1.3 Quan điểm của các nhà xã hội học và hướng tiếp cận lý thuyết
1.3.1 Quan điểm của các nhà xã hội học
Thuật ngữ "gía trị"có nguồn góc từ một từ gốc Hylạp là AXLA có nghĩa là giá trị. Thuật ngữ này được dùng nhiều trong các trường phái triết học, xã hội học thực chứng, tương tác tượng trưng. vấn đề giá trị được các nhà xã hội học quan tâm từ rất sớm. Họ thường đi sau tìm hiểu vai trò của giá trị trong việc điều chỉnh hành vi của con người và các mối quan hệ xã hội. Liên quan đến nghiên cúu về giá trị trong ngành khoa học xã hội học, có lẽ ta phải kể đến những cây đại thụ tiêu biểu cho ngành khoa học này như M.Weber, E.Durkheim.
Weber là người đưa ra khái niệm này với tư cách là một phạm trù vào trong khoa học xã hội học. Theo quan niệm của Weber thì bất kỳ hành động nào của cá nhân có ý thức thì đều kèm theo một giá trị. Tuy nhiên hành vi có ý thức của cá nhân cũng chưa đủ điều kiện để trở thành hành vi xã hội được nếu như chủ thể hành động không có định hướng, không quan tâm đến phản ứng đáp lại của những người xung quanh (xã hội). Khi bàn về những hành vi tôn giáo của con người Weber cho rằng khi con người tụng kinh thầm, nghĩa là chỉ có mối liên hệ giữa anh ta và Chúa, lúc đó hành vi có ý thức nhưng không phải hành vi xã hội, hành vi này mang "giá trị cá nhân". Cũng trường hợp tụng kinh nhưng kẻ hành đạo kia đọc thành lời hoà cùng với những ngưòi xung quanh, lắng nghe giọng điệu và âm thanh của họ để hoà vào một hành động tụng kinh chung, hành vi này lại là hành vi xã hội. Và dĩ nhiên lúc đó hành động của anh ta mang giá trị xã hội. Khi con người gia nhập vào các hoạt động tập đoàn nó phải tuân thủ kỷ luật, quy tắc của tâp đoàn, đó chính là những chuẩn mực điều chỉnh hành vi xã hội của cá nhân cũng như của tập đoàn xã hội.
Khi Weber đi tìm nguồn gốc của giá trị trong quan hệ của cá nhân với tư cách là chủ thể hoạt động xã hội với những cá nhân khác vừa là khách thể vừa là chủ thể trong tương tác xã hội thì Durkheim coi giá trị chính là ý thức tập đoàn được hình thành trong sự hợp tác và đoàn kết xã hội. Ý thức tập đoàn hình thành nhờ vào cơ chế điều tiết của các giá trị xã hội cơ bản. Hoạt động là cơ sở của sự đoàn kết xã hội mà nó có cội nguồn từ sự phân công lao động xã hội và tổ chức xã
hội. Đoàn kết xã hội theo Durkheim, nó giống như một kiểu quan hệ giữa cấu trúc và chứa năng với các giá trị phù hợp. Hiểu theo nghĩa đó, để có thể duy trì sự đoàn kết xã hội đòi hỏi phải có một hệ gia trị phù hợp để điều chỉnh, chi phối các mối quan hệ đó. Hệ giá trị giống như chuẩn mực chi phối hành vi của cá nhân với các mối quan hệ xã hội Khi hệ giá trị mất đi vai trò trong việc chi phối, điều chỉnh hành vi của con người và các mối quan hệ xã hội, nó dẫn tới sự rối loạn và có thể phá vỡ cấu trúc xã hội. Những hành vi đi ngược lại hệ giá trị trong xã hội bị quy là những hành vi lệch chuẩn. Durkheim phân tích sâu hơn về vai trò của giá trị khi ông bàn về vấn đề tự tử. Durkheim không lý giải hiện tượng tự tử từ góc độ sự bất ổn trong tâm lý cá nhân mà ông lý giải hiện tượng này từ góc độ xã hội. Theo Durkheim tự tử có liên quan đến đoàn kết xã hội - sự phụ thuộc của cá nhân vào các mối quan hệ xã hội và vào sự kiểm soát, điều tiết của hệ giá trị, chuẩn mực xã hội và hành vi cá nhân. Như vâỵ, giá trị có vai trò rất quan trọng trong xã hội bởi nó điều tiết được hành vi cá nhân và mối quan hệ xã hội, từ đó nó góp phần duy trì ổn định của xã hội.
1. 3.2 Hướng tiếp cận lý thuyết 1.3.2.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng.
Các đại diện cho thuyết này là: E.Durkheim, T.Parsons, H.spencer…
E.Durkheim và những người kế tục lý thuyết của ông đã quan tâm tới một vấn đề cơ bản là: làm sao mà xã hội có thể tồn tại lâu dài như một thể thống nhất chứ không phải chỉ là tập hợp những cá nhân đối nghịch. Câu trả lời về “vấn đề trật tự xã hội”
này là: chính xã hội hóa đã dẫn đến sự hòa cảm đối với các chuẩn mực và giá trị.
Đối với họ nguyên nhân tạo nên sự bền vững của xã hội là sự tuân thủ các quy luật của hành vi.Các cá nhân có thể đến rồi đi, nhưng xã hội tiếp tục bền vững bởi vì nó có thể quy định được hành vi của những cá nhân mới tham gia vào xã hội sao cho thích đáng.
Từ quan điểm này, các đặc trưng xã hội không thể được giải thích như là sản phẩm của những lựa chọn của các cá nhân do bản thân những lựa chọn này mà là sản phẩm của quá trình xã hội hóa. Những người theo thuyết chức năng cho rằng
các xã hội có những khuynh hướng được xây dựng nội tại hướng tới hài hòa và tự điều chỉnh, tương tự như những tổ chức hay cơ thể sinh học. Xã hội là một hệ thống các thiết chế phụ thuộc lẫn nhau và tham gia tạo nên sự ổn định bền vững của tổng thể. Vai trò của xã hội không chỉ đơn giản liên quan tới những hành vi được xã hội quan sát xem các cá nhân có thực hiện hay không mà trong thực tế, xã hội quan niệm những hành vi đó phải được thực hiện. Chúng ta sẽ gọi những ý thức về cái mà mỗi người sẽ phải làm, hành vi nào “đúng đắn” hay “thích hợp” là chuẩn mực và giá trị. Gía trị là những tiêu chuẩn chung của hành vi; ví dụ những quy định như
“ giữ vững pháp luật”,” bảo vệ cuộc sống gia đình”…
Các nhà lý thuyết đồng cảm quy định cho các giá trị một vai trò hết sức quan trọng: cho dù có khác biệt trong hành vi giữa những nhóm xã hội khác nhau, vẫn phải tồn tại một mối đồng cảm chung về giá trị quan trọng nhất – các giá trị trung tâm – để xã hội được vận hành một cách đúng đắn.
Mối quan hệ giữa chuẩn mực giá trị và xã hội hóa là hết sức rõ ràng. Trong khi các chuẩn mực và giá trị quy định những quy luật của xã hội thì thông qua xã hội hóa, các cá nhân có thể tiếp thu được những chuẩn mực và gía trị của những người khác, học được cách coi các quy luật và truyền thống xã hội mình đang sống là đúng đắn.
Từ đó khi nghiên cứu nhận thức, thái độ của sinh viên hiện nay đối với một số giá trị truyền thống cần xem xét các yếu tố tác động tổng hợp đến nhận thức, thái độ của sinh viên như gia đình, nhà trường, các tổ chức địa phương và đặt nó trong bối cảnh kinh tế - xã hội của TP.HCM trong giai đoạn hiện nay.
Ngoài ra, khi tìm hiểu nhận thức, thái độ của sinh viên đối với một số giá trị truyền thống chúng ta cần coi mặt nhận thức này là một nhu cầu đối với mỗi sinh viên và toàn xã hội nhằm hoàn thiện nhân cách cùng với trình độ khoa học kỹ thuật, kỹ năng lao động để hoàn thiện con người. Đó là chức năng duy trì và phát triển xã hội một cách trật tự và hài hòa giữa các thế hệ. Có những chức năng mới xuất hiện và có những chức năng cũ bị loại bỏ vì không còn phù hợp với điều kiện nhận thức của sinh viên hiện nay.
1.3.2.2 Lý thuyết tương tác biểu tượng.
Thuyết tương tác biểu trưng là lý thuyết ra đời từ trường phái Chicago (Mỹ).
Thuật ngữ tương tác biểu trưng được Blumer sử dụng lần đầu tiên vào năm 1937.
Sau này, lý thuyết tương tác biểu trưng nhiều người theo đuổi và phát triển như Charles Cooley, Howard S.Becker và đặc biệt là George Herbert Mead. Trong khi các lý thuyết như thuyết chức năng, thuyết xung đột tập trung vào các quá trình vĩ mô - giải thích cơ cấu xã hội thì thuyết tương tác biểu trưng lại tập trung vào quá trình vi mô - lý giải hành vi của con người. Lý thuyết tương tác biểu trưng được Mead xây dựng bắt nguồn từ quan niệm triết học thực dụng và chủ nghĩa hành vi trong tâm lý học - đó là con người luôn hướng tới một ý nghĩa hành vi trong tâm lý học - đó là con người luôn hướng tới một ý nghĩa thực tế và bản chất hành vi con người là hướng tới lý giải ý nghĩa của thực tế đó. Theo Mead, quá trình hành động của con người trải qua 4 giai đoạn :
Thứ nhất, giai đoạn kích thích - đó là có nhiều người hành động xuất phát từ nhu cầu của họ có được do những sự tác động trực tiếp lên các giác quan
Thứ hai, giai đoạn trả lời kích thích - Con người không trả lời kích thích một cách trực tiếp mà thông qua các biểu trưng, thông qua các yếu tố nhận thức, yếu tố tinh thần để đánh giá tình huống. Khi kích thích được lựa chọn, phân tích thông qua những biểu trưng của chủ thể thì nó biến thành mục tiêu hành động của họ.
Thứ ba, giai đoạn chủ thể hành động lựa chọn thao tác. Giai đoạn này chủ thể cân nhắc các thao tác, cách thức hành động để đạt được mục tiêu tối ưu.
Thứ tư, giai đoạn hành động - tiến hành hành động để đạt mục tiêu đã đề ra, thoã mãn nhu cầu.
Như vậy, biểu trưng có ý nghĩa khá to lớn đối với hành vi của con người.
Trong xã hội, để đạt được mục đích của mình, các cá nhân luôn phải tương tác với nhau. Sự tương tác đó diễn ra khi cá nhân cùng nhận thức hoặc có cùng một biểu trưng về hành động mà họ thực hiện. Biểu trưng sẽ giúp các cá nhân đạt được lợi ích của mình trong quá trình tương tác với các chủ thể hành động khác. Các chủ thể có chung một biểu trưng có thể thực hiện tương tác thực sự được với nhau. Biểu
trưng tồn tại trong các tương tác xã hội, nó xuất hiện khi các chủ thể hành động tương tác với nhau và nó mang ý nghĩa mà các bên tương tác cùng thừa nhận. Bởi vậy, biểu trưng được xem như những giá trị, chuẩn mực điều chỉnh hành vi của các chủ thể hành động. Do thuyết tương tác biểu trưng chủ yếu tập trung vào cấu trúc vi mô - hành vi con người - nên nó bị phê phán là không thấy rõ được tầm quan trọng của các cấu trúc vĩ mô như các nhân tố lịch sử, đặc biệt là tầm quan trọng của sức mạnh kinh tế và chính trị.
Vận dụng lý thuyết tương tác biểu trưng vào nghiên cứu này, giá trị noí chung và giá trị truyền thống dân tộc nói riêng tồn tại giống như những ý nghĩa, biểu trưng. Chúng có vai trò quan trọng trong mối tương tác giữa các cá nhân với nhau và giữa cá nhân với các nhóm xã hội (có thể gọi là trong các quan hệ xã hội).
Hệ giá trị truyền thống là giá trị được hình thành và kiểm nghiệm qua thời gian.
Chúng chứa đựng những ý nghĩa sâu sắc và được thừa nhận như những chuẩn mực điểu chỉnh hành vi của con người.Như vậy khi biểu trưng ( tức các giá trị) này không được cá nhân thừa nhận, hoặc giữa các cá nhân không cùng chia sẽ biểu trưng chung này thì quá trình tương tác giữa họ có thể thất bại, thậm chí có thể xung đột do họ theo đuổi những biểu trưng riêng. Hoặc, khi giữa các cá nhân cùng chia sẻ những biểu trưng nhưng những biểu trưng đó không phải là những giá trị tốt đẹp, thậm chí có thể là phản giá trị thì quá trình tương tác của họ có thể đem laị những lợi ích và thoã mãn nhu cầu của bản thân chủ thể hành động nhưng nó không có ảnh hưởng tốt đối với sự phát triển chung của xã hội. Điều đó cho thấy để các tương tác xã hội, các mối quan hệ xã hội có thể vận hành tốt, góp phần củng cố sự phát triển của toàn xã hội thì phải có được những biểu trưng, hay những chuẩn giá trị chi phối hành vi của các xá nhân trong quá trình thực hiện tương tác. Chuẩn giá trị có thể bao gồm nhiều giá trị khác nhau. Trong xã hội Việt Nam, chuẩn giá trị hiện nay không chỉ bao gồm những giá trị của thời đại mà nó còn chứa đựng rất nhiều giá trị truyền thống được hình thành và kiểm định trong suốt chặng đường lịch sử. Để những giá trị này có thể trở thành biểu trưng cho mọi người cùng chia sẻ và có vai trò điều chỉnh hành vi của con người trong các qúa trình tương tác xã hội, chúng cần được biểu trưng hoá trong ý thức chung của cả cộng đồng và trở thành mô hình
hành vi cho mỗi đối tượng trong đó có sinh viên.
1.3.2.3 Lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý.
Lý thuyết lựa chọn hợp lý phát sinh từ kinh tế học cổ điển. Nó được phát triển lên thành lý thuyết xã hội học nhờ công lao của Jane S. Coleman. Theo Coleman, lý thuyết lựa chọn hợp lý (hay ông còn gọi là mô hình của hành động hợp lý") là lý thuyết duy nhất có khả năng tạo ra một mô hình hòa hợp. Colemanlý luận rằng cách tiếp cận này vận hành từ một nền tảng trong phương pháp luận của chủ nghĩa cá nhân và sử dụng lý thuyết chọn lựa hợp lý như là cơ sở cấp độ vi mô để lý giải các hiện tượng vĩ mô.
Hai thành tố chủ chốt trong lý thuyết lựa chọn hợp lý của Coleman là các tác nhân và các tiềm năng. Coleman cho rằng các chủ thể hành động khi hành động đều hướng tới một mục tiêu được định hình bởi các gía trị hoặc các sở thích. Chủ thể hành động sẽ tối đa hoá các lợi ích hay sự thoả mãn các nhu cầu, mong muốn của mình. Theo ông, mỗi chủ thể hành động có nhiều tiềm năng và cách thức sử dụng tiềm năng khác nhau. Điều đó ảnh hưởng đáng kể tới việc đạt được mục đích hoạt động của họ. Ngoài các tiềm năng, chủ thể còn chịu ảnh hưởng của các thiết chế xã hội. Tất cả những nhân tố đó đều quy định hành vi của các cá nhân, quy định sự lựa chọn các hành vị của họ.
Trong khoảng hai thập kỷ gần đây, lý thuyết lựa chọn hợp lý khá được ưa chuộng. Nó được phát triển mạnh khi các lý thuyết vĩ mô ( như thuyết xung đột, thuyết cấu trúc ...) có những quan điểm không thống nhất được với nhau khi lý giải các vấn đền thuộc tầm vĩ mô của xã hội. Tuy nhiên, Hollis (1987) cũng chỉ ra hai điểm hạn chế quan trọng cần chú ý trong lý thuyết lựa chọn hợp lý - đó là :
Thứ nhất, lý thuyết lựa chọn hợp lý gặp khó khăn khi phải đối đầu với các vấn đề, ví dụ như sự giảm sút những mọng đợi của cá nhân liên quan tới hành vi của các chủ thể khác
Thứ hai, lý thuyết lựa chọn hợp lý có sự liên hệ với nhận thức luận của chủ nghĩa thực chứng và chủ nghĩa thực dụng. Chúng ít chú ý tới việc phân tích hành vi xã hội được định hướng theo chuẩn mực, vai trò và sự thay đổi các luật lệ.
Vận dụng lý thuyết lựa chọn hợp lý vào nghiên cứu nhận thức, thái độ của sinh viên đối với giá trị turyền thống dân tộc ta thấy sinh viên có thể được coi là các chủ thể hành động. Trong quá trình tổ chức hoạt động sống của mình, họ luôn hành động dựa trên hoặc hướng tới những giá trị nhất định. Đó có thể là những giá trị phù hợp hoặc không phù hợp với sự phát triển chung. Đó cũng có thể là giá trị của cá nhân chủ thể hành động hoặc có thể là hệ giá trị chung của toàn xã hội... Trong các giá trị tồn tại hiện nay, bên cạnh hệ giá trị truyền thống tồn tại từ lâu đời còn xuất hiện nhiều giá trị mới. Chúng được nảy sinh từ trong bối cảnh kinh tế xã hội của đất nước, hoặc được du nhập từ bên ngoài vào Việt Nam. Trong điều kiện rất nhiều giá trị cùng tồn tại trong xã hội, sinh viên phải đứng trước sự lựa chọn những giá trị mà họ thấy phù hợp để định hướng hành vi của bản thân mình. Tuy nhiên, không phải ai cũng có sự lựa chọn đúng đắn bởi quá trình lựa chọn giá trị chịu tác động từ nhiều phía. Nó không chỉ dựa trên sự nhận thức của bản thân sinh viên đối với các giá trị để xem xét giá trị nào có ý nghĩa hoặc phù hợp với bản thân. Hơn thế, những biến số khác nhau như môi trường kinh tế - văn hoá – xã hội, hoàn cảnh sống v.v..
cũng có tác động khá lớn tới quá trình lựa chọn giá trị của họ. Những yếu tố đó chính là những tác nhân có tác động đến nhận thức, thái độ của sinh viên đối với một số giá trị truyền thống dân tộc.