20.0% 14.0%

Đoàn kết tương

thân, tương ái 8.0% 8.0% 22.0% 12.0% 18.0% 18.0%

Dũng cảm 6.0% 2.0% 6.0% 10.0% 10.0% 12.0%

Lòng yêu nước 16.0% 4.0% 4.0% 10.0% 10.0% 14.0%

Tự do cá nhân 0.0% 2.0% 8.0% 6.0% 22.0% 4.0%

Kiếm được nhiều

tieàn 0.0% 0.0% 2.0% 4.0% 4.0% 10.0%

(Nguồn:Một số yếu tố tác động đến nhận thức, thái độ của sinh viên đối với giá trị truyền thống dân tộc trong điều kiện hiện nay, 2007 .)

Đối với những giá trị được coi trọng thứ nhất (Coi trọng các mối quan hệ gia đình; Chăm chỉ lao động học tập và tinh thần Yêu nước), bảng số liệu cho thấy giá trị Coi trọng các mối quan hệ gia đình được sinh viên khối Khoa học xã hội ưu tiên lưa chọn với tỷ lệ cao nhất chiếm 62% trong tổng số sinh viên khoa học xã hội. Tỷ lệ lựa chọn giá trị này ở khối kinh tế thấp hơn, chiếm 52% trong tổng số sinh viên khối kinh tế. Đối với giá trị Lòng yêu nước thì khối kinh tế có tỷ lệ lưa chọn cao hơn khối xã hội chiếm 16% trong tổng sinh viên khối kinh tế, xếp thứ thứ hai trong ba giá trị mà khối kinh tế cho là coi trọng nhất. Trong khi đó, khối xã hội có tỷ lệ lưa chọn giá trị Chăm chỉ lao động học tập cao thứ hai trong những giá trị được coi trọng nhất chiếm 18% và tiếp đến là gía trị tinh thần Đoàn kết tương thân tương ái chiếm 8%, còn khối kinh tế lại lựa chọn giá trị Lạc quan yêu đời đứng thứ ba trong hệ giá trị được coi trọng nhất chiếm 12%.

Một phần của tài liệu kl huynh thi kim ngan (Trang 92 - 107)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(136 trang)