Thực trạng hoạt động của các công ty FDI tại Việt Nam

Một phần của tài liệu kl huynh cam hanh 2015 658 (Trang 38 - 42)

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN GIÁ Ở VIỆT NAM

2.1. Thực trạng hoạt động của các công ty FDI tại Việt Nam

2.1.1. Tình hình thu hút vốn FDI tại Việt Nam

Kể từ khi Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài có hiệu lực năm 1988, các MNC bắt đầu đổ FDI vào Viêt Nam. Nhƣng lƣợng FDI vào Việt Nam là chƣa đáng kể (tính đến năm 1991 chỉ nằm ở khoảng hơn 200 triệu USD) do Việt Nam chỉ vừa mở rộng cửa giao thương tự do với nước ngoài, nhiều doanh nghiệp còn e ngại trước một môi trường hoàn toàn mới mẻ này. Trong những năm kế tiếp, nước ta không ngừng đổi mới và phát triển nền kinh tế, từng bước vượt qua khó khăn hội nhập thị trường quốc tế, thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư từ nước ngoài, tạo dựng được lòng tin với các doanh nghiệp ngoại, khẳng định được vị thế trên trường quốc tế.

Tháng 7/1995 Việt Nam gia nhập Hiệp hôi các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và chính thức tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), năm 2006 Việt Nam chính thức trở thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại quốc tế (WTO),…

Qua những nổ lực và những bước tiến đáng kể nêu trên đã mang về thành công tương ứng trong việc thu hút FDI, đến 01/01/1996 dòng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam bắt đầu tăng lên nhanh chóng, giao thương với các nước khác cũng thông thoáng hơn và nền kinh tế tăng trưởng tích cực. Điều này là động lực mạnh mẽ thúc đẩy quá trình phát triển nền kinh tế, xã hội của nước ta, hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

Tính đến 31/12/2014 đã có 101 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tƣ tại Việt Nam với 17.768 dự án, tổng vốn đăng ký 252,715 tỷ USD. Đóng góp về vốn của FDI (không chỉ tính trong năm 2014) tới kinh tế Việt Nam là không nhỏ, FDI trong hơn 26 năm qua đã chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tƣ toàn xã hội; 45% giá trị sản xuất; 65% giá trị xuất khẩu; 20% GDP (bắt đầu từ 2% trong năm 1992); 20% thu ngân sách. Đầu tƣ tập trung nhiều nhất trong lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo với 9.600 dự án, vốn đăng ký 141,4 tỷ USD, chiếm 54% số dự án và 56% tổng vốn đăng ký, tiếp theo là lĩnh vực kinh doanh bất động sản, xây dựng, dịch vụ lưu trú,…

Về đối tác đầu tư, Hàn Quốc là nước có đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký 37,72 tỷ USD, chiếm 14,9%, tiếp theo là các đối tác khác nhƣ Nhật Bản theo sát tổng vốn đăng ký 36,8 tỷ USD (chiếm 14,7% tổng vốn đầu tƣ), sau đó lần lƣợt là Singapore và Đài Loan, Britishvirgin Island và Hồng Kông.

Bảng 2.1: 10 đối tác nước ngoài có lũy kế đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam (Lũy kế tính đến ngày 31/12/2014)

(Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và đầu tư [4]) Về địa bàn đầu tư, ngoài tỉnh Điện Biên, đầu tư nước ngoài đã có mặt khắp toàn bộ nước ta, trong đó dẫn đầu là TP. Hồ Chí Minh, tiếp theo đó là Bà Rịa-Vũng Tàu, Hà Nội và Đồng Nai. [4]

FDI từ các đối tác nước ngoài đã góp phần giúp nước ta thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tính đến năm 2014, vốn FDI đã giúp tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ lên 44% và giảm tỷ trọng nông nghiệp xuống 18% trong cơ cấu GDP cả nước. Giảm dần tỷ trọng xuất khẩu các mặt hàng khai khoáng, mặt hàng sơ cấp, tăng dần tỷ trọng các mặt hàng chế tạo, TT Đối tác đầu tƣ Số dự

án

Tổng vốn đầu tƣ đăng ký (Triệu USD)

Vốn điều lệ (Triệu USD)

1 Hàn Quốc 4.190 37.726,33 10.697,62 2 Nhật Bản 2.531 37.334,52 11.997,50 3 Singapore 1.367 32.936,86 8.538,04 4 Đài Loan 2.387 28.468,53 11.938,59 5 BritishVirginIslands 551 17.990,04 5.893,88 6 Hồng Kông 883 15.602,96 4.924,81 7 Hoa Kỳ 725 10.990,15 2.625,06 8 Malaysia 489 10.804,66 3.691,23 9 Trung Quốc 1.102 7.983,93 3.160,96 10 Thái Lan 379 6.794,18 2.961,40

lắp rắp. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp FDI còn góp phần đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu, trong đó có các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của khu vực FDI nhƣ điện thoại các loại và linh kiện, điện tử, máy tính và linh kiện, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác, giày dép và các mặt hàng dệt may,… có thể xuất khẩu nhiều mặt hàng khác nhau sang thị trường các nước lớn có yêu cầu nghiêm ngặt về hàng hóa nhƣ Mỹ, EU… từ đó góp phần đáng kể trong mở rộng cơ cấu các thị trường xuất khẩu của nước ta. Nước ta trở thành nước xuất siêu năm 2014 với tổng kim ngạch xuất khẩu là 150 tỷ USD, xuất siêu 2 tỷ USD, khu vực có vốn đầu tƣ nước ngoài đã mang lại cho nước ta 101,6 tỷ USD (bao gồm cả dầu thô), tăng 15,2% so với năm trước và đóng góp 10,1 điểm phần trăm. [10]

Nhưng bên cạnh những tác động tích cực đó, trong khi để phát triển đất nước Chính phủ nước ta luôn khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các ngành nhƣ nông lâm thủy sản, công nghiệp nhẹ, nâng cấp cơ sở hạ tầng, công nghệ phần mềm… còn các công ty FDI lại chủ yếu đầu tư vốn hướng vào các ngành mà lợi thế ở chính quốc không có (hoặc hao tổn chi phí cao) nhƣ các ngành thâm dụng lao động (chế biến thủy sản, xây dựng, công nghiệp nặng). Do nước ta là một trong những nước trong khu vực có nhân công giá rẻ, ngành bất động sản cũng luôn là điểm nóng trong thời gian qua, từ việc nhu cầu nhà ở tăng cao do tốc độ đô thị hóa nhanh của Việt Nam, mật độ dân số cao phân bố không đồng đều và có nhiều lợi thế nhà đất chƣa đƣợc (hoặc không đủ nguồn lực) khác thác triệt để, các ngành dịch vụ giải trí, ăn uống cũng luôn đƣợc quan tâm. Vì vậy, tuy có nhiều đóng góp tích cực nhưng việc thu hút FDI có chọn lựa trở nên ngày càng cần thiết, phải hướng đến sử dụng hiệu quả cao nguồn vốn ngoại để đem lại lợi ích lâu dài và bền vững hơn.

2.1.2. Tồn tại và nguyên nhân thu hút FDI

Nhƣ đã nêu trên FDI không chỉ mang lại những lợi ích tích cực mà còn có những mặt hạn chế nhất định, việc thu hút không có lựa chọn vốn đầu tƣ trực tiếp nước ngoài về lâu dài sẽ có nhiều tác động không tốt đến tăng trưởng kinh tế và các vấn đề xã hội khác. Cơ cấu phân bổ vốn FDI vào Việt Nam chƣa hợp lý, chẳng hạn nhƣ các công ty FDI đầu tƣ chƣa cân đối vào các lĩnh vực, chủ yếu quan tâm và đầu

tƣ tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo, bất động sản, xây dựng; mặc dù nguồn vôn phân bố rộng khắp cả nước nhưng đầu tư chủ yếu vào các địa phương có cơ sở hạ tầng tương đối tốt, các khu vực trọng điểm kinh tế phía Bắc và phía Nam gây sự phát triển không đồng bộ ở nhiều địa phương. Mặt khác, một số các công ty FDI không tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm môi trường quanh nơi hoạt động sản xuất có xu hướng tăng gây nhiều bức xúc, dẫn đến hoạt động kiểm soát, quản lý gặp nhiều khó khăn.

Theo cục đầu tư nước ngoài thì có khoảng hơn 80% các dự án có FDI đầu tư vào là 100% vốn nước ngoài nên không có chuyển giao công nghệ cho Việt Nam. [2]

Mặt dù vốn ngoại tràn vào nhiều năm qua nhưng nước ta lại chẳng được chuyển giao nhiều công nghệ mới tiên tiến từ các nước, song song đó để thu hút được nhiều vốn FDI hơn mà trình độ công nghệ nước ta còn lạc hậu hơn nhiều so với các nước trong khu vực thì đó là một điều bất lợi.

Mặc dù các việc thu hút vốn đầu tư trong nước cũng góp phần tạo điều kiện, cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước cùng phát triển trên nhiều khía cạnh (cung cấp nguyên liệu đầu vào, nhà máy, cơ sở lắp rắp, phân phối, tăng tính cạnh tranh, hợp tác phát triển,…) nhƣng trên thực tế thì các công ty FDI không có nhiều liên kết với các doanh nghiệp trong nước và các công ty FDI với nguồn vốn dồi dào ngày càng lớn mạnh, còn các doanh nghiệp trong nước thì ngày càng nhỏ bé.

Do Việt Nam là một nước nhỏ, quy mô nền kinh tế không lớn, khả năng tiếp nhận và giải ngân vốn đăng ký sang vốn thực hiện còn hạn chế. Tồn tại nhiều thủ tục về đầu tư bị nhà đầu tư nước ngoài cho là rườm rà, phức tạp. Cơ sở hạ tầng, giao thông còn yếu kém gây nhiều khó khăn trong việc sản xuất, vận chuyển, lưu trữ.

Nguồn lao động dồi dào nhƣng chất lƣợng lao động còn thấp, không có nhiều nhân công có trình độ quản lý chuyên môn và tay nghề cao để đáp ứng lại yêu cầu của các doanh nghiệp ngoại, ƣớc tính chỉ có khoảng 30% lao động đã qua đào tạo.

Một phần của tài liệu kl huynh cam hanh 2015 658 (Trang 38 - 42)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(76 trang)