1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

kl dang vu mi truc 072337b

91 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên không phải mô hình du lịch sinh thái nào cũng đảm bảo đúng mục đích của nó là phát triển du lịch dựa vào tài nguyên thiên nhiên và văn hóa bản địa với giáo dục môi trường, có đ

Trang 1

TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM

KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG MÔ HÌNH DU LỊCH SINH THÁI PHÙ HỢP CHO KHU VỰC GÁO GIỒNG TỈNH ĐỒNG THÁP THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Sinh viên thực hiện : ĐẶNG VŨ MI TRÚC

Giảng viên hướng dẫn : Ths NGUYỄN THỊ MAI LINH

Ngày giao nhiệm vụ luận văn : 22 tháng 09 năm 2011

Ngày hoàn thành luận văn : 03 tháng 01 năm 2012

TP Hồ Chí Minh , ngày 03 tháng 01 năm 2012

Giảng viên hướng dẫn (Ký tên và ghi rõ họ tên)

TP Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2012

Trang 2

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Lượt khách từ 2008 – 2010 45 Bảng 3.2 Doanh thu từ 2008 - 2010 46

Trang 3

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình2.1 Sơ đồ hành chính tỉnh Đồng Tháp 26

Hình 2.2 Sơ đồ xã Gáo Giồng 34

Hình 2.3 Sơ đồ khu DLST Gáo Giồng 37

Hình3.1 Rừng tràm nhìn từ đài quan sát 40

Hình3.2 Chòi võng cạnh ao sen 41

Hình 3.3 Lối chỉ dẫn vào nhà hàng 42

Hình3.4 Điểm tập kết xuồng 42

Hình3.5 Tuyến đường chính vào KDL 43

Hình3.6 Toàn cảnh hội trường 44

Hình 3.7 Biến thiên số lượng du khách ghi nhận được từ 2008-2010 45

Hình 3.8 So sánh doanh thu qua các năm (2008-2010) 46

Hình 3.9 Tờ rơi giới thiệu KDL Gáo Giồng 47

Hình 3.10 Đường bơi xuồng tham quan sân chim 50

Hình 3.11 Rác thải của du khách chưa được thu gom hết 53

Hình 4.1 Mặt cắt đứng bể tự hoại 3 ngăn có ngăn lọc 71

Hình 4.2 Mặt cắt ngang bể tự hoại 3 ngăn có ngăn lọc 71

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn!

- Quý thầy cô Khoa Môi trường và Bảo hộ lao động, trường Đại học Tôn Đức Thắng , đã dạy dỗ và giúp đỡ em trong thời gian học tập tại trường

- Thạc sĩ Nguyễn Thị Mai Linh, là giáo viên hướng dẫn trực tiếp đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp

- Ban giám đốc Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên Môi trường và Biển đã tạo điều kiện cho em tiếp xúc để hình thành đề tài tốt nghiệp

- Ban quản lý Sở thể thao, văn hóa và du lịch tỉnh Đồng Tháp, UBND xã Gáo Giồng và Ban quản lý KDL Gáo Giồng đã nhiệt tình giúp đỡ trong quá trình xin tài liệu thực hiện đề tài

Với thời gian nghiên cứu, tìm hiểu có hạn và vốn kiến thức nhất định, luận văn này chắc chắn còn nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý, dạy bảo của quý thầy cô và các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu

Cuối cùng em xin gởi đến thầy cô Khoa Môi trường và Bảo hộ lao động, anh chị công tác tại các sở ban ngành tỉnh Đồng Tháp lời chúc sức khỏe và hạnh phúc

Tp HCM, 15/12/2011

Đặng Vũ Mi Trúc

Trang 6

TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG MÔ HÌNH DU LỊCH SINH THÁI PHÙ HỢP CHO KHU VỰC GÁO GIỒNG TỈNH ĐỒNG THÁP THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Giảng viên hướng dẫn : Ths NGUYỄN THỊ MAI LINH

TP Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2012

Trang 7

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.2.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1

1.3.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2

1.4.PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

1.5.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2

1.6.Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 2

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 3

2.1 DU LỊCH SINH THÁI 3

2.1.1 Khái niệm 3

2.1.2 Đặc trưng của DLST 5

2.1.3 Nguyên tắc cơ bản của DLST 6

2.1.4 Sơ lược hoạt động DLST tại một số vùng trên thế giới và Việt Nam 11

2.2 TỔNG QUAN VÙNG NGHIÊN CỨU 25

2.2.1 Tỉnh Đồng Tháp 25

2.2.2 Khu DLST Gáo Giồng 34

CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA KHU DU LỊCH SINH THÁI

GÁO GIỒNG 39

3.1 HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA KHU DU LỊCH GÁO GIỒNG 39

3.1.1 Tài nguyên du lịch của khu DLST Gáo Giồng 39

3.1.2 Các loại hình dịch vụ tại KDL 40

3.1.3 Hiện trạng hoạt động của KDL 43

3.2 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC MÔ HÌNH DU LỊCH TẠI KHU DLST GÁO GIỒNG 48

3.2.1 Mô hình lên đài quan sát dùng ống nhòm ngắm toàn cảnh rừng tràm 48

3.2.2 Nghỉ ngơi nằm võng cạnh ao sen 49

3.2.3 Dịch vụ nhà hàng 49

3.2.4 Bơi xuồng tham quan rừng tràm và khu sân chim 50

3.2.5 Đi xe đạp đôi 51

Trang 8

3.3 ĐÁNH GIÁ CÁC TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG DO HOẠT ĐỘNG DLST TẠI

KDLST GÁO GIỒNG 51

3.3.1 Tác động lên tài nguyên đất 52

3.3.2 Tác động đến tài nguyên nước 52

3.3.3 Tác động đến tài nguyên không khí 53

3.3.4 Tác động đến tài nguyên sinh vật 54

3.3.5 Tác động đến môi trường kinh tế xã hội 55

CHƯƠNG 4 ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG MÔ HÌNH DU LỊCH SINH THÁI PHÙ HỢP CHO KHU VỰC GÁO GIỒNG - TỈNH ĐỒNG THÁP 56

4.1 MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHU DU LỊCH GÁO GIỒNG ĐẾN NĂM 2015 56

4.1.1 Mục tiêu 56

4.1.2 Các giải pháp phát triển du lịch giai đoạn 2011 – 2015 57

4.2.ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH DU LỊCH SINH THÁI PHÙ HỢP CHO KHU VỰC GÁO GIỒNG 60

4.2.1 Phân tích các khía cạnh liên quan đến các loại hình du lịch theo phương pháp SWOT 61

4.2.2.Đề xuất mô hình DLST phù hợp cho KDL Gáo Giồng 65

4.3.ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CHO KDL 70

4.3.1 Thu gom và xử lý chất thải rắn 70

4.3.2.Thu gom và xử lý nước thải 70

4.3.3.Giải pháp kiểm tra xử lý 71

4.3.4.Xây dựng hệ thống quan trắc và phân tích môi trường tại các KDL 72

4.3.5.Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho du khách về công tác bảo vệ môi trường tại các KDL 72

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

5.1 KẾT LUẬN 73

5.2 KIẾN NGHỊ 75

Trang 9

CHƯƠNG 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trước tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, nhu cầu về đời sống của con người cũng được nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần Những dịch vụ vui chơi giải trí, du lịch, thư giãn phục vụ cho tinh thần người dân cũng được quan tâm hơn Theo đó, du lịch sinh thái là loại hình du lịch đã và đang được áp dụng nhiều nhất

để vừa phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí gần gũi với thiên nhiên của người dân, đồng thời vẫn đảm bảo yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên Tuy nhiên không phải mô hình du lịch sinh thái nào cũng đảm bảo đúng mục đích của nó là phát triển du lịch dựa vào tài nguyên thiên nhiên và văn hóa bản địa với giáo dục môi trường, có đóng góp trong việc bảo tồn và phát triển bền vững với

sự tham gia của cộng đồng địa phưong Do đó phát sinh ra các vấn đề gây ra là gây

ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên và làm thay đổi điều kiện tự nhiên của khu vực

Hệ sinh thái Gáo Giồngđược xem là lá phổi xanh của Đồng Tháp với rừng tràm hơn 1.700 ha, trong đó 250 ha là rừng nguyên sinh với những bưng trấp, lung, bàu đầy sen, súng, lau sậy, cà na, gáo,…hàng năm thu hút một lượng khách du lịch đến tham quan Tuy nhiên do không được tổ chức một cách hợp lý, không được quan tâm đúng mức nên không phát huy được hết tiềm năng của mình và các giá trị đa dạng sinh học cũng bị đe doạ đáng kể Do đó, việc xây dựng mô hình du lịch sinh thái hợp lý cho khu sinh thái Gáo Giồng là hết sức cần thiết, phù hợp với tiềm năng hiện

có đảm bảo sự phát triển bền vững theo định hướng chung của tỉnh

Đề tài “Đề xuất xây dựng mô hình du lịch sinh thái phù hợp cho khu vực Gáo Giồng

– tỉnh Đồng Tháp theo định hướng phát triển bền vững” được thực hiện để đáp ứng

yêu cầu phát triển của tỉnh, đồng thời góp phần bảo tồn tài nguyên thiên nhiên cho khu vực nghiên cứu

Góp phần phát triển kinh tế cho khu vực Gáo Giồng cũng như tăng nguồn thu từ dulịch cho tỉnh Đồng Tháp

Tạo điều kiện để bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và sinh thái của khu du lịch

Trang 10

Quan trọng nhất là giáo dục cho các thế hệ trẻ những hiểu biết và kiến thức về bảo

vệ tài nguyên và môi trường

Tìm hiểu các loại hình du lịch sinh thái hiện đang có và những loại hình nào đang

được áp dụng tại Việt Nam

Điều tra, tổng hợp điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của tỉnh Đồng Tháp nói chung

và Gáo Giồng nói riêng

Phân tích và đánh giá các mô hình DLST hiện có tại khu du lịch Gáo Giồng

Đề xuất xây dựng mô hình DLST phù hợp với điều kiện và tiềm năng của Gáo

Giồng

Xây dựng mô hình DLSTphù hợp cho khu vực Gáo Giồng – tỉnh Đồng Tháp theo

định hướng phát triển bền vững

Thời gian thực hiện từ tháng 9/2011 – đến tháng 12/2011

Phương pháp kế thừa

Phương pháp khảo sát thực địa

Phương pháp xử lý số liệu

Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia

Đề tài kế thừa những nghiên cứu của thế giới về DLST, những khái niệm, các mô

hình thực hiện DLST,…từ đó đánh giá, đề xuất những mô hình phù hợp với điều

kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Việt Nam cũng như cho từng vùng riêng biệt trong

nước.Việc ứng dụng một cách hợp lý các thành quả của chuyên gia về DLST và đưa

ra hướng đi thích hợp sẽ giúp cho nền DLST Việt Nam có một hướng đi đúng đắn

và đáp ứng được những mục tiêu DLST đã đưa ra nhằm phát triển du lịch theo

hướng bền vững

Đề tài đưa ra một giải pháp thực tiễn về DLSThướng tới bảo vệ môi trường, bảo tồn

cảnh quan cũng như các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú vốn có của địa

phương Giúp cho công tác du lịch tại địa phươngphát triển, tăng nguồn thu từ hoạt

động du lịch và phát huy hết tiềm năng hiện có không làm lãng phí nguồn tài

nguyên đồng thời có kế hoạch bảo tồn tài nguyên một cách tốt hơn

Trang 11

Có rất nhiều khái niệm về DLST đã được đưa ra, cụ thể như sau:

“ Du lịch sinh thái” (Ecotourism – Du lịch sinh thái – DLST) là một lĩnh vực kinh doanh mới phát triển vài thập kỉ gần đây và đang trở thành một xu hướng tích cực đảm bảo cho sự phát triển du lịch bền vững gắn liền với việc bảo tồn thiên nhiên – môi trường và các giá trị nhân văn giàu bản sắc văn hoá của mọi dân tộc thông qua nhận thức của xã hội và cộng đồng Có nhiều cách hiểu khác nhau về DLST, ở một

góc nhìn phổ quát nhất thì “DLST được quan niệm là du lịch thiên nhiên” mà trong

thực tế đã xuất hiện từ đầu những năm 1800 (Ashton,1993) Với khái niệm này mọi hoạt động du lịch có liên quan đến thiên nhiên như tắm biển, nghỉ núi,…đều được

hiểu là DLST

Theo định nghĩa của Hiệp hội DLST Quốc tế (TIES, năm 1991): “DLST là hoạt

động du lịch có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên với mục đích bảo vệ môi trường và tạo ra lợi ích cho người dân địa phương”

Định nghĩa của Hội đồng Tư vấn Môi trường – Canada (1992) về DLST “DLST là

một hình thức du lịch tự nhiên mang tính khai sáng, góp phần bảo tồn hệ sinh thái

mà vẫn tôn trọng sự hoà nhập của các cộng đồng địa phương”

Vào năm 1996, Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) đã đưa ra định nghĩa:

“DLST là những chuyến du lịch và tham quan môi trường một cách có trách nhiệm

tới các khu vực thiên nhiên không bị ảnh hưởng nhằm thưởng thức và hưởng thụ thiên nhiên với mục đích thúc đẩy việc bảo tồn; những chuyến du lịch này không tạo

ra nhiều các tác động xấu và có khả năng cung cấp nhiều lợi ích về kinh tế xã hội cho người dân địa phương”

Bên cạnh đó, các nhà khoa học trên thế giới cũng đưa ra những định nghĩa riêng của mình nhằm sáng tỏ những nội dung liên quan đến DLST

Theo hai nhà nghiên cứu Hector Ceballos và Lascurain (1987) “DLST là du lịch tới

những khu tự nhiên hầu như chưa bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt như nghiên cứu, thưởng ngoạn, trân trọng phong cảnh và muông thú hoang

Trang 12

dã, khám phá những giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương ở các khu vực này”

Theo nhà kinh tế học người Anh – Boo (1990): “Chỉ có du lịch tự nhiên được quản

lý bền vững, hỗ trợ cho sự bảo tồn và chứa đựng nội dung giáo dục về môi trường mới được coi là DLSTvà DLSTđược coi là đồng nghĩa với du lịch tự nhiên đích thực”

Ngoài định nghĩa của các tổ chức trên, còn có một số định nghĩa của các quốc gia trên thế giới quan tâm đến loại hình DLST Những định nghĩa này cũng đều nhấn mạnh về tầm quan trọng của hoạt động bảo vệ môi trường sinh thái và sự bền vững

về văn hóa, với điều kiện các hoạt động kinh tế do DLSTtạo ra phải đưa lại lợi ích trực tiếp cho môi trường và cộng đồng địa phương

Định nghĩa về DLSTcủa Australia: “DLST là du lịch tới những vùng xa xôi hoặc

vùng thiên nhiên với mục đích tăng cường hiểu biết và thưởng thức môi trường tự nhiên và các di sản văn hóa, đồng thời tránh làm tổn hại hoặc làm giảm giá trị các chuyến du lịch khác”

Định nghĩa của Malaysia: “DLSTlà hoạt động du lịch và thăm viếng một cách có

trách nhiệm về mặt môi trường tới những khu vực thiên nhiên còn nguyên vẹn, nhằm tận hưởng và trân trọng các giá trị của thiên nhiên (và những đặc tính văn hóa kèm theo, trước đây cũng như hiện nay), hoạt động thăm viếng này sẽ thúc đẩy công tác bảo tồn, có ảnh hưởng của du khách không lớn, và tạo điều kiện cho dân chúng địa phương được tham gia một cách tích cực và có lợi về xã hội và kinh tế”

Như vậy, từ định nghĩa đầu tiên đưa ra năm 1987 cho đến nay, nội dung của định nghĩa về DLST đã có sự thay đổi: từ chỗ đơn thuần coi hoạt động DLST là loại hình

du lịch ít tác động đến môi trường tự nhiên sang cách nhìn tích cực hơn theo đó du lịch sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm với môi trường, có tính giáo dục

2.1.1.2 Tại Việt Nam

DLST ở nước ta là một loại hình du lịch đặc thù có nhiều tiềm năng để ưu tiên phát triển trong chiến lược phát triển du lịch nói chung Tuy vậy DLST là một lĩnh vực còn mới do đó nhiều vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn đang trong quá trình hình thành và phát triển Hiện nay sự phát triển của loại hình du lịch này chưa tương xứng với tiềm năng và sự phong phú đa dạng của điều kiện Việt Nam

Hầu hết các định nghĩa theo quan điểm về du lịch sinh thái ở Việt Nam cho đến nay

có thể được rút gọn như sau: “DLSTlà du lịch giải trí vừa dựa vào thiên nhiên vừa

mang tính bền vững”

Trang 13

Tại “ Hội thảo quốc gia về phát triển DLSTViệt Nam” tổ chức tại Hà Nội từ ngày 07/09 đến ngày 09/09/1999, Tổng cục Du lịch đã phối hợp với các tổ chức quốc tế IUCN (Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới), ESCAP (Ủy ban kinh tế xã hội Châu

Á và Thái Bình Dương), WWF (Tổ chức bảo tồn thiên nhiên và động vật hoang dã),… và các chuyên gia hàng đầu của Việt Nam trong nhiều lĩnh vực liên quan đến hoạt động du lịch đã soạn thảo và thông qua định nghĩa về DLST như sau:

“DLSTlà loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”

2.1.2 Đặc trưng của DLST

Hoạt động phát triển DLSTđược thực hiện trên cơ sở khai thác các giá trị của tài nguyên du lịch tự nhiên, văn hoá, lịch sử nhằm tạo ra những sản phẩm du lịch Trước tiên đó là những vấn đề về kinh tế xã hội, tạo ra nhiều cơ hội việc làm, nâng cao đời sống kinh tế cho cộng đồng địa phương thông qua các dịch vụ du lịch, tạo điều kiện cho việc bảo tồn các giá trị văn hoá, lịch sử và sự đa dạng của thiên nhiên nơi có những hoạt đông phát triển du lịch Sau nữa là những lợi ích đem lại cho khách du lịch trong việc nâng cao hiểu biết, thưởng ngoạn, hưởng thụ các giá trị tự nhiên, đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên mới lạ, độc đáo, và các truyền thống văn hoá lịch sử, đặc biệt những giá trị đặc thù của văn hoá bản địa mà trước đó họ chưa biết tới; từ đó xác lập ý thức về trách nhiệm bảo tồn sự toàn vẹn của các giá trị thiên nhiên văn hoá lịch sử của nơi họ đến nói riêng và trên toàn hành tinh nói chung

DLST là một dạng của hoạt động du lịch, vì vậy nó cũng bao gồm tất cả những đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch nói chung, bên cạnh đó DLST cũng hàm chứa trong đó những đặc trưng riêng bao gồm:

- Được thực hiện ở những khu vực thiên nhiên, đặc biệt ở các khu bảo tồn tự nhiên, vườn quốc gia

- Có chứa đựng yếu tố giáo dục và giải thích về môi trường tự nhiên và nhân văn của khu vực du lịch

- Góp phần bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên và môi trường văn hoá – xã hội

- DLSThỗ trợ việc bảo vệ các vùng tự nhiên thông qua việc thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương và tạo ra những lợi ích kinh tế, lợi ích văn hoá

xã hội cho cộng đồng, các tổ chức địa phương và ban quản lý các khu vực tự

Trang 14

nhiên, cung cấp nhiều cơ hội việc làm và thu nhập cho cộng đồng địa phương, tăng cường nhận thức về việc bảo tồn các tài nguyên tự nhiên và nhân văn cho cả người dân địa phương và các du khách

- Cung cấp lợi ích tài chính trực tiếp cho hoạt động bảo tồn

- DLST thường được tổ chức cho những nhớm du khách có số lượng nhỏ, do những công ty chuyên về du lịch sinh thái thực hiện

2.1.3 Nguyên tắc cơ bản của DLST

Để đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, DLST

có những nguyên tắc cần tuân thủ như sau:

2.1.3.1 Sử dụng các nguồn tài nguyên và nhân văn một cách bền vững

Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng mà hoạt động DLSTphải tuân theo bởi các giá trị về nhân văn là một bộ phận không thể tách rời với các giá trị môi trường tự nhiên trong một hệ sinh thái ở một địa điểm cụ thể

Mục đích của phát triển bền vững là để lại cho các thế hệ tương lai nguồn tài nguyên không thua kém gì so với những thế hệ trước đã được hưởng Do vậy cần phải ngăn chặn những thay đổi bất lợi đến môi trường, đến các nguồn tài nguyên không thể tái tạo, ngăn chặn sự tổn hại đến tần ôzon, sự nguy hiểm đến các hệ sinh thái đặc hữu và nhạy cảm như hệ sinh thái nhiệt đới và hệ sinh thái rừng nguyên sinh Các nguyên tắc này cũng cần được thực hiện đối với các nguồn tài nguyên nhân văn Nền văn hoá địa phương, các phong tục, phong cách sống và đất đai cả người dân địa phương cần phải được tôn trọng

2.1.3.2 Giảm mức tiêu thụ quá mức và lãng phí

Việc tiêu thụ quá mức các nguồn tài nguyên trong hoạt động du lịch như sử dụng quá nhiều nước, củi đun, các nguồn nguyên liệu khác,…không chỉ làm tổn hại đến môi trường địa phương mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của hoạt động DLST Nguyên tắc này nhằm giảm chi phí khôi phục các suy thoái môi trường, góp phần nâng cao chất lượng du lịch

2.1.3.3 Giảm sự đa dạng về tự nhiên và văn hoá của du lịch

Đa dạng sinh học và đa dạng văn hóa là một trong những yếu tố cuốn hút du khách đến với khu DLST Sự xuống cấp hoặc thay đổi bất kì điều kiện tự nhiên hay điều kiện văn hóa nào của khu vực cũng sẽ làm sức thu hút du khách giảm xuống, vì vậy cần phải chú ý giữ gìn sự đa dạng sinh học và đa dạng văn hóa

Trang 15

2.1.3.4 Quy hoạch phát triển DLSTcần phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế

- xã hội, quy hoạch bảo tồn chung của địa phương và quốc gia

Tính phù hợp quy hoạch DLST với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch bảo tồn chung là rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững vì nó giúp giảm thiểu được các chi phí phụ phát sinh cho hoạt động nghiên cứu đồng thời tạo một căn cứ vững chắc và thống nhất cho tổng thể nội dung bản quy hoạch Để làm tốt việc này, cần phải chú ý đến các vấn đề sau:

- Quan tâm đến nhu cầu trước mắt của cộng đồng địa phương và du khách

- Tôn trọng các chính sách quốc gia, vùng và địa phương đối với các ngành khác, đặc biệt là bảo tồn

- Cân nhắc các chiến lược phát triển và lựa chọn phương thức sử dụng lãnh thổ phù hợp với nhu cầu phát triển của môi trường

- Giảm thiểu các thiệt hại về môi trường, văn hóa, xã hội của cộng đồng địa phương bằng các đánh giá tác động môi trường được thực hiện với sự cộng tác của dân địa phương và các cơ quan chính quyền có liên quan

- Tiếp tục giám sát các tác động tiêu cực cùng với tác động khác về hoạt động

du lịch trước và trong dự án phát triển du lịch

- Nghiên cứu và giới thiệu các phương pháp có hiệu quả trong đánh giá tác động môi trường

- Nhận thức được các bước của dự án thích ứng với hiện trạng của địa phương

sẽ cung cấp thời gian để kế hoạch phát triển và giám sát dự án cho lợi ích lâu dài

2.1.3.5 Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương, qua đó hỗ trợ kinh

tế địa phương phát triển, tạo thêm việc làm và mang lại lợi ích mới cho cộng đồng địa phương

Các hoạt động kinh tế địa phương được nhờ vào sự phát triển du lịch do sự nảy sinh các dịch vụ bổ sung, và người dân địa phương ngoài doanh thu họ thu được từ các hoạt động sản xuất chính cũng được hưởng lợi từ việc phát triển DLST Nếu việc phát triển các loại hình du lịch khác ít quan tâm đến lợi ích của địa phương và phần lớn lợi nhuận thuộc về các công ty thì ngược lại DLST sẽ có những đóng góp vào cải thiện môi trường sống của cộng đồng địa phương

Ngoài ra DLST luôn hướng tới việc huy động tối đa việc tham gia của người dân địa phương để thực hiện các nhiệm vụ khác nhau như hướng dẫn viên, đảm nhiệm

Trang 16

việc sắp xếp chỗ nghỉ cho khách, cung ứng các nhu cầu về thực phẩm, về hàng lưu niệm,… Từ đó người dân địa phương tự nhận thức được sự gắn kết giữa việc bảo tồn với cuộc sống của họ, và chính họ sẽ là những người chủ thực sự, người bảo vệ trung thành các cảnh quan tự nhiên, các giá trị văn hóa nơi diễn ra hoạt động DLST

2.1.3.6 Giáo dục nâng cao hiểu biết cho du khách về môi trường tự nhiên và nhân văn qua đó tạo ý thức tham gia của họ vào các nỗ lực bảo tồn

Đây là một trong những nguyên tắc chính tạo sự khác biệt cơ bản giữa DLST với các loại hình du lịch tự nhiên khác Với những hiểu biết về môi trường tự nhiên và nhân văn mà du khách học được qua các chuyến DLST, hành vi của du khách sẽ thay đổi, được thể hiện bằng những nỗ lực tích cực trong việc bảo tồn và phát triển những giá trị về tự nhiên và văn hóa

2.1.3.7 Đào tạo cán bộ, nhân viên

Việc đào tạo nhân viên làm việc trong các KDL là một nhiệm vụ quan trọng của các

cơ quan có liên quan Sự thay đổi tích cực về chất lượng cán bộ, nhân viên cũng sẽ nâng cao chất lượng của các chuyến DLST Công việc đào tạo nhân viên có thể tuân thủ các hướng dẫn sau:

- Lồng ghép các vấn đề môi trường, văn hóa, xã hội vào các chương trình đào tạo

- Đề cao vị trí của các nhân viên địa phương ở các cấp và coi họ như một phần quan trọng của ngành công nghiệp du lịch

- Hướng dẫn nhân viên phương pháp giáo dục du khách hiểu biết về trách nhiệm của họ đối với khu du lịch

- Khuyến khích sự giáo dục đa văn hóa và trao đổi các chương trình đào tạo

- Hướng dẫn các nhân viên địa phương về công việc quản lý và các vị trí lãnh đạo

2.1.3.8 Tiếp thị DLSTmột cách có trách nhiệm

Các cơ quan quản lý DLSTcần cung cấp cho du khách những thông tin đầy đủ và có trách nhiệm nhằm nâng cao sự tôn trọng của du khách đến môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa KDL, qua đó góp phần thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu của du khách Việc cung cấp thông tin có thể thực hiện được qua các vấn đề sau:

- Đảm bảo rằng hoạt động marketing không chỉ giới hạn trong việc bán được sản phẩm mà còn phải phản ánh các chính sách, các hoạt động về môi trường

Trang 17

- Giáo dục du khách khi họ đến KDL và đưa ra những hướng dẫn về những việc nên làm hoặc không nên làm với môi trường

- Sử dụng các chiến lược marketing phù hợp với phong tục tập quán của địa phương và môi trường du lịch

- Đảm bảo du khách nhận được mọi thông tin đầy đủ, có ích và các vấn đề liên quan giúp họ hiểu được về chuyến du lịch

- Cung cấp các thông tin giáo dục cho du khách về việc tôn trọng các di sản văn hóa và tự nhiên của KDL

- Tổ chức các tour du lịch phù hợp sức chứa (quy mô, số lượng và loại hình…) Sử dụng các hướng dẫn viên có thể hướng dẫn một cách chân thực

và sinh động về môi trường và xã hội nhưng tránh tình trạng hướng dẫn rập khuôn

- Cung cấp cho du khách những thông tin trước và trong chuyến du lịch như: + Nhắc nhở họ rằng họ là khách và không nên gán những tiêu chuẩn và hành

vi ứng xử của riêng họ lên người dân địa phương

+ Khuyến khích du khách giao tiếp bằng tiếng địa phương nếu có thể, lắng nghe ý kiến của dân địa phương thay vì cứ đòi hỏi họ chiều theo ý mình + Khuyến khích và đề nghị du khách có hành vi ứng xử phù hợp (về ăn mặc,

về phong tục tập quán, ăn uống, lịch sử, chính trị…)

2.1.3.9 Tiến hành các nghiên cứu khoa học

Cần triển khai các nghiên cứu nhằm hỗ trợ giải quyết các vấn đề ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên và xã hội Việc tiếp tục nghiên cứu và giám sát ngành du lịch thông qua việc sử dụng và phân tích có hiệu quả các số liệu thu thập là cần thiết, nhằm giúp cho việc giải quyết những vấn đề tồn tại và đem lại nhiều lợi ích cho địa điểm tham quan, cho chính ngành du lịch và cho khách hàng Có thể dần dần tiến hành nghiên cứu qua các công việc sau:

- Khuyến khích, hỗ trợ các phương án đánh giá tác động môi trường, tác động

xã hội và kinh tế, đặc biệt ở các vùng thiếu điều kiện làm việc đó

- Tiến hành nghiên cứu cải thiện dự án đánh giá tác động môi trường và các kỹ thuật đánh giá dự án khác có liên quan đến du lịch

- Ủng hộ các nghiên cứu về phương pháp giảm thiểu tác động của du lịch đến môi trường tự nhiên, nhân văn

Trang 18

- Đảm bảo các kết quả nghiên cứu và bất kỳ thông tin liên quan nào cũng phải được phổ biến tới các viện nghiên cứu, các cơ quan có trách nhiệm liên quan đến quá trình quy hoạch du lịch

Trong các mô hình của hoạt động DLST tính bền vững được thể hiện qua các tiêu chí sau:

(1) DLST nên khởi đầu với sự giúp đỡ của những thông tin cơ bản nhưng đa dạng của cộng đồng và cộng đồng nên duy trì việc kiểm soát sự phát triển của du lịch

(2) Sử dụng và bảo vệ tài nguyên một cách bền vững: bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên, xã hội, văn hoá Việc sử dụng bền vững tài nguyên là nền tảng

cơ bản nhất của việc phát triển DLST bền vững

(3) Chương trình giáo dục và huấn luyện để cải thiện, quản lý di sản và các tài nguyên thiên nhiên nên đựơc thành lập Giảm tiêu thụ, giảm chất thải một cách triệt để nhằm nâng cao chất lượng môi trường

(4) Duy trì tính đa dạng về tự nhiên, văn hoá,…(chủng loài thực vật, động vật, bản sắc văn hoá dân tộc,….)

(5) Lồng ghép các chiến lựơc phát triển du lịch của địa phương với quốc gia (6) Phải hỗ trợ kinh tế địa phương, tránh gây thiệt hại cho các hệ sinh thái ở đây

(7) Phải thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương Điều này không chỉ đem lại lợi ích cho cộng đồng, cho môi trường sinh thái mà còn nhằm tăng cường khả năng đáp ứng các thị hiếu của du khách

(8) Phải biết tư vấn các nhóm quyền lợi và công chúng Tư vấn giữa công nghiệp du lịch và cộng đồng địa phương, các tổ chức và cơ quan nhằm đảm bảo cho sự hợp tác lâu dài cũng như giải quyết các xung đột có thể nảy sinh

(9) Đào tạo các cán bộ, nhân viên phục vụ trong hoạt động kinh doanh du lich nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch

(10) Nghiên cứu hỗ trợ cho du lịch Phải cung cấp cho du khách những thông tin đầy đủ và có trách nhiệm nhằm nâng cao sự tôn trọng của du khách đến môi trường tự nhiên, xã hội và văn hoá du lịch, qua đó góp phần thoả mãn các nhu cầu của du khách

Trang 19

2.1.4 Sơ lược hoạt động DLST tại một số vùng trên thế giới và Việt Nam

2.1.4.1 Du lịch sinh thái ở Châu Âu

Du lịch nói chung và DLSTnói riêng đang có những bước phát triển nổi bật Ngành công nghiệp không khói này đã và đang đóng góp một phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt ở các nước đang phát triển, nơi có những thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên

Các loại hìnhDLST đang trở thành hoạt động du lịch được yêu thích, và là một xu hướng mới trong ngành du lịch DLSTđã mang lại nhiều lợi ích cụ thể trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển bền vững tại nhiều nước trên thế giới

Việc áp dụng mô hình DLST tại các nơi có hệ sinh thái phong phú đang phát triển với một tỷ lệ gia tăng nhanh chóng Điều này đã và đang tạo ra các áp lực đáng kể, gây tổn hại đến môi trường, đe dọa những hệ sinh thái nhạy cảm và sự khai thác các nguồn tài nguyên cho bảo tồn và phát triển cộng đồng Tổ chức Bảo tồn Quốc tế (CI) đã nhận thấy rằng cần những cách tiếp cận có hiệu quả để đảm bảo sự tồn tại lâu dài của những khu vực tự nhiên then chốt Đó là một chiến lược thống nhất giữa phát triển và bảo tồn, kết hợp những công cụ chính sách phù hợp, khoa học logic và dùng công nghệ đổi mới để đưa vào trong bảo vệ khu vực và giáo dục môi trường

Du lịch dựa vào các vườn quốc gia là hoạt động then chốt mang lại lợi ích kinh tế cho các vùng ở phía Đông và phía Nam của châu Phi Kenya và Tanzania là những

ví dụ cụ thể Bắt đầu chỉ với vài ngàn du khách vào đầu những thập niên 1950, ngành du lịch Tanzania đã gia tăng đến 350.000 lượt khách vào năm 1995 trong khi

ở Kenya con số đó đã đạt tới 865.300 vào năm 1994 Ở cả hai quốc gia này thì ngành công nghiệp không khói này có một hệ thống vườn quốc gia vào loại tốt nhất thế giới

Australia, được công nhận là quốc gia có những đổi mới trong lĩnh vực du lịch, đã đưa ra nhiều ví dụ điển hình về hoạt động du lịch dựa vào thiên nhiên Du lịch ở Australia là ngành công nghiệp xuất khẩu lớn nhất (Shea and Sharp 1993) Từ năm

1983 đến 1993, số lượng khách du lịch quốc tế đã tăng từ 944.000 đến 3000.000, tỷ

lệ gia tăng hàng năm là 12%

Bên cạnh đó DLST còn mang lại nhiều lợi ích cụ thể trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển bền vững Ở Costa Rica và Venezuela, một số chủ trang trại chăn nuôi đó bảo

vệ nhiều diện tích rừng nhiệt đới quan trọng, và do bảo vệ rừng mà họ đó biến những nơi đó thành điểm DLST hoạt động tốt, giúp bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên đồng thời tạo ra công ăn việc làm mới cho dân địa phương Ecuađo sử dụng khoản thu nhập từ DLST tại đảo Galapago để giúp duy trì toàn bộ mạng lưới vườn quốc gia Tại Nam Phi, DLST trở thành một biện pháp hiệu quả để nâng cao mức sống

Trang 20

của người da đen ở nông thôn, những người da đen này ngày càng tham gia nhiều vào các hoạt động DLST Chính phủ Ba lan cũng tích cực khuyến khích DLST và gần đây đó thiết lập một số vườn Thiên nhiên và Du lịch của quốc gia để tăng cường công tác bảo vệ thiên nhiên và phát triển du lịch quốc gia Tại Úc và NewZealand, phần lớn các hoạt động du lịch đều có thể xếp vào hạng DLST Đây là ngành công nghiệp được xếp hạng cao trong nền kinh tế của cả hai nước

Ngành du lịch nói chung và DLST nói riêng hiện nay có thể cải thiện tính cạnh tranh của mình bằng cách sử dụng công nghệ thông tin và những phương pháp quản

lý tiên tiến

DLST là một hình thức vui chơi giải trí, bao gồm cả những chuyến du lịch đến các vùng trên thế giới vẫn bảo tồn được thiên niên hoang dã Do đó với điều kiện tự nhiên của Châu Âu cùng với những đặc trưng về nhu cầu du lịch của người dân trong khu vực thì các mô hình phiêu lưu mạo hiểm, khám phá những vùng đất mới rất thu hút được đông đảo du khách tham quan Tìm hiểu hoạt động DLST tại một

số vùng cụ thể sẽ làm rõ hơn vấn đề này

 Tại Nga

Hiệp hội địa lý sinh thái của Nga đang giới thiệu Dự án phát triển du lịch ở Nga Những tuyến hành trình do Hiệp hội đề xuất gây được ấn tượng ngay cả đối với những du khách sành điệu nhất

Bà Xenia Mishonova, chủ nhiệm các dự án media của Hiệp hội địa lý sinh thái Nga cho biết:

“Dưới sự bảo trợ của dự án "Các kỳ quan nước Nga", chúng tôi quyết định lập ra một số hành trình du lịch Tuyến "Huyền thoại Bắc cực" chẳng hạn Năm ngày du lịch, trong đó có một tour vùng cực, tham gia nghi thức thanh lọc trong công viên bảo tàng "Zhivun” Đây là bảo tàng dân tộc học tự nhiên, nơi bạn có thể tìm hiểu các nền văn hóa dân tộc bản địa trong môi trường lịch sử mà họ sinh sống Chúng tôi có thể cho các khách du lịch sống trong một lều mùa đông, học cách xẻ thịt, mổ

cá Du khách cũng có thể học cách điều khiển xe chó hoặc nai kéo” Ngoài ra còn

có một tuyến đi tuyệt vời đến vùng núi lửa Kamchatka Trong vòng 14 ngày du khách có thể nhìn thấy những đỉnh núi lửa đẹp nhất của vùng Viễn Đông, tắm suối nước nóng, làm quen với cuộc sống của cư dân địa phương Có một tuyến du lịch khác đến rừng taiga Ussuri, trong khu bảo tồn thiên nhiên “Kedrovaya Pad” Cơ hội DLST mở ra tại vùng Karelia, nơi có thác nước Kivach cao khoảng 10 mét Khách

du lịch sẽ vô cùng kinh ngạc trước cảnh đẹp của quần đảo Valaam ở hồ Ladoga lớn nhất châu Âu Nước Nga có hàng trăm danh lam thắng cảnh như vậy, và đó là một

Trang 21

món quà kì diệu dành cho những người yêu thiên nhiên DLST là cuộc hành trình đi vào lịch sử để làm quen với những truyền thống cổ xưa của nước Nga

 Tại Costa Rica

Trong thời gian 9 năm từ 1986 - 1995, số khách du lịch nước ngoài vào Costa Rica tăng từ 260.840 lên 792.287, con số này tạo ra tổng thu nhập trực tiếp là 661,3 triệu USD Năm 1992, ngành du lịch đã vượt lên trên ngành xuất khẩu chuối, trở thành hoạt động kinh tế quan trọng nhất trong nước về lĩnh vực thu ngoại hối và tạo việc làm Ngành du lịch chiếm 19,4 % thu nhập từ xuất khẩu của cả nước năm 1995, 8,9

% tổng sản phẩm quốc nội năm 1994 và chiếm 12% lực lượng lao động Năm 1995

số khách đến sân bay quốc tế chính cho thấy 56% khách đến từ Bắc Mỹ; 20% đến

từ Châu Âu; 9% đến từ Trung Mỹ và 2% đến từ Châu Á (Budowski, Monet, 1996 ) Thị trường du lịch của Costa Rica dựa vào sự kết hợp giữa phiêu lưu nhẹ nhàng với DLSTvà thiên nhiên Một mặt quan trọng của tình hình DLSTở đó là mối quan hệ qua lại giữa DLSTvà du lịch đại chúng Vì DLSTdiễn ra ở nhiều vùng cây xanh của Costa Rica nên phạm vi và phân bố của các giải pháp du lịch khách với du lịch đại chúng và du lịch thiên về môi trường là rất quan trọng, nhưng cũng rất khó định nghĩa Không giống như các nước khác, tại Costa Rica những đánh giá độc lập về bảo vệ môi trường đã được tiến hành nhằm phục vụ cho nhiều hoạt động DLST khác nhau trong nước Ví dụ như công trình đánh giá chất lượng cao và đổi mới được Blake và Becher tiến hành năm 1997 Cũng có lúc thành công của du lịch và DLSTở Costa Rica đã gây sức ép ngày càng tăng đối với tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực (Hill, 1990) Ví dụ, sự nổi tiếng và sự phát triển của các thành phố Monteverde, Manuel Antonio, Tortngero và các khu vực khác đã gây sức ép đối với môi trường và người làm công (Honey, 1994) và (Morrison, 1994 ) đã nêu ra sức ép căng thẳng xung quanh việc ngày càng trở nên nổi tiếng và tác động của du lịch sinh thái đối với Monteverde Plaeu's (1995) cũng xem xét một cách chi tiết những thử thách mà thành phố Tortuguero phải đối mặt Người ta cũng quan tâm đến một hiệp hội các khu du lịch gia đình mới được tổ chức gần đây mang tên TUR-CASA Hội này thể hiện nỗ lực sáng tạo nhằm tăng phần thu nhập từ du lịch cho phụ nữ ở Costa Rica (Shumakher,1995 )

Du lịch ở Costa Rica đã phát triển rất nhanh Phần lớn sự phát triển gần đây là tập trung vào xu hướng du lịch bãi biển dọc theo bờ biển Thái Bình Dương và Caribe Những số tiền lớn do đầu tư nước ngoài mang lại, giá đất tăng nhanh và sự phát triển tập trung đã thể hiện đặc điểm của xu hướng này Nhiều người quan tâm đến DLST cảm thấy đây là một hướng đi không may mắn và họ tự hỏi không biết phong trào chuyển từ DLSTsang các hình thức du lịch khác có phải là một xu hướng có thể

sẽ lặp lại ở nơi nào khác nữa không (Epler - Wood, 1997)

Trang 22

2.1.4.2 Du lịch sinh thái ở Châu Á

Trong quá trình phát triển hiện nay DLST đang có những bước phát triển mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí, tham quan, khám phá thiên nhiên của khách du lịch

Sự phát triển này đã và đang đem lại nhiều lợi ích về kinh tế, xã hội to lớn cho các quốc gia Châu Á – nơi có thế mạnh về nguồn tài nguyên thiên nhiên Các loại hình DLST đang trở thành hoạt động du lịch được ưa thích và là một xu hướng mới trong ngành du lịch DLST đã mang lại nhiều lợi ích cụ thể trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển bền vững tại nhiều nước Việc áp dụng các mô hình DLST tại các nơi có hệ sinh thái phong phú đang phát triển với tỉ lệ nhanh chóng Điều này đã, đang và sẽ còn tạo ra các áp lực gây tổn hại tới môi trường, đe dọa những hệ sinh thái nhạy cảm

Nắm bắt nhu cầu gia tăng đối với ngành công nghiệp du lịch xanh (DLST), chính phủ nhiều nước khu vực và các hãng lữ hành đã có những họat động tích cực, ví dụ như Campuchia gần đây đã trở thành quốc gia Đông Nam Á đầu tiên đáp ứng các tiêu chuẩn của Hội đồng Du lịch Bền vững Toàn cầu Trên mạng Internet, du khách

có vô số lựa chọn từ các nhà điều hành tour thúc đẩy các kỳ nghỉ “bền vững”, bao gồm cả ngỏ ý mua tín dụng cácbon để bù đắp mức thải khí cácbon do đi lại bằng máy bay cho tới việc nghỉ tại những khu ứng dụng tập quán xanh Ông John Koldowski, Phó giám đốc chấp hành Hiệp hội Du lịch châu Á - Thái Bình Dương cho rằng: “DLST là một thị trường mới song đang phát triển”.Xu hướng này tăng là nhờ ý thức nói chung về môi trường cùng với lối sống xanh, bền vững ngày càng tăng Hơn thế nữa, con người hiện đại đang có xu hướng tìm về những nơi thanh bình, yên tĩnh, vắng vẻ

Tận dụng nguồn lực địa phương và tài nguyên thiên nhiên sẵn có, các nước Châu Á

đã và đang từng bước tích cực xây dựng các mô hình DLST phù hợp cho quốc gia của mình nhằm phát triển hoạt động du lịch, bảo tồn tài nguyên và phát triển kinh tế của khu vực Một số quốc gia tại Châu Á có hoạt động DLST phát triển điển hình như Thái Lan, Indonesia

 Tại Thái Lan

DLST đang là một thuật ngữ thông dụng trong ngành du lịch Thái Lan, DLST mang lại nhiều lợi ích nhất định trong những năm gần đây về kinh tế, xã hội đồng thời góp phần bảo vệ thiên nhiên Sự phong phú và đa dạng của các nguồn tài nguyên giúp cho Thái Lan trở thành điểm đến lý tưởng cho những ai yêu thiên nhiên, tìm hiểu và khám phá chúng Các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân tại đây đã

Trang 23

nhanh chóng nhận thức được và đưa ra các mô hình đáp ứng yêu cầu phát triển DLST phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch

Những mô hình DLST như đi bộ, đạp xe leo núi, ngắm chim và lặn đều đã có sẵn ở nhiều vùng của Thái Lan Hầu hết các vườn quốc gia đều có những con đường mòn phục vụ cho việc khám phá thiên nhiên và có nhiều vị trí để cắm trại cho những ai muốn qua đêm ở khu vực này

Mô hình đi bộ, leo núi và cắm trại thường được đáp ứng ở hầu hết các khu vực trên khắp Thái Lan như Doi Luang Chiang Dao ở Chiang Mai, Phu Soi Dao ở Utt aradit, Thung Salaeng luang ở Phetchabun và Phitsanulok, Phu Krangdung ở Loei,… Ngoài những chuyến đi bộ, du khách còn có thể lựa chọn việc đi du lịch bằng voi hoặc bằng xe đạp cùng với các hướng dẫn viên du lịch Các hoạt động này tuy không còn mới nhưng hiện nay vẫn thu hút được lượng du khách lớn và các mô hình này đã được quản lý chặt chẽ hơn trước rất nhiều

Cụ thể những mô hình hoạt động DLST phổ biến ở Thái Lan như sau:

Ngắm chim/Quan sát chim

Những người thích ngắm chim ở trên thế giới đều đồng ý rằng Thái Lan là một trong những nơi tốt nhất để tham quan và ngắm sự phong phú và đa dạng của các loài chim Ước tính có khoảng trên 9000 loài chim ở trên thế giới, nhưng hơn 1000 loài đã nhìn thấy ở Thái Lan Ở Thái Lan, ngắm chim là một hoạt động có thể thưởng thức cả năm ở một số khu vực của đất nước

Từ Bangkok, nơi gần nhất có thể là công viên Lumpini nằm ở trung tâm của Bangkok Nhiều nhà nghiên cứu về chim khẳng định công viên Lumpini là nơi cư trú của nhiều loài chim Một số vùng phụ cận của Bangkok như Bangpoo ở Samut Prakarn là nơi cư trú của nhiều loài chim biển

Ba nơi khác không quá xa Bangkok là Bung Boraphet ở Nakhon Sawan, vườn quốc gia Khao Yai ở Nakhon Ratchasima, và Khao Sam Roi Yod ở Prachuab Khiri Khan

là những nơi có thể ngắm các loài chim

Bung Boraphet là hồ rộng nhất ở khu vực trung tâm và là một vị trí chính để cho chim cư trú trong suốt mùa đông Hàng trăm loài chim nước di cư từ Siberia ở phía Bắc của châu Á vào thời gian này

Nếu du lịch về phía hướng Bắc vào tháng X đến tháng II thì Doi Inthanon là một nơi tuyệt vời để xem nhiều loài chim núi Doi Inthanon được nhiều nhà nghiên cứu chim công nhận là có nhiều động thực vật núi quý hiếm và là nơi cư trú của các loài chim

Trang 24

Hầu hết 400 loài chim đã được nhìn thấy trong công viên này, ngoài công viên có ít nhất 267 loài bản địa và 105 loài di cư Mặc dù ngắm chim tại Doi Inthanon có thể suốt năm, nhưng thời gian tốt nhất là từ tháng XI đến tháng V

Ở Chiang Mai có nhiều nơi để xem chim núi như Doi Chiang Dao, Doi Angkhang,

và Doi Pha Hom Pok

Cắm trại

Hoạt động cắm trại là một hoạt động phổ biến của học sinh, sinh viên ở Thái Lan cũng như khách du lịch khi đến Thái Lan Mặc dù, ở trong các lán trại thì không thoải mái, tiện nghi như ở trong khách sạn, khu nghỉ dưỡng hay trong các nhà nghỉ nhưng nó gần gũi với thiên nhiên

Nơi tốt nhất để cắm trại ở Thái Lan đó là vườn quốc gia Hầu hết 76 vườn quốc gia

ở đây đều có ít nhất một nơi để cắm trại Đáng chú ý là Doi Suthep, Doi Pui ở Chiang Mai, Hat Jao Mai ở Trang, Nam Tok Pliew ở Chanthaburi, và Thap Lan ở Prachinburi, những nơi mà cắm trại không được cho phép

Chèo thuyền trên các dòng thác trắng xóa là một hoạt động tuyệt vời vào mùa mưa Nhiều nhà điều hành tour đã nhảy vào kinh doanh hoạt động này để đáp ứng lại nhu cầu của khách du lịch Một số các con sông được khám phá những năm gần đây và bây giờ nhiều con sông trong số đó đã trở nên nổi tiếng cho hoạt động chèo thuyền

Ở phía Bắc, là nơi đã bắt đầu hoạt động chèo thuyền ở Thái Lan và có những con sông thích hợp cho hoạt động chèo thuyền hơn các nơi khác Con sông nổi tiếng nhất và dài nhất để phát triển hoạt động này là sông Mae Taeng ở Chiang Mai Con sông này khá nổi tiếng với nhiều du khách quốc tế và du khách địa phương Một nơi hấp dẫn khác cho hoạt động chèo thuyền ởChiang Mai là trên sông Mae Cham, đây được coi như một trong những nơi hấp dẫn nhất cho hoạt động này ở phía Bắc

Trang 25

Sông Mae Cham là một phần của một chuyến đi bao gồm cả tham quan vườn quốc gia Doi Inthanon và Orb Luang

 Tại Indonesia

Indonesia là một quần đảo với hơn 17.000 hòn đảo, có khoảng 6000 hòn đảo có người ở, trong đó có 5 hòn đảo chính và hơn 30 hòn đảo nhỏ hơn nơi tập trung phần lớn cư dân Những hòn đảo chính là Sumatra, Kalimantan, Sulawesi, Papua và Java Mặc dù Indonesia có hơn 580 ngôn ngữ được nói bởi nhiều dân tộc khác nhau nhưng ngôn ngữ chính thức là Bahasa Sự đa dạng về dân tộc và giàu có về văn hóa,

sự phong phú các cảnh đẹp và những nguồn tài nguyên về biển đã được xác định là những tài sản quốc gia trong chương trình phát triển du lịch bền vững

Indonesia là đất nước có sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên, có khoảng 49 loại hệ sinh thái khác nhau Mặc dù lãnh thổ quốc gia chỉ 1,32% diện tích trái đất, tuy nhiên lại chứa 10% loài thực vật, 12% loài có vú của thế giới, 16% loài bò sát và lưỡng cư của thế giới, 17% tất cả các loài chim, trên một phần tư các loài cá biển và cá nước ngọt được biết đến và 15% loài côn trùng Nhiều hòn đảo của quần đảo là môi trường sống nhiều loài, từ rừng mưa đồng bằng, rừng xú vẹt, đồng cỏ savan, rừng đầm lầy và đồi đá vôi, cho đến các rừng miền núi, cánh đồng trên núi cao, và núi phủ tuyết trên đỉnh gần xích đạo Khoảng 59% diện tích đất của Indonesia được phủ rừng, đại diện cho phần lớn 10% rừng nhiệt đới còn lại của thế giới Khoảng 110 triệu hecta được xếp vào loại rừng bảo vệ, và 18,7 triệu hecta đã được công bố là các khu vực bảo tồn- trong đó 8,1 triệu hecta là khu bảo tồn tự nhiên chim muông

và thú rừng và 10,6 triệu hecta là diện tích bảo tồn tự nhiên Diện tích bảo tồn tự nhiên lại được chia thành 10 triệu hecta các công viên quốc gia, 223.000 hecta công viên giải trí rừng, và 381.000 hecta công viên giải trí tự nhiên Không ngạc nhiên khi nói Indonesia là một đất nước nổi tiếng với độ đa dạng cao các nguồn tài nguyên thiên nhiên và là một trong những trung tâm lớn về đa dạng sinh học Hiện nay, Indonesia có khoảng 120 khu có tiềm năng phát triển DLST bao gồm các vườn quốc gia, những khu rừng, những công viên DLST và nhiều khu du lịch về biển Một số khu vực bảo tồn nổi tiếng ở Indonesia:

- Vườn quốc gia Leuser ở phía Tây Bắc Sumatra;

- Vườn quốc gia Kerinci Seblet ở trung tâm phía Tây Sumatra;

- Khu vực cấm săn bắn Tai Tai Batti ở phía Tây Sumatra;

- Khu vực cấm săn bắn Berbak ở trung tâm Sumatra;

- Hàng ngàn hòn đảo ven biển ở Java;

Trang 26

- Vườn quốc gia Munt Palung ở phía Tây Kalimantan;

- Vườn quốc gia Dumoga Bone ở phía Bắc Sulawesi;

- Khu bảo tồn thiên nhiên Teluk Bintuni ở Papua;

- Khu bảo tồn thiên nhiên Mount Lorentz ở Papua;

Ở Indonesia có ba cơ quan liên quan đến phát triển ngành du lịch và DLST: chính phủ, khu vực kinh tế tư nhân và xã hội Chính phủ liên quan thông qua bộ Giao thông và Viễn thông, cơ quan nhà nước về Du lịch và Nghệ thuật, Cơ quan Quản lý các tác động Môi trường và chính quyền địa phương Chính phủ là cơ quan đứng đầu trong việc phát triển du lịch, trong khi các đại lý du lịch và các thành phần khác

là những người thực hiện điều đó Sự phối hợp giữa ba cơ quan trên cần phải được gia tăng vì các cơ quan nhà nước về Du lịch và Nghệ thuật không thể giải quyết tất

cả các vấn đề về du lịch Các vấn đề như hạn chế về nguồn tài chính, sử dụng tiền không hiệu quả, vấn đề an ninh và thiếu những người lãnh đạo tài tình đang là một thách thức để phát triển du lịch Sự thiếu nguồn nhân lực chuyên nghiệp và nguồn tài chính là những vấn đề được quan tâm cho phát triển du lịch ở Indonesia

2.1.4.3 Du lịch sinh thái ở Việt Nam

Trong những năm qua, DLSTđã và đang phát triển nhanh chóng ở nhiều quốc gia trên thế giới và ngày càng thu hút được sự quan tâm rộng rãi của các tầng lớp xã hội, đặc biệt đối với những người có nhu cầu tham quan du lịch và nghỉ ngơi Ngoài

ý nghĩa góp phần bảo tồn tự nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học và văn hóa cộng đồng;

sự phát triển DLSTđã và đang mang lại những nguồn lợi kinh tế to lớn, tạo cơ hội tăng thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho quốc gia cũng như cộng đồng người dân các địa phương, nhất là người dân ở các vùng sâu, vùng xa - nơi có các khu bảo tồn tự nhiên và các cảnh quan hấp dẫn Ngoài ra, DLSTcòn góp phần vào việc nâng cao dân trí và sức khỏe cộng đồng thông qua các hoạt động giáo dục môi trường, văn hóa lịch sử và nghỉ ngơi giải trí Chính vì vậy ở nhiều nước trên thế giới và trong khu vực, bên cạnh các lợi ích về kinh tế, DLST còn được xem như một giải pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường sinh thái thông qua quá trình làm giảm sức ép khai thác nguồn lợi tự nhiên phục vụ nhu cầu của khách du lịch, của người dân địa phương khi tham gia vào các hoạt động du lịch

Nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, lãnh thổ Việt Nam trải dài trên 15 độ vĩ tuyến với 3/4 là địa hình đồi núi và cao nguyên, với hơn 3200 km đường bờ biển, hàng ngàn hòn đảo,… và trên lãnh thổ đó là nơi sinh sống của cộng đồng nhiều dân tộc với lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, đấu tranh giữ nước với nhiều truyền

Trang 27

thống có những nét đặc trưng riêng, nhiều di tích văn hóa lịch sử nên Việt Nam có nhiều điều kiện phát triển DLST

Về các tiềm năng tự nhiên cho phát triển DLST, nét thể hiện rõ nhất là ở Việt Nam

có sự đa dạng sinh học khá cao, cũng như các hệ sinh thái đặc trưng

Về thành phần các loài động thực vật, tại Việt Nam có tới 14.624 loài thực vật thuộc gần 300 họ, trong đó có nhiều loài cổ xưa và hiếm có, ví dụ như Tuế phát triển từ Đại Trung Sinh, các loài có giá trị kinh tế gồm hơn 1000 loài lấy gỗ, 100 loài có dầu, hơn 1000 loài cây thuốc, 100 loài quả rừng ăn được, Về động vật có tới 11.217 loài và phân loài, trong đó có 1.009 loài và phân loài chim, 265 loài thú, 349 loài bò sát lưỡng cư, 2000 loài cá biển, hơn 500 loài cá nước ngọt và hàng ngàn loài tôm, cua, nhuyễn thể và thủy sinh vật khác Về các loài thú, Việt Nam có 10 loài đặc trưng nhiệt đới: Cheo, Đồi, Chồn bay, Cầy mực, Cu li, Vượn, Tê tê, Voi, Heo vòi, Tê giác và đặc biệt, trong thế kỷ 20 có 5 loài thú lớn mới được phát hiện thì đều

ở Việt Nam Điều này chứng tỏ tính đa dạng sinh học của nước ta còn khá cao và có thể còn có nhiều loài sinh vật mới có mặt tại Việt Nam

Cùng với các loài động thực vật tự nhiên, Việt Nam còn là một trung tâm của cây trồng nhân tạo Trên thế giới có 8 trung tâm cây trồng thì 3 trung tâm tập trung ở Đông Nam Á (Nam Trung Hoa - Hymalaya; Ấn Độ - Miến Điện; Đông Dương - Indonexia) với khoảng 270 loài cây nông nghiệp, riêng ở Việt Nam đã có hơn 200 loài cây trồng, trong đó có tới 90% cây trồng thuộc Trung tâm Nam Trung Hoa, 70% cây trồng thuộc trung tâm Ấn, Miến Đây là tiền đề cho tổ chức DLST canh nông

Về các hệ sinh thái tự nhiên, Việt Nam có một số hệ sinh thái đặc trưng gồm:

- Hệ sinh thái san hô ở Việt Nam khá giàu về thành phần loài, tương đương

với các khu vực giàu san hô khác ở Tây Thái Bình Dương, trong đó ở khu vực ven bờ phía Bắc có 95 loài, ở khu vực ven bờ phía Nam có 255 loài Trong các rạn san hô quần tụ nhiều loài sinh vật khác nhau, nhiều loài có màu sặc sỡ và có giá trị kinh tế cao

- Hệ sinh thái đất ngập nước ở các vùng có những đặc thù riêng, trong đó nổi

bật là các hệ sinh thái ngập mặn ven biển trải dài dọc bờ biển từ Móng Cái

(Quảng Ninh) đến Mũi Nai (Kiên Giang) Tiêu biểu nhất là ở đồng bằng

sông Cửu Long phân bố một diện tích lớn các hệ sinh thái đất ngập nước, chủ yếu là các hệ sinh thái ngập mặn và các hệ sinh thái đất ngập phèn Trong các hệ sinh thái ngập mặn thì các hệ sinh thái rừng ngập mặn châu thổ sông Cửu Long nuôi dưỡng một số lớn diệc, cò, cò lớn, cò quăm Tại đây có

Trang 28

các sân chim lớn Rừng ngập mặn là nơi sinh sản, cư trú của nhiều hải sản, chim nước, chim di cư và các loài động vật có ý nghĩa kinh tế lớn như khỉ, lợn rừng, kỳ đà, chồn, trăn, Một dạng hệ sinh thái đất ngập nước điển hình khác là các đầm lầy nội địa hoặc đầm phá ven bờ, trong đó có các hệ sinh thái rừng tràm U Minh, tứ giác Long Xuyên là nổi tiếng Các hệ sinh thái đầm lầy nội địa kết hợp với các vùng sình lầy cửa sông tạo nên các vùng đất ngập nước lớn ở hai châu thổ, nơi có số lượng lớn chim cư trú và chim di cư hàng năm cùng với nguồn lợi quý là mật ong rừng

- Hệ sinh thái vùng cát ven biển của nước ta đa dạng với 60 vạn ha, tập trung

chủ yếu ở ven biển miền Trung (30% tổng diện tích) Các nhóm hệ sinh thái cát hình thành trên các loại cát khác nhau: hệ sinh thái vùng cồn cát trắng vàng; hệ sinh thái vùng đất cát biển; hệ sinh thái vùng đất cát đỏ Đặc biệt lớn là khối cát đỏ ở Tây Bắc Phan Thiết với các cồn di động (do gió tạo nên) vừa có sức hấp dẫn lớn với du khách, vừa có thể phục vụ sản xuất nông nghiệp (trồng hoa màu, dưa hấu, đào lộn hột, )

Các hệ sinh thái rừng nhiệt đới với nét đặc trưng là hệ thống các khu rừng đặc dụng

là nơi lưu trữ các nguồn gen quý của nước ta phân bố ở khắp từ Nam ra Bắc, từ đất liền tới các hải đảo Tính đến năm 2004, cả nước đã có 107 khu rừng đặc dụng trong

đó có 28 vườn quốc gia, 43 khu bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng văn hóa - lịch

sử - môi trường với tổng diện tích là 2.092.466 ha

Với nét đặc trưng là hệ thống các khu rừng đặc dụng là nơi lưu trữ các nguồn gen quý của nước ta phân bố ở khắp từ Nam ra Bắc, từ đất liền tới các hải đảo Tính đến năm 2004, cả nước đã có 107 khu rừng đặc dụng trong đó có 28 vườn quốc gia, 43 khu bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng văn hóa - lịch sử - môi trường với tổng diện tích là 2.092.466 ha

Các tiềm năng nhân văn cho phát triển DLST ở Việt Nam cũng rất đa dạng và phong phú Dân tộc Việt Nam có hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước với nền văn hóa đa dạng bản sắc của 54 dân tộc anh em, trong đó có nhiều tài nguyên đặc biệt có giá trị Chỉ tính riêng về các di tích, trong số khoảng 40.000 di tích hiện

có thì hơn 2.500 di tích được Nhà nước chính thức xếp hạng Tiêu biểu nhất Cố Đô Huế; đô thị cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn, Nhã nhạc Cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới

Ngoài các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng, nhiều nghề thủ công truyền thống với

kỹ năng độc đáo, nhiều lễ hội gắn liền với các sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian đặc sắc của cộng đồng 54 dân tộc cùng với những nét riêng, tinh tế của nghệ thuật

Trang 29

ẩm thực được hòa quyện, đan xen trên nền kiến trúc phong cảnh có giá trị triết học phương Đông đã tạo cho Việt Nam sức hấp dẫn về du lịch

Mặc dù có tiềm năng phát triển, song DLSTở Việt Nam mới ở giai đoạn khởi đầu Đối với nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, DLSTcòn là loại hình du lịch mới cả về khái niệm lẫn tổ chức quản lý và khai thác sử dụng tài nguyên phục

vụ cho mục đích du lịch Công tác nghiên cứu, điều tra cơ bản và quy hoạch phát triển DLSTcòn hạn chế Nhiều địa phương, nhiều công ty lữ hành đã cố gắng xây dựng một số chương trình, tuyến du lịch mang sắc thái của DLSTđã được xây dựng song quy mô và hình thức còn đơn điệu, mờ nhạt, sản phẩm và đối tượng thị trường còn chưa rõ nên ít có khả năng thu hút khách Mặt khác việc đào tạo nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ điều hành quản lý, hướng dẫn viên DLSTcòn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển

Tuy là loại hình du lịch khá mới ở nước ta, nhưng trước nhu cầu của thị trường và khả năng đáp ứng của các tiềm năng DLSTcủa Việt Nam, tại một số nơi hoạt động DLSTcũng đã hình thành dưới các hình thức khai thác tiềm năng tài nguyên du lịch

tự nhiên khác nhau như du lịch tham quan, nghiên cứu ở một số khu vườn quốc gia (Cát Bà, Cúc Phương, Ba Bể, Nam Cát Tiên, Tam Nông, U Minh, ); du lịch thám hiểm, nghiên cứu vùng núi cao như Phanxipăng; du lịch tham quan miệt vườn, sông nước đồng bằng sông Cửu Long; du lịch lặn biển (Hạ Long - Cát Bà, Nha Trang), thám hiểm hang động (Phong Nha), Thị trường khách của loại hình DLST ở Việt Nam còn rất hạn chế Phần lớn khách du lịch quốc tế đến các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên là từ các nước Tây Âu, Bắc Mỹ và Úc, còn khách nội địa là sinh viên, học sinh và cán bộ nghiên cứu Trong số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam hàng năm chỉ có khoảng 5 - 8% tham gia vào các tour DLST tự nhiên và khoảng 40

- 45% tham gia vào các tour du lịch tham quan - sinh thái nhân văn Còn đối với thị trường khách du lịch nội địa tỷ lệ này thấp hơn

Nhận thức rõ vai trò của DLSTđối với sự phát triển của ngành du lịch nói riêng và bảo vệ tài nguyên, môi trường đảm bảo cho sự nghiệp phát triển bền vững kinh tế -

xã hội của đất nước nói chung, vào tháng 9/1999, Tổng cục Du lịch Việt Nam đã phối hợp với Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) và ủy ban Kinh tế - Xã hội Châu á Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức Hội thảo quốc tế về xây dựng khung chiến lược phát triển DLSTlàm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch Việt Nam cũng như đẩy mạnh hợp tác phát triển hoạt động DLSTcủa Việt Nam với các nước trong khu vực và quốc tế Tại Hội thảo này, các chuyên gia và các nhà quản lý du lịch Việt Nam cùng phối hợp với chuyên gia quốc tế đã xây dựng định

nghĩa DLSTnhư sau:“DLSTlà loại hình du lịch dựa vào tự nhiên và văn hóa, có

Trang 30

giáo dục môi trường, đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, có sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” Đây là cơ sở lý luận khá quan trọng

tạo tiền đề cho việc tổ chức triển khai các hoạt động thực tiễn đẩy mạnh phát triển loại hình DLSTtrong thời gian tiếp theo Cùng với việc xây dựng định nghĩa về DLST; những nguyên tắc, những yêu cầu cơ bản của hoạt động DLST cũng được thảo luận và đưa ra tại hội thảo này

Để đẩy mạnh phát triển DLSTViệt Nam theo định hướng chiến lược phát triển du lịch đã được Chính Phủ phê duyệt, căn cứ vào sự phân bố về mặt không gian của các vùng sinh thái đặc thù với sự có mặt của các loài sinh vật đặc hữu, cũng như căn

cứ vào các điều kiện về kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng, trong tương lai định hướng

tổ chức không gian cho hoạt động DLST ở Việt Nam có thể theo các hướng sau:

- Vùng núi và ven biển Đông Bắc: bao gồm các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc

Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Hải Phòng Các giá trị DLST ở khu vực này

là hệ sinh thái trên núi đá vôi, hệ sinh thái đất ngập nước, hệ sinh thái san hô, Tiêu biểu là khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Sơn, Hữu Liên - Lạng Sơn; vườn quốc gia Ba Bể - Bắc Kạn; hồ Núi Cốc - Thái Nguyên; vườn quốc gia Bái Tử Long - Quảng Ninh; vườn quốc gia Cát Bà - Hải Phòng; hệ sinh thái san hô ở khu vực Hạ Long và Cát Bà, Các loại hình DLSTcó thể tổ chức được bao gồm tham quan nghiên cứu các hệ sinh thái đặc thù, du lịch mạo hiểm, du lịch lặn biển

- Vùng núi Tây Bắc - Hoàng Liên Sơn: không gian hoạt động DLSTở vùng

này chủ yếu bao gồm phần phía Tây của 2 tỉnh Lào Cai và Lai Châu với vùng sinh thái núi cao Sapa - Fan Xi Păng có nhiều loài sinh vật ôn đới và vườn quốc gia Hoàng Liên nơi có tới 38 loài động vật thuộc loài quý hiếm cần được bảo vệ Các loại hình DLST có thể tổ chức được ở khu vực này bao gồm: tham quan nghiên cứu các hệ sinh thái vùng núi cao, du lịch mạo hiểm

- Vùng đồng bằng sông Hồng: với không gian chủ yếu thuộc các tỉnh Hà Tây,

Vĩnh Phúc, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình Trên phạm vi không gian vùng DLST này có 4 vườn quốc gia là Ba Vì, Tam Đảo, Xuân Thủy và Cúc Phương Căn cứ vào các đặc điểm sinh thái tự nhiên và điều kiện có liên quan hoạt động DLST ở vùng này chủ yếu là tham quan nghiên cứu các hệ sinh thái đặc thù kết hợp với thắng cảnh và du lịch văn hóa

- Vùng Bắc Trung Bộ: bao gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình

và khu vực Đông Nam Thừa Thiên - Huế, phần phía Tây Đà Nẵng và Quảng Nam Địa bàn này được đánh giá có tính đa dạng sinh học cao với nhiều

Trang 31

vườn quốc gia (Bến En, Pù Mát, Vũ Quang, Phong Nha Kẻ Bàng, Bạch Mã)

là những khu rừng nguyên sinh rộng lớn Đây cũng là vùng mà trong thời gian qua đã phát hiện 3 loài thú mới là Sao la, Mang lớn và Voọc Hà Tĩnh Ngoài tính đa dạng sinh học, ở vùng này còn có Vườn quốc gia Phong Nha -

Kẻ Bàng với động Phong Nha được công nhận là di sản thế giới Chính vì vậy tiềm năng DLSTở vùng này là rất lớn Các loại hình DLST có thể tổ chức được ở khu vực này bao gồm: tham quan nghiên cứu các hệ sinh thái,

du lịch mạo hiểm, du lịch lặn biển,

- Vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên: bao gồm phần phía Tây của Tây

Nguyên, một phần phía Bắc Lâm Đồng xuống đến Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận Các hệ sinh thái điển hình của vùng bao gồm hệ sinh thái rừng khộp mà tiêu biểu ở Yok Đon, hệ sinh thái đất ngập nước ở Hồ Lắc, hệ sinh thái vùng núi cao ở Ngọc Linh, Bidoup - Núi Bà, hệ sinh thái san hô ở Nha Trang, hệ sinh thái cát ở Mũi Né, Đây là vùng tập trung nhiều hệ sinh thái điển hình và cũng là nơi được thế giới công nhận có tính đa dạng sinh học cao, là nơi duy nhất ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á có đủ 4 loài bò xám và bò sừng xoắn và cũng là nơi còn có nhiều loài chim, thú, bò sát, cá, các loài thực vật thuộc diện quý hiếm, đặc hữu ở Việt Nam và trên thế giới Các loại hình DLSTcó thể tổ chức được ở khu vực này bao gồm: tham quan nghiên cứu các hệ sinh thái, du lịch mạo hiểm, du lịch lặn biển

- Vùng Đông Nam Bộ: không gian chủ yếu bao gồm khu vực vườn quốc gia

Cát Tiên (Lâm Đồng - Bình Phước - Đồng Nai), vườn quốc gia Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ (TP.Hồ Chí Minh), Tính

đa dạng sinh học của vùng này cũng được đánh giá là khá cao với nhiều hệ sinh thái điển hình, trong đó đáng chú ý là các hệ sinh thái ở Cát Tiên với loài tê giác Giava, Các loại hình DLSTchủ yếu có thể tổ chức được ở vùng này bao gồm: tham quan nghiên cứu các hệ sinh thái điển hình, du lịch mạo hiểm,

- Vùng đồng bằng sông Mê Kông: với 2 hệ sinh thái điển hình là đất ngập

nước và rừng ngập mặn, không gian hoạt động DLSTở vùng này chủ yếu tập trung ở các tỉnh dọc sông Mekông và các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang Rừng ngập mặn Cà Mau; Tràm Chim Đồng Tháp - nơi bảo tồn loài sếu cổ trụi; các vườn quốc gia U Minh Thượng, Phú Quốc là những nơi có giá trị đặc biệt cho hoạt động DLST Ngoài ra, các miệt vườn, đặc biệt trên các cù lao dọc sông Tiền, sông Hậu, là những điểm DLSThấp dẫn của

Trang 32

vùng Tính độc đáo của hoạt động du lịch nói chung, DLST nói riêng ở vùng đồng bằng sông Mekong là du lịch sông nước, miệt vườn

Tóm lại, DLSTlà hoạt động du lịch mới phát triển một vài thập kỷ gần đây và đang trở thành một xu hướng tích cực để đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững gắn liền với việc bảo tồn thiên nhiên và môi trường, các giá trị nhân văn giàu bản sắc văn hóa của mọi dân tộc, thông qua việc giáo dục nhận thức của xã hội, của cộng đồng Việt Nam là một nước có điều kiện và tiềm năng phát triển DLST với những ưu thế của thiên nhiên nhiệt đới ẩm, địa hình, cảnh quan đa dạng với nhiều hệ sinh thái điển hình khác nhau từ vùng núi cao nguyên đến vùng đồng bằng ven biển và hải đảo Trên những khu vực cảnh quan này là địa bàn cư trú của hàng chục các dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam với những phong tục tập quán, nền văn nghệ dân gian đặc sắc

Với tiềm năng và tài nguyên du lịch lớn, đa dạng và phong phú, ngành Du lịch đã

có những bước đi tương đối vững chắc, tạo ra bước phát triển mới Từ một ngành kinh tế tổng hợp, giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế - xã hội, đến nay Du lịch đã được xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn trong thời kỳ CNH – HĐH (công nghiệp hóa – hiện đại hóa) đất nước Đạt được những thành quả của sự phát triển Du lịch Việt Nam trong những năm qua có nhiều nguyên nhân,

nhưng trong đó không thể không nói đến nhân tố có ý nghĩa quyết định: đó là sự ổn

định về chính trị của đất nước, sự nghiệp quốc phòng - an ninh được giữ vững

Chính điều đó đã tạo ra một điểm đến an toàn, thân thiện, thu hút du khách đến với Việt nam; đồng thời, khẳng định trên thực tế giữa quốc phòng - an ninh và du lịch

đã từng bước có sự gắn bó cần thiết, vì lợi ích chung là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Việt Nam XHCN

Trong quá trình triển khai thực hiện Quy hoạch về chiến lược và các kế hoạch phát triển du lịch, Việt Nam đã khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên du lịch, môi trường sinh thái một cách có hiệu quả Đặc biệt chú trọng đến việc phát triển các loại hình DLSTở các khu vực trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng kháng chiến cũ hoặc một số hải đảo xa bờ nhằm đem lại lợi ích cho nhân dân, tăng thu nhập cho xã hôị, tạo công ăn việc làm, nâng cao ý thức bảo vệ, gìn giữ và khai thác hợp lý tài nguyên du lịch của đất nước Với những nỗ lực bảo vệ môi trường và gìn giữ giá trị của nguồn tài nguyên đa dạng sinh học, Việt Nam đã hình thành mạng lưới các chương trình DLSTtrong tất cả các Vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyền và các khu vực bảo tồn thiên nhiên

Trong những năm qua, hoạt động Du lịch Việt Nam đã có nhiều khởi sắc và đạt được những tiến bộ vững chắc: từ năm 1991 đến 2001, lượng khách du lịch quốc tế

Trang 33

tăng từ 300 ngàn lượt người lên 2,33 triệu lượt người, tăng 7,8 lần Khách du lịch nội địa tăng từ hơn 1,5 triệu lên 11,7 triệu lượt người, tăng gần 8 lần Thu nhập xã hội từ du lịch tăng nhanh, năm 2001 đạt 20.500 tỷ đồng, so với năm 1991,gấp gần 9,4 lần Hoạt động du lịch đã tạo việc làm cho khoảng 22 vạn lao động trực tiếp và hàng vạn lao động gián tiếp Trong 8 tháng đầu năm 2003, Việt Nam đón hơn 1,42 triệu khách du lịch quốc tế, và hơn 9 triệu khách du lịch nội địa Lượng khách du lịch quốc tế đang tăng lên, riêng trong tháng 8/2003 đã có 193.390 khách quốc tế, tăng 26% so với tháng VII, chủ yếu đến từ Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc và

Mỹ Công suất sử dụng phòng tại các khách sạn lớn tăng đáng kể, đạt mức trên 80% Lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong 4 tháng cuối năm 2003 đạt khoảng 800.000 người

Những khó khăn và thách thức hiện nay: Trong bối cảnh tình hình chính trị thế giới trở nên phức tạp sau vụ khủng bố tại Mỹ ngày 11/9/2001 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động du lịch trên thế giới Cạnh tranh về du lịch giữa các nước trong khu vực ngày càng trở nên gay gắt Du lịch Việt Nam còn chưa có những sản phẩm

du lịch chất lượng cao, hấp dẫn, chất lượng dịch vụ chưa cao Hệ thống quản lý Nhà nước về Du lịch chưa tương xứng với nhiệm vụ đặt ra cho Ngành Trước bối cảnh

đó và trước nhu cầu phát triển nhanh trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, Du lịch Việt Nam phải có một chiến lược phát triển đúng đắn, một kế hoạch triển khai thống nhất và đồng bộ

2.2 TỔNG QUAN VÙNG NGHIÊN CỨU

2.2.1 Tỉnh Đồng Tháp

2.2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

Vị trí địa lý

Đồng Tháp là 1 trong 13 tỉnh, thành phố thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, có

sau:

Phía Bắc giáp Campuchia, phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ, phía Đông giáp tỉnh Long An và tỉnh Tiền Giang, phía Tây giáp tỉnh An Giang Đồng Tháp có 9 huyện (Hồng Ngự, Tân Hồng, Thanh Bình, Tam Nông, Tháp Mười, Cao Lãnh, Lấp Vò, Lai Vung và Châu Thành), 1 thị xã Sa Đéc và 1 thành phố Cao Lãnh Trong đó, Hồng Ngự và Tân Hồng là 2 huyện biên giới giáp

Campuchia (hình 2.1)

Trang 34

Hình 2.1 Sơ đồ hành chính tỉnh Đồng Tháp

Với điều kiện tự nhiên và vị trí nằm trong vùng đồng bằng Châu Thổ, được hình thành từ phù sa sông nên Đồng Tháp có địa hình khá bằng phẳng, nhất là khu vực Đồng Tháp Mười Độ cao chênh lệch không lớn, trung bình khoảng 2 m

Sông Tiền đã chia Đồng Tháp thành 2 vùng lớn: vùng phía Bắc sông Tiền và vùng phía Nam sông Tiền

- Vùng phía Bắc sông Tiền: địa hình tương đối bằng phẳng Bao gồm các

huyện thuộc khu vực Đồng Tháp Mười như: huyện Hồng Ngự, Tân Hồng, Tam Nông, Thanh Bình, Cao Lãnh, Tháp Mười và Thành phố Cao Lãnh Vùng phía Bắc sông Tiền có hướng dốc: Tây Bắc – Đông Nam, cao ở vùng biên giới và vùng ven sông Tiền, thấp dần về phía trung tâm Đồng Tháp Mười, tạo thành vùng lòng máng trũng, rộng lớn có dạng đồng lụt kín

- Vùng phía Nam sông Tiền: nằm kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu Bao gồm:

huyện Lấp Vò, Lai Vung, Châu Thành và Thị xã Sa Đéc Địa hình có dạng lòng máng, hướng dốc từ hai bên sông vào giữa Cao độ phổ biến từ 0,8 - 1,0m; cao nhất là 1,5 m; thấp nhất là 0,5 m

Điều kiện thời tiết, khí hậu

Tỉnh Đồng Tháp có khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa Mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Mùa mưa từ tháng V đến tháng XI, trùng với gió mùa Tây Nam Mùa khô từ tháng XII đến tháng IV năm sau; gió mùa Đông Bắc từ tháng XII-II, gió Nam, Đông Nam tháng III-IV

Trang 35

- Nhiệt độ trung bình trong năm 27,0 - 27,3oC, chênh lệch nhiệt độ giữa các

- Lượng mưa lượng mưa trung bình năm ở Đồng Tháp là 1.600 – 1.700 mm, thuộc loại trung bình ở đồng bằng sông Cửu Long Lượng mưa phân bố không đồng đều theo các mùa trong năm Mùa mưa từ tháng V đến tháng XI, chiếm đến 90 - 92% lượng mưa của cả năm và tập trung vào các tháng IX, X (30 - 40%), Trong mùa mưa thường có thời gian khô hạn (hạn Bà Chằn) vào khoảng cuối tháng VII đến đầu tháng IIX

- Độ ẩm tương đối của không khíbình quân năm là 82 – 85% và thay đổi theo mùa Mùa mưa độ ẩm không khí cao, đạt cực đại vào tháng IX, X (88%) Mùa khô độ ẩm thấp và đạt trị số cực tiểu vào tháng II, III (78 – 80%)

- Lượng bốc hơi bình quân 3,1 mm/ngày và có khuynh hướng giảm dần xuống theo hướng Nam Các tháng mùa khô có lượng bốc hơi lớn, trung bình 3,1 – 4,6 mm/ngày Các tháng mùa mưa có lượng bốc hơi nhỏ 2,3 – 3,3 mm/ngày

- Số giờ nắng cao, bình quân năm khoảng 2.500 giờ/năm và khoảng 6,8 giờ/ngày và có khuynh hướng giảm dần theo hướng Đông Bắc – Tây Nam Vào mùa khô, số giờ nắng là 7,6 – 9,1 giờ/ngày, vào mùa mưa là 5,1 - 7 giờ/ngày

- Gió trên địa bàn, trong năm thường thịnh hành hai hướng gió chính: gió mùa Đông Bắc (từ tháng IX đến tháng IV); gió mùa Tây Nam (từ tháng V đến tháng X) Tốc độ gió nhìn chung không cao (trung bình năm 1,0 – 1,5 m/s, trung bình lớn nhất 17 m/s) Do nằm sâu trong đất liền, hướng gió mạnh thường là Tây đến Tây Nam

Đặc điểm sông rạch, kênh đào

Với 120 km sông Tiền và 30 km sông Hậu cùng với những con sông lớn như sông

Sở Thượng và sông Sở Hạ, Đồng Tháp còn có hệ thống khoảng 1.000 kênh rạch lớn nhỏ với tổng chiều dài dòng chảy là 6.273 km Mật độ sông trung bình: 1,86 km/km2

- Sông Tiền là dòng chảy chính chảy qua 114 km chia tỉnh Đồng Tháp thành 2 vùng lớn: Vùng phía Bắc sông Tiền thuộc khu vực Đồng Tháp Mười và vùng phía Nam sông Tiền thuộc khu vực giữa sông Tiền – sông Hậu Chiều rộng sông biến động trong khoảng 510 - 2.000 m, chiều sâu lòng sông trung bình

Trang 36

từ 15 – 20 m, lưu lượng bình quân 11.500 m3/s, lớn nhất 41.504 m3/s, nhỏ nhất 2.000 m3/s

- Sông Hậudài khoảng 30 km trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, chiều rộng biến động trong khoảng 300 – 500 m và chiều sâu lòng sông thay đổi từ 10 – 30

m

- Các dòng chảy chính khác:

+ Hệ thống các kênh rạch ngang: chuyển nước từ sông Tiền vào Đồng Tháp Mười như: kênh Trung Ương, kênh Đồng Tiến, kênh Nguyễn Văn Tiếp, Trong đó, quan trọng nhất là kênh Trung Ương chiếm 40% tổng lượng nước các kênh ngang cấp cho nội đồng

+ Hệ thống các kênh dọc: kênh 2/9, kênh Thống Nhất, kênh Tân Công Chí, kênh Tân Công Sính, kênh Phước Xuyên, Trong đó, nước sông Tiền theo kênh 28–Phước Xuyên lên rất xa, là nguồn bổ sung nước quan trọng cho vùng Đồng Tháp Mười

+ Hệ thống các tự nhiênnhư Sở Thượng, Sở Hạ, Ba Răng, Cần Lố, đã góp phần khá lớn trong việc cấp và thoát nước ở các huyện phía Bắc sông Tiền + Phía Nam sông Tiềnngoài tự nhiên như rạch Sa Đéc, rạch Cái Tàu Hạ còncónhững tuyến kênh quan trọng như kênh Lấp Vò, kênh Mương Khai nối sông Tiền và sông Hậu

Chế độ thủy văn

Mùa lũ kéo dài từ tháng VII đến tháng IX, do dòng lũ từ sông Tiền, sông Hậu và dòng tràn từ biên giới Campuchia So với các huyện ở phía Bắc sông Tiền, lũ xuất hiện tại các huyện phía Nam sông Tiền chậm hơn Tân Châu 10-20 ngày Vào tháng VII, khi nước sông dâng cao, nội đồng tích nước, mực nước bình quân cao dần Những vùng ngập sớm trước ngày15/8 là huyện Hồng Ngự, Tam Nông, Thanh Bình, một phần huyện Tân Hồng, Cao Lãnh, Tháp Mười Các vùng còn lại của vùng Đồng Tháp Mười và bờ Nam sông Tiền như Tân Mỹ, Tân Khánh Đông ngập trước ngày 1/9 Các vùng ven sông Hậu ngập từ ngày 1/9 đến 15/9 Cường suất lũ lên từ 3-4 cm/ngày, cá biệt có khi lên đến 10 cm/ngày

Mùa kiệt bắt đầu không đồng bộ trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, chậm dần từ phía Bắc xuống phía Nam, thường kéo dài từ tháng XII đến tháng V năm sau, kiệt nhất là vào tháng IV Trong mùa kiệt, lưu lượng sông Tiền và sông Hậu giảm mạnh nhưng mực nước sông Tiền luôn luôn cao hơn sông Hậu

Trang 37

Thời gian ngập lũ trong những năm lũ trung bình, phần lớn diện tích ngập trên 4 tháng nằm ở phía Bắc kênh Nguyễn Văn Tiếp Hầu hết diện tích còn lại của tỉnh ngập từ 1-3 tháng Diện tích ngập dưới 1 tháng không lớn, nằm ven sông Tiền của huyện Cao Lãnh (giáp với Tiền Giang) Trong năm lũ lớn, thời gian ngập của diện tích nằm phía Bắc kênh Nguyễn Văn Tiếp kéo dài từ4-5 tháng nhưng thời gian ngập của các khu vực ven sông Tiền, sông Hậu không kéo dài hơn bao nhiêu so với lũ bình thường

2.2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Tổng sản phẩm nội địa (GDP)

Ước tính sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp của tỉnh 7 tháng đầu năm

2010 đạt mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước Giá trị sản xuất CN-TTCN

07 tháng đầu năm 2010 ước đạt 5.258,59 tỷ đồng (giá cố định 1994) so với cùng kỳ năm trước tăng 19,53% hay thực tế tăng 859,36 tỷ đồng Chia theo thành phần kinh

tế cho thấy: Kinh tế nhà nước địa phương chỉ tăng 0,11% trong khi kinh tế nhà nước trung ương tăng đến 31,62% làm cho thành phần kinh tế nhà nước tăng trưởng chung là 23,0% hay thực tế tăng 73,43 tỷ đồng Kinh tế ngoài nhà nước tăng 17,24% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 309,67%

Phát triển các ngành kinh tế

 Trồng trọt

Ngành trồng trọt giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu sử dụng đất (chiếm tỷtrọng 74,38% diện tích tự nhiên, 94% diện tích đất nông nghiệp, cơ cấu kinh tế nông nghiệp với thứ tự giá trị tăng thêm là: lúa, cây ăn quả, rau màu, cây công nghiệp hàng năm; trong đó, sản xuất lúa chiếm ưu thế rõ rệt

Sản lượng lúa vụ Đông Xuân đạt 1,47 triệu tấn (tăng 3% so với cùng kỳ năm 2009) Lúa Hè Thu xuống giống đạt 197.093 ha, năng suất khoảng 56,6 tạ/ha (tăng 3,4 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước) Diện tích hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày xuống giống đạt 23.886 ha; cây ăn trái đạt 23.399 ha

Hoa màu lương thực: tập trung chủ yếu tại khu vực ven sông Tiền, sông Hậu và các

cù lao Diện tích cây bắp chiếm 4.989 ha, tập trung chủ yếu tại Hồng Ngự

Rau màu thực phẩm: phân bố chủ yếu tại khu vực ven sông và cù lao, trong đó ngoài các loại rau phổ thông phục vụ đô thị và hệ thống canh tác được đặc trưng bởi vùng tập trung rau muống lấy hạt tại Thanh Bình và Hồng Ngự, vùng trồng ớt tại Thanh Bình

Trang 38

Cây công nghiệp hàng năm gồm các loại cây chính là đậu nành và mè Nhìn chung, cây công nghiệp hàng năm chiếm tỷ trọng không cao, phát triển ít ổn định và phụ thuộc vào điều kiện thị trường

Cây ăn trái: Về cơ cấu, diện tích các loại cây ăn trái biến động mạnh theo điều kiện thị trường và tình hình dịch bệnh

- Đàn trâu:liên tục giảm do quá trình cơ giới hóa gia tăng, nhu cầu cày kéo giảm và người nuôi có khuynh hướng phát triển mạnh đàn bò, chủ yếu ở huyện Hồng Ngự, Tân Hồng, Thanh Bình, Tam Nông

- Đàn bò:tăng rất nhanh do có sự tác động lớn của các chính sách Nhà nước về đầu tư cơ sở hạ tầng; các chính sách hỗ trợ giống, tập huấn kỹ thuật chăn nuôi, tiêm phòng dịch bệnh; các chính sách tín dụng, hỗ trợ phát triển đồng

cỏ để chăn nuôi bò tập trung Ngoài ra, tại khu vực Tân Hồng còn có hình thức mua và vỗ béo bò từ Campuchia

- Đàn gia cầm:chăn nuôi tiếp tục phát triển với khoảng 170.000 con gia súc; gần 2,4 triệu con gia cầm

 Thủy sản

Ngành thủy sản tỉnh Đồng Tháp phát triển chủ yếu là khu vực nuôi trồng với khuynh hướng ngày càng tăng tỷ trọng trong cơ cấu ngành thủy sản Trong cơ cấu kinh tế khu vực nông – lâm – ngư nghiệp, ngành thủy sản chiếm tỷ trọng chưa cao

và đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất Nuôi trồng thủy sản phát triển ổn định với 188

cơ sở sản xuất, kinh doanh giống; diện tích nuôi cá tra 1.350 ha, đạt 72,1% kế hoạch năm; sản lượng thu hoạch cá tra 148.000 tấn, đạt 52 % kế hoạch; diện tích nuôi tôm càng xanh 1.200 ha, đạt 66,6% so kế hoạch

Trong khi đó, nghề đánh bắt chủ yếu là loại hình đăng đáy trên sông Tiền, sông Hậu hoặc khai thác thủy sản mùa lũ trên các phương tiện nhỏ Năng suất và sản lượng khai thác thấp, khoảng 18.486 tấn/năm, tương đương 701 kg/ha mặt nước/năm hoặc

Trang 39

1,16 tấn/CVphương tiện (CV: đơn vị công suất của phương tiện đánh bắt) Số phương tiện đánh bắt đang hoạt động khoảng 11.468 phương tiện không có cơ giới

và 1.876 phương tiện cơ giới có công suất nhỏ (6 CV/phương tiện), chủ yếu là khai thác thủy sản mùa lũ

 Lâm nghiệp

Tỉnh Đồng Tháp có 10.872 ha đất rừng, trong đó chủ yếu là rừng tràm trồng, phân

bố chủ yếu ở huyện Tam Nông, Tháp Mười và Cao Lãnh

Trữ lượng rừng tràm Đồng Tháp đạt độ tuổi 10 năm, bình quân 92 – 107 m3/ha, chiều cao vút ngọn từ 7 – 8 m Tổng trữ lượng gỗ tràm bình quân theo cấp tuổi tương ứng với diện tích là 393.520 m3 Tổng lượng sinh khối là 352.347 tấn Sản lượng cừ 53.682.276 cây các loại

Các cây phân tán được trồng trong các vườn tạp, dọc đường giao thông chính, chung quanh nhà ở, khu vực đô thị, các công trình công cộng,… nhằm bảo vệ công trình, tạo bóng mát, cải tạo cảnh quan môi trường Hàng năm, trên toàn tỉnh có khoảng 85 triệu cây phân tán các loại được trồng mới

Diện tích rừng và cây trồng phân tán có vai trò quan trọng góp phần trong sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh như: bảo vệ môi trường, tạo độ che phủ cản lũ, chắn gió phòng hộ cho nông nghiệp, chống sạt lở, bảo vệ công trình hạ tầng Ngoài ra, rừng còn có ý nghĩa đối với việc bảo vệ cuộc sống của con người và là môi trường sống cho các loài động vật, nơi lưu trữ bảo tồn các gen và sinh cảnh tự nhiên (đa dạng sinh học), tạo cảnh quan thu hút khách tham quan, du lịch trong và ngoài tỉnh như vườn quốc gia Tràm Chim, khu du lịch sinh thái Gáo Giồng

 Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tỉnh Đồng Tháp đã được hình thành và phát triển mạnh tại thành phố Cao Lãnh, thị xã Sa Đéc và các trung tâm huyện lớn như: Hồng Ngự, Lai Vung, Lấp Vò, Mỹ Thọ do hạ tầng kỹ thuật tương đối khá tốt Nhìn chung, toàn ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh sản xuất chủ yếu dựa vào tiềm năng và nội lực; phát triển khá do có được nguồn nguyên liệu và nhân lực dồi dào và một phần do có cơ chế chính sách thích hợp Do đó, từ năm 2000 trở lại đây, ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp của tỉnh phát triển tương đối nhanh, đặc biệt là trong chế biến lương thực, thực phẩm

Số cơ sở công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và lao động của toàn tỉnh đã tăng từ 12.413 cơ sở với 43.306 lao động năm 2000 lên 15.092 cơ sở với 57.099 lao động năm 2006

Trang 40

Các ngành chủ lực hiện nay là: thực phẩm chiếm 74,64%; Sản phẩm từ hóa chất chiếm 17,87%; sản phẩm dệt may da chiếm 1,97%; sản phẩm gỗ chiếm 1,43%; sản phẩm từ khoáng chất phi kim loại chiếm 1,28%; thuốc lá chiếm 1,1%,…

 Vận tải

Vận tải đường bộ: toàn tỉnh có 947 xe vận tải hàng hóa có năng lực tổng cộng là 3.289 tấn; 4.399 xe khách có 16.085 ghế chở khách và một số xe chuyên dùng Vận tải đường thủy: tỉnh có 4.695 ghe vận tải có năng lực 57.672 tấn; 395 ghe thuyền có 10.813 ghế chở khách và một số xà lan, tàu kéo, thuyền máy

Trong thực tế, nhu cầu vận tải và luân chuyển hàng hóa có thể cao hơn gấp 4 lần do lực lượng vận tải trong các doanh nghiệp và trong dân rất lớn chưa thống kê đủ, cũng như do lực lượng vận tải của tỉnh còn nhỏ, còn nhờ vào đối tác của các tỉnh khác

 Thương mại - xuất nhập khẩu

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tháng 3/2010 ước đạt 2.168,92 tỷ đồng, giảm 0,7% so với tháng trước và tăng 23,79% so với cùng kỳ năm 2009 Tính chung 3 tháng đầu năm ước đạt 6.529,03 tỷ đồng, tăng 24,53% so với cùng kỳ năm

2009 Tháng 3/2010, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 40,94 triệu đô la Mỹ, tăng 37,81% so với tháng trước và tăng 22,81% so với cùng kỳ năm 2009 Tính chung 3 tháng đầu năm ước đạt 112,92 triệu đô la Mỹ, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó, thuỷ sản chế biến tăng 1,16%, gạo giảm 32,85% so với cùng kỳ năm 2009 Kim ngạch nhập khẩu tháng 3/2010 ước đạt 38,86 triệu đô la Mỹ, tăng 0,88% so với tháng trước, giảm 2,52% so với cùng kỳ năm 2009 Tính chung 3 tháng đầu năm ước đạt 103,07 triệu đô la Mỹ, tăng 54,16% so với cùng kỳ năm 2009

Tháng 2/2010, đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho 30 doanh nghiệp, với tổng số vốn đăng ký 63,55 tỷ đồng Tính chung 2 tháng đầu năm, đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho 61 doanh nghiệp, tổng vốn đăng ký 149,60 tỷ đồng.

Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực là gạo, thủy sản đông lạnh, bánh phồng tôm, sản phẩm may mặc, và nhập khẩu xăng dầu, phân bón,… phục vụ cho sản xuất nông nghiệp

Các điểm trung chuyển hàng hóa nông thủy sản đang được đầu tư xây dựng Giai đoạn I, đầu tư xây dựng Chợ trái cây Mỹ Hiệp nằm trên Quốc lộ 30 về thành phố

Hồ Chí Minh đã thu mua trái cây bình quân trên 100 tấn/ngày trái cây các loại Đang mời gọi đầu tư chợ Thủy sản, chợ Hoa kiểng Sa Đéc và chợ lúa gạo Thanh

Ngày đăng: 23/10/2022, 19:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[6] Lê Huy Bá, (2009), Du lịch sinh thái (Ecotourism), NXB Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái (Ecotourism)
Tác giả: Lê Huy Bá
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2009
[7] Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu, (2001), Du lịch bền vững. NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
Tác giả: Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2001
[8] Nguyễn Thị Mai Linh, (2002), Bài giảng Bảo tồn đa dạng sinh học. Trường ĐH Tôn Đức Thắng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Bảo tồn đa dạng sinh học
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Linh
Năm: 2002
[9] Thái Xuân Tình, (2008), Đánh giá tác động môi trường do hoạt động DLST Cần Giờ và bước đầu đề xuất mô hình phù hợp. Trường ĐH Tôn Đức Thắng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động môi trường do hoạt động DLST Cần Giờ và bước đầu đề xuất mô hình phù hợp
Tác giả: Thái Xuân Tình
Năm: 2008
[1] Báo cáo quy hoạch môi trường tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020 Khác
[2] Báo cáo thống kê du lịch toàn tỉnh của Sở thể thao văn hóa và du lịch Khác
[3] Báo cáo thống kê hoạt động du lịch của khu DLST Gáo Giồng trong 6 tháng đầu năm 2011 Khác
[4] Báo cáo tổng kết năm 2010 và định hướng phát triển cho du lịch Đồng Tháp đến năm 2015 của Sở thể thao văn hóa và du lịch tỉnh Đồng Tháp Khác
[5] Du lịch sinh thái – hướng dẫn cho nhà lập kế hoạch và quản lý Khác
[9] Ecotourism as a Tool for Development in Peripheral Regions Khác
[10] Environmental impact of Ecotourism. [11] Một số trang web Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w