1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận nghiệp vụ công KT GS KL đảng Những vấn đề cơ bản về kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm

16 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những vấn đề cơ bản về kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm
Trường học Trường Đại học Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng
Thể loại Tiểu luận nghiệp vụ công
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 42,44 KB
File đính kèm Tiểu luận KT-GS-KL Đảng.rar (40 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lý do chọn đề tài Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng nói chung và kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm nói riêng là một mặt công tác cơ bản của Đảng, trực tiếp góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta ngày càng trọng sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc trong từng giai đoạn. Những năm qua, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật trong Đảng nói chung, công tác kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần đáng kể vào việc ngăn chặn tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, củng cố lòng tin của nhân dân và sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, công tác kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu sai phạm ở không ít tổ chức đảng cũng như ở ủy ban kiểm tra Đảng thực hiện còn bị động, thậm chí còn sai sót do không nắm vững nghiệp vụ chuyên môn của công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng. Để góp phần tìm hiểu và nâng cao nhận thức, hiệu quả công tác kiểm tra Đảng nói chung, tôi chọn chủ đề: “Những vấn đề cơ bản về kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm” làm bài tiểu luận (điều kiện) của mình cho môn học: “Nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng”.

Trang 1

1 Lý do chọn đề tài

Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng nói chung và kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm nói riêng là một mặt công tác cơ bản của Đảng, trực tiếp góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta ngày càng trọng sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc trong từng giai đoạn

Những năm qua, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật trong Đảng nói chung, công tác kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần đáng kể vào việc ngăn chặn tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, củng cố lòng tin của nhân dân và sự lãnh đạo của Đảng Tuy nhiên, công tác kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu sai phạm ở không ít tổ chức đảng cũng như ở ủy ban kiểm tra Đảng thực hiện còn bị động, thậm chí còn sai sót do không nắm vững nghiệp vụ chuyên môn của công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng

Để góp phần tìm hiểu và nâng cao nhận thức, hiệu quả công tác kiểm tra

Đảng nói chung, tôi chọn chủ đề: “Những vấn đề cơ bản về kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm” làm bài tiểu luận (điều kiện) của mình cho môn học:

“Nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng”

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích của tiểu luận: Trên cơ sở khái quát mục đích, ý nghĩa, tác

dụng của việc kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, tiểu luận trình bày những nội dung chủ yếu về nghiệp vụ công tác kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu sai phạm

2.2 Nhiệm vụ của tiểu luận: Làm rõ những nội dung chủ yếu về nghiệp vụ

công tác kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu sai phạm

Trang 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Tiểu luận nghiên cứu quan điểm, chủ trương,

hướng dẫn của Đảng về nghiệp vụ kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu sai phạm

3.2 Phạm vi nghiên cứu: Tiểu luận nghiên cứu quan điểm, chủ trương,

hướng dẫn của Đảng về nghiệp vụ kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu sai phạm

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận: Tiểu luận dựa trên những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí

Minh, các quan điểm của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung, về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng nói riêng để thực hiện nhiệm vụ của tiểu luận

4.2 Phương pháp nghiên cứu: Tiểu luận sử dụng tổng hợp các phương pháp

nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đặc biệt là phương pháp lịch sử, phân tích để triển khai nhiệm vụ nghiên cứu

5 Ý nghĩa thực tiễn và lý luận của tiểu luận

5.1 Ý nghĩa lý luận: Tiểu luận góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ,

đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên làm công tác kiểm tra Đảng các cấp về vai trò, tầm quan trọng và nghiệp vụ của công tác kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, từ đó có ý thức thực hiện tốt hơn trách nhiệm của mình đối với công này, góp phần quan trọng vào xây dựng, làm trong sạch tổ chức đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng trong giai đoạn hiện nay

5.2 Ý nghĩa thực tiễn: Việc nhận thức đúng và đầy đủ mục đích, ý nghĩa, tác

dụng và nghiệp vụ của công tác kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm trong giai đoạn hiện nay sẽ giúp các cấp ủy đảng, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong ngành kiểm tra đảng làm tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của mình, góp phần quan trọng hoàn thành nhiệm vụ ngành kiểm tra, qua đó góp phần thực hiện thắng lợi công tác xây dựng, chỉnh đốn tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay

6 Kết cấu của tiểu luận

Trang 3

Ngoài phần mở đầu, kết luận, chú thích, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung tiểu luận gồm 2 chương, 5 tiết

NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM TRA ĐẢNG VIÊN VIÊN KHI CÓ

DẤU HIỆU SAI PHẠM

1.1 Một số nhận thức chung về kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu sai phạm

1.1.1 Khái niệm vi phạm, dấu hiệu vi phạm và khi có dấu hiệu vi phạm:

Theo Từ điển Tiếng Việt: "Vi phạm" là "Không tuân theo hoặc làm trái những điều đã quy định" (1) "Dấu hiệu" là "Hiện tượng tỏ rõ điều gì" đó (2) Dấu hiệu vi phạm là những hiện tượng cho thấy có sự không tuân theo, không làm hoặc làm trái một hoặc một số điều quy định của Đảng, Nhà nước

Vi phạm và dấu hiệu vi phạm thuộc cặp phạm trù bản chất và hiện tượng Trong đó, vi phạm là bản chất; dấu hiệu vi phạm là hiện tượng bên ngoài để nhận biết Hiện tượng phản ảnh bản chất, nên có thể phản ánh đúng bản chất cuả sự vật Song, trong quá trình phản ánh, dưới tác động của nhiều yếu tố, việc phản ánh có thể bị xuyên tạc, nên không phản ánh đúng bản chất của sự vật Vì vậy, dấu hiệu vi phạm có thể có vi phạm mà cũng có thể không có vi phạm

Dấu hiệu vi phạm của đảng viên là những hiện tượng, biểu hiện qua những thông tin, tài liệu, hiện vật cho thấy đảng viên không tuân theo, không làm hoặc làm trái các quy định của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội Nhưng, khi chưa được cấp có thẩm quyền kiểm tra, kết luận thì các hành vi có biểu hiện sai trái của đảng viên chỉ được xem là "có dấu hiệu vi phạm" Ngược lại, khi những dấu hiệu vi phạm của đảng viên được các tổ chức, cấp thẩm quyền đối chiếu với các quy định của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội mà đảng viên tham gia, có căn cứ cho thấy đảng viên đó

Trang 4

không tuân theo, không làm hoặc làm trái một hoặc một số điều quy định của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội thì đảng viên

đó vi phạm kỷ luật Đảng

1.1.2 Phát hiện, xác định dấu hiệu vi phạm và quyết định kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm

Phát hiện dấu hiệu vi phạm là việc tổ chức, cá nhân bằng nhận thức, trách nhiệm của mình tiến hành nhận diện, phân tích, tìm ra những thông tin, tài liệu, hiện vật cho thấy đảng viên không tuân theo, không làm hoặc làm trái một hoặc một số điều quy định của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội Xác định dấu hiệu vi phạm là việc tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quy định của Đảng về phân cấp quản lý cán bộ, các thông tin, tài liệu, hiện vật phản ảnh về dấu hiệu vi phạm đã thu thập, phát hiện được, thông qua các phương pháp nghiệp vụ kiểm tra để phân tích, sàng lọc, đánh giá, lựa chọn cụ thể, chính xác về đối tượng, nội dung có dấu hiệu vi phạm, xem xét, quyết định việc kiểm tra

Việc xác định đảng viên có dấu hiệu vi phạm phải dựa vào các căn cứ: (i) Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cấp ủy, tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra, chi bộ; chương trình, kế hoạch công tác năm của cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra; (ii) Quy định của Bộ Chính trị, cấp ủy các cấp về phân cấp quản lý cán bộ; (iii) Các thông tin, tài liệu, báo cáo, phản ánh về dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được thu thập, phát hiện từ các nguồn: Báo cáo kết quả công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, kiểm toán của cấp uỷ, tổ chức mà đảng viên sinh hoạt; Báo cáo tự phê bình và phê bình của đảng viên và kết quả phân loại chất lượng đảng viên; Tố cáo, khiếu nại, kiến nghị, phản ảnh, góp ý của đảng viên, quần chúng và các phương tiện thông tin đại chúng cũng như qua khảo sát, nắm tình hình bước đầu của tổ chức đảng

Khi có cơ sở khẳng định có dấu hiệu vi phạm thì tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, các quy định của Đảng, đề nghị

Trang 5

của cán bộ kiểm tra hoặc đơn vị thuộc cơ quan ủy ban kiểm tra để ban hành quyết định kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm

1.1.3 Kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm

Đây là nhiệm vụ của tổ chức đảng có thẩm quyền, trước hết là của chi bộ, cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra các cấp nhằm xem xét, kết luận đảng viên có hoặc không có vi phạm trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng; các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng; việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và toàn Đảng

Kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm chỉ được tiến hành khi đã phát hiện, có cơ sở xác định có dấu hiệu vi phạm Nội dung kiểm tra đảng viên có dấu hiệu vi phạm, gồm: (1) Việc chấp hành các quy định của Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng; pháp luật của Nhà nước; đặc biệt là việc tuân thủ các văn bản pháp quy trong từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể; (2) Việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; thực hiện nhiệm vụ cấp ủy viên, nhiệm

vụ đảng viên; (3) Việc chấp hành quy chế làm việc, chế độ công tác, các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ; (4) Việc giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, lối sống; đoàn kết thống nhất nội bộ; (5) Việc thực hiện quy định về những điều đảng viên không được làm

Qua kiểm tra, tổ chức đảng sẽ kết luận đảng viên có vi phạm hay không có

vi phạm, vi phạm đến mức phải xử lý hay không đến mức phải xử lý

1.2 Mục đích, ý nghĩa, tác dụng của việc kiểm tra nói chung và kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm nói riêng

Mục đích của kiểm tra nói chung là để làm rõ đúng, sai Do đó, sau khi kiểm tra phải kết luận và xử lý (nếu có vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật) Chủ tịch

Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Có kiểm tra mới huy động tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời” (3) Theo Người, mục đích của công tác kiểm tra chính là phát

Trang 6

hiện những hạn chế, bất cập, thiếu sót trên mọi phương diện trong quá trình tổ chức thực hiện để hoàn thành tốt nhất công việc đề ra; biết rõ cán bộ và nhân viên tốt hay xấu; biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các cơ quan, của các mệnh lệnh và nghị quyết Chủ tịch Hồ Chí Minh coi kiểm tra là một trong ba nhân tố quyết định đến sự thành công của mọi công việc, bên cạnh cách thức tổ chức thực hiện và công tác cán bộ Người chỉ rõ: “Lãnh đạo đúng nghĩa là: 1- Phải quyết định mọi vấn đề cho đúng… 2- Phải tổ chức sự thi hành cho đúng… 3- Phải tổ chức sự kiểm soát” (4) Theo Người, nếu thiếu một trong ba điều trên thì chính sách đúng đến mấy cũng không thể mang lại hiệu quả trong thực tiễn

Tại Hội nghị tổng kết công tác kiểm tra của Đảng (ngày 29-7-1964), Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: “Kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm trọn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân Do đó mà góp phần vào việc củng cố Đảng về tư tưởng, về tổ chức” (5) Quan điểm này của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành mệnh lệnh hành động xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của Đảng Đảng ta đã khẳng định: kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo quan trọng của Đảng, “có vị trí cực kỳ quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng” (6) Vì lãnh đạo không chỉ là việc định ra đường lối, chính sách, nghị quyết, chỉ thị, tổ chức thực hiện và bố trí cán bộ, mà còn là kiểm tra, giám sát nhằm bảo đảm đường lối, chính sách được xác định đúng, được quán triệt và thực hiện thắng lợi trên thực tiễn Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, vừa là chức năng lãnh đạo, vừa là trách nhiệm, nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng

Ở mỗi giai đoạn cách mạng, công tác kiểm tra đảng nói chung đều được Đảng ta quan tâm chỉ đạo; việc kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm nói riêng là một nhiệm vụ quan trọng, trực tiếp và thường xuyên của cấp uỷ các cấp và luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của uỷ ban kiểm tra các cấp, góp phần quan trọng và có hiệu quả để phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động quản lý nhà nước, cũng như trong hoạt

Trang 7

động thi hành nhiệm vụ, quyền hạn được giao của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức Qua kiểm tra sẽ giúp cho bản thân đảng viên, tổ chức đang ng quản lý đảng viên đó thấy được khuyết điểm, vi phạm (nếu có); không để khuyết điểm trở thành vi phạm, hoặc vi phạm ít nghiêm trọng trở thành nghiêm trọng; không để vi phạm của một người trở thành vi phạm của nhiều người, của một tổ chức đảng Qua đó, góp phần chủ động phòng ngừa, giáo dục, "răn đe", ngăn chặn vi phạm của đảng viên được kiểm tra và cả những đảng viên chưa được kiểm tra; góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, chất lượng hoạt động của các tổ chức đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và toàn Đảng

Kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm giúp cho các tổ chức đảng quản

lý đảng viên thấy được ưu điểm để phát huy, khắc phục những khuyết điểm, hạn chế, bất cập; rút ra những bài học kinh nghiệm, để từ đó giám sát, quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên tốt hơn Đồng thời, giúp cho tổ chức đảng phát hiện những quy định của Đảng không còn phù hợp hoặc còn thiếu để sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung nhằm quản lý chặt chẽ đảng viên phù hợp với tình hình thực tế; chỉ đạo các tổ chức nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến việc quản lý cán bộ, đảng viên và chính sách, pháp luật

Thực tiễn hơn 90 năm lãnh đạo của Đảng, nhất là những năm gần đây cho thấy: Kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm đã từng bước kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tình trạng tham nhũng, “lợi ích nhóm”, “tư duy nhiệm kỳ”, tha hóa quyền lực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; đồng thời, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, xây dựng hệ thống chính trị liêm chính, hành động nhằm thực hiện thành công mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Trang 8

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ KIỂM TRA ĐẢNG VIÊN KHI

CÓ DẤU HIỆU VI PHẠM

Ngày 16-10-1948, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra quyết định thành lập Ban kiểm tra Trung ương (hiện nay là Ủy ban Kiểm tra Trung ương), tuy chưa nêu

cụ thể về kiểm tra đảng viên, nhưng có nhiệm vụ điều tra và báo cáo cho Trung ương những việc như: Đường lối chỉ đạo của Trung ương có đúng và sát không? Việc thi hành nghị quyết, chỉ thị của Trung ương trong toàn Đảng như thế nào? Những việc bất thường xảy ra ở các cấp, các ngành Từ Đại hội II của Đảng đến nay, qua mỗi kỳ Đại hội, Đảng ta từng bước hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của

Ủy ban Kiểm tra Đảng các cấp, trong đó có nhiệm vụ kiểm tra đảng viên "khi có dấu hiệu vi phạm"

2.1 Chủ thể, đối tượng, nội dung, cách tiến hành kiểm tra đảng viên khi

có dấu hiệu vi phạm

2.1.1 Về chủ thể và đối tượng kiểm tra:

Chủ thể kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm gồm: chi bộ (bao gồm

cả chi bộ trong đảng bộ cơ sở và chi bộ trong đảng bộ bộ phận), cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra các cấp

Khi đảng viên có dấu hiệu vi phạm, cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra các cấp phải nắm vững Điều lệ Đảng và các quy định, hướng dẫn của Đảng về công tác kiểm tra

và thi hành kỷ luật trong Đảng Trong đó, cấp uỷ các cấp được quyền kiểm tra mọi đảng viên trong đảng bộ, kể cả cấp uỷ viên cùng cấp; chi bộ được quyền kiểm tra đảng viên trong chi bộ khi có dấu hiệu vi phạm; Uỷ ban kiểm tra các cấp có quyền kiểm tra mọi đảng viên trong đảng bộ, kể cả cấp uỷ viên cùng cấp khi có dấu hiệu

vi phạm, nhưng không phải đảng viên là cán bộ do cấp uỷ cấp trên quản lý

Đảng viên là cấp uỷ viên cùng cấp, nhưng là cán bộ do cấp uỷ cấp trên quản

lý và những trường hợp không phải cấp uỷ viên nhưng là cán bộ do cấp trên quản

Trang 9

lý, nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm thì phải báo cáo để Ủy ban kiểm tra của cấp

uỷ quản lý cán bộ đó kiểm tra

2.1.2 Về nội dung kiểm tra:

Theo quy định tại Điều 1, Điều 2, Điều 12 Điều lệ Đảng, nội dung kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm gồm có: có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp uỷ viên và việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên Khi kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, không nhất thiết phải kiểm tra tất cả nội dung,

mà phải căn cứ vào dấu hiệu vi phạm để xác định nội dung cụ thể cần kiểm tra

1.2.3 Cách tiến hành:

Khi phát hiện đảng viên có dấu hiệu vi phạm, Ủy ban kiểm tra và cán bộ kiểm tra phải nắm tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị và sinh hoạt của đảng viên thông qua các kênh: báo cáo theo định kỳ của các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị; kết quả phân loại chất lượng đảng viên; qua các cuộc kiểm tra việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng; qua hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm sát, giám sát của các cơ quan nhà nước, đoàn thể; qua đơn thư tố cáo, ý kiến phản ảnh của đảng viên, quần chúng và các phương tiện truyền thông

Trên cơ sở đó, Ủy ban kiểm tra phân tích, lựa chọn để quyết định nội dung, đối tượng kiểm tra; chỉ đạo lập kế hoạch, xác định rõ yêu cầu, phương pháp, thời gian, lực lượng kiểm tra; ra quyết định hoặc thông báo kiểm tra bằng văn bản cho đảng viên được kiểm tra và cho cấp ủy quản lý đảng viên biết để phục vụ kiểm tra

Đảng viên được kiểm tra giải trình các nội dung kiểm tra bằng văn bản, gửi

Ủy ban kiểm tra qua tổ (hoặc đoàn) kiểm tra; sau đó trình bày trước chi bộ để chi

bộ góp ý kiến, xem xét, kết luận Các tổ chức đảng phải kết luận bằng văn bản về những nội dung kiểm tra đối với đảng viên được kiểm tra; nếu thấy có vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì biểu quyết đề nghị hình thức kỷ luật Trường hợp đảng viên vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì Ủy ban kiểm tra (cấp kiểm tra) xem xét, quyết định hoặc đề nghị cấp ủy xem xét, quyết định thi hành kỷ luật theo thẩm

Trang 10

quyền Nếu đảng viên vi phạm đến mức phải xử lý bằng pháp luật thì chuyển cơ quan pháp luật xem xét, xử lý, nhưng Ủy ban kiểm tra vẫn phải xem xét, kết luận

về kỷ luật đảng đối với những nội dung vi phạm đã rõ

2.2 Quy trình kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm

Theo Quyết định 354-QĐ/UBKTTW ngày 22/12/2021 của Ủy ban Kiểm tra

Trung ương, quy trình kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm gồm 03 bước:

Bước 1, chuẩn bị kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm

Đây là bước có vị trí hết sức quan trọng cho qúa trình kiểm tra và kết quả kiểm tra Để thực hiện bước chuẩn bị kiểm tra, phải thực hiện các nội dung theo trình tự:

(i) Cán bộ được phân công theo dõi địa bàn, lĩnh vực chủ động theo dõi, nắm tình hình, phát hiện các dấu hiệu vi phạm, thu thập chứng cứ để dự kiến nội dung, đối tượng kiểm tra

(ii) Ủy ban kiểm tra trao đổi với đại diện các tổ chức đảng có liên quan về nội dung, đối tượng được kiểm tra; đồng thời, báo cáo thường trực Ủy ban kiểm tra xem xét, cho ý kiến chỉ đạo về nội dung, đối tượng được kiểm tra

(iii) Xây dựng các văn bản để tiến hành kiểm tra (quyết định hoặc thông báo kiểm tra, kế hoạch kiểm tra, gợi ý nội dung giải trình, các văn bản cần thiết khác )

(iv) Phân công nhiệm vụ cụ thể cho các cán bộ tham gia kiểm tra, xây dựng lịch trình kiểm tra

Làm tốt các nội dung trên cũng chính làm tốt công tác tư tưởng với đối tượng kiểm tra Qua đó, giúp đối tượng kiểm tra và tổ chức đảng có liên quan khắc phục tâm lý tiêu cực của mình, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra đạt kết quả

Bước 2, tiến hành kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm

Việc thực hiện bước này gồm các nội dung theo trình tự sau:

Ngày đăng: 22/08/2022, 10:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Quyết định 354-QĐ/UBKTTW ngày 22/12/2021 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về “Ban hành các quy trình thực hiện kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban hành các quy trình thực hiện kiểm tra, giám sát và thi hành kỷluật Đảng
6. TS. Trần Cẩm Tú: “Công tác kiểm tra, giám sát góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ cấp ủy các cấp, hướng tới Đại hội XIII của Đảng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác kiểm tra, giám sát góp phần xây dựng độingũ cán bộ cấp ủy các cấp, hướng tới Đại hội XIII của Đảng
7. Trần Đức Thắng: “Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểmtra, giám sát, kỷ luật đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XIII của Đảng
8. Tài liệu học phần “Nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng” của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luậtĐảng
9. Bài giảng của giảng viên học phần “Nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng”, lớp Cao học không chuyên K27, ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước tỉnh Sóc Trăng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sátvà kỷ luật Đảng
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 5, tập 14 Khác
2. Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, tập 55 Khác
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội khóa XII, khóa XIII Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w