CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN GIÁ Ở VIỆT NAM
2.3. Đánh giá hoạt động quản lý chuyển giá
2.3.3. Nguyên nhân tồn tại
2.3.3.1. Có sự khác biệt về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giữa các quốc gia.
Mặc dù cũng đã có lộ trình giảm dần nhƣng thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam vẫn còn khá cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Ví dụ:
năm 2009 thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 25%, sang năm 2014 là 22%, trong khi nhiều quốc gia khác thuế suất chỉ trên dưới 10%, thậm chí nhiều quốc gia nhƣ Andorra, British Virgin Islands…thuế suất là 0%.
2.3.3.2. Ngành công nghiêp hỗ trợ của Việt Nam hiện nay phát triển còn quá yếu.
Ngành công nghiệp hỗ trợ chƣa thể đáp ứng đƣợc nhu cầu về linh kiện, vật tƣ, các sản phẩm trung gian cấu thành của quá trình sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp FDI, điều này đã khiến các doanh nghiệp FDI bắt buộc phải nhập khẩu từ bên ngoài và có cơ hội để thực hiện thủ thuật chuyển giá nhằm thu đƣợc lợi nhuận tối đa. Điển hình là các ngành như dệt may, da giày, điện tử, nước giải khát…chủ yếu nhập khẩu nguyên vật liệu ở nước ngoài.
2.3.3.3. Hệ thống phát luật của Việt Nam chƣa hoàn thiện, còn nhiều kẽ hở và thường có độ trễ so với tình hình phát triển kinh tế của đất nước.
Nguyên tắc của cơ chế quản lý thuế của Việt Nam hiện nay tự tính, tự khai, tự nộp thuế, còn cơ quan thuế có nhiệm vụ tuyên truyền chính sách thuế, hỗ trợ
doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời thực hiện chức năng kiểm tra, thanh tra để chấn chỉnh, xử lý vi phạm. Mặc dù trao nghĩa vụ kê khai các giao dịch liên kết cho các đối tƣợng nộp thuế nhƣ vậy có thể xem là phù hợp với xu thế quản lý thuế hiện đại vì vừa giảm đƣợc chi phí quản lý, vừa buộc các doanh nghiệp phải tự quyết định, tự chịu trách nhiệm với những thông tin mà mình đƣa ra nhƣng do tính đặc thù của sản phẩm, có những sản phẩm không tìm thấy hoặc khó tìm thấy sản phẩm tương tự thay thế. Đặc tính này thường thấy ở các tài sản vô hình như: lợi thế thương mại, bản quyền sang chế, phát minh, bí quyết công nghệ,…nên việc so sánh với giá thị trường là rất khó trong khi năng lực thẩm định giá của Việt Nam còn yếu và thiếu dữ liệu về các giao dịch nội bộ của các công ty nước ngoài nên các doanh nghiệp FDI có thể lách luật thực hiện hành vi chuyển giá mà không bị phát hiện.
2.3.3.4. Ngành thuế chƣa đƣợc trao quyền.
Cơ quan thuế chƣa đƣợc trao quyền điều tra là rào cản trong công tác quản lý giá chuyển nhƣợng. Hiện nay, phần lớn các quốc gia trên thế giới thực hiện có hiệu quả công tác kiểm soát hoạt động chủ giá đều đƣợc trao quyền điều tra. Không những thế, thời hạn thanh tra chuyển giá bị khống chế bởi quy định chung tại Luật Thanh tra nên thường rất ngắn. Theo thông lệ quốc tế để hoàn thành một vụ việc thanh tra, điều tra về giá chuyển nhượng thường kéo dài từ 18 đến 24 tháng. Tại Việt Nam, thời hạn thanh tra chuyển giá đƣợc quy định chung trong Luật Thanh tra (thanh tra chuyên ngành) từ 30 đến 45 ngày/vụ việc là quá ngắn.
2.3.3.5. Thiếu sự phối hợp đồng bộ từ các cơ quan.
Phải xác định rằng công tác, thanh tra hoạt động chuyển giá không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành thuế mà còn cần sự phối hợp tích cực, chặt chẽ của các bộ, ngành có liên quan nhƣ Bộ Công an, Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, Bộ Ngoại giao, Ngân hàng...nhƣng thực tế thấy rằng sự phối hợp còn hạn chế, thiếu tính chặt chẽ đồng bộ giữa cơ quan thuế với các cơ quan hải quan, ngân hàng trong công tác chống chuyển giá cũng là nguyên nhân khiến hoạt động chống chuyển giá còn kém hiệu quả.
2.3.3.6. Tổ chức bộ máy quản lý thuế còn yếu kém.
Trong công tác tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực cũng còn một số tồn tại nhất định nhƣ ngành Thuế chƣa có bộ phận chuyên trách quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá, việc quản lý thuế trong lĩnh vực này đƣợc thực hiện phân tán và lồng ghép với các chức năng quản lý thuế khác. Với cơ cấu tổ chức bộ máy nhƣ vậy đã dẫn tới công tác chỉ đạo và triển khai trong toàn ngành chƣa thực sự thống nhất, chƣa đồng bộ và tập trung trọng tâm, trọng điểm, tính chuyên môn hoá trong công tác quản lý chưa cao. Các cục thuế còn gặp khó khăn vướng mắc trong quá trình xử lý, không có đầu mối để liên hệ đề nghị hỗ trợ. Tổng cục Thuế đã thành lập Tổ quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá trực thuộc Tổng cục Thuế để khắc phục những tồn tại trên, tuy nhiên quản lý hoạt động chuyển giá là lĩnh vực khó và phức tạp, đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên trách, chuyên sâu và chuyên nghiệp nhƣng năng lực quản lý của cơ quan thuế còn hạn chế, mức độ hiểu biết của công chức thuế về giá chuyển nhƣợng mới dừng ở cấp độ cơ bản, kiến thức về kinh tế ngành còn hạn chế nên gặp nhiều khó khăn trong phân tích hồ sơ giá chuyển nhƣợng; kinh nghiệm thực tiễn về quản lý giá chuyển nhƣợng còn hạn chế trong khi các doanh nghiệp chuyển giá lớn thường có sự giúp sức của một công ty cung cấp dịch vụ tư vấn thuế, nhất là công ty quốc tế lớn chuyên tƣ vấn về thuế.
Hơn nữa, chƣa có một chế độ đãi ngộ đặc biệt cho công chức làm công tác quản lý giá chuyển nhƣợng. Quản lý giá là công việc khó khăn và đầy thách thức, đòi hỏi người quản lý ngoài việc nắm vững chuyên môn, nghiệp vụ, và phải nhiệt tình trong thực hiện nhiệm vụ. Vì vậy, việc chƣa có chế độ đãi ngộ riêng cho công chức làm công tác quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá dẫn đến việc chƣa khuyến khích đƣợc đội ngũ này gắn bó và dốc hết tâm sức vào công việc khó khăn này, đồng thời dễ dẫn đến mâu thuẫn quyền lợi khi thi hành nhiệm vụ.
2.3.3.7. Thiếu cơ sở dữ liệu.
Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở dữ liệu còn chƣa hoàn thiện, thiếu các thông tin bổ trợ quan trọng hỗ trợ cho công tác phân tích, so sánh trong thanh tra giá chuyển nhƣợng.
Ngoài ra, chƣa tổ chức đƣợc nhiều hội nghị, hội thảo, tập huấn chuyên sâu về giá chuyển nhượng; chưa biên soạn sách hỏi đáp, hướng dẫn vướng mắc trong thực hiện chính sách quản lý giá chuyển nhƣợng.