Khái quát chung về Quyền miễn trừ quốc gia trong TPQT: Quyền miễn trừ quốc gia state immunity/sovereign immunity là quyền đặc biệt của một quốc gia – chủ thể đặc biệt khi tham gia vào qu
Trang 1KHOA LUẬT- ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
BỘ MÔN LUẬT QUỐC TẾ
_
MÔN TƯ PHÁP QUỐC TẾ QUYỀN MIỄN TRỪ QUỐC GIA TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ VÀ LIÊN HỆ VỚI VỤ VIỆC BÀ TRẦN TỐ NGA KIỆN 14 CÔNG TY HOÁ CHẤT MỸ
Giảng viên: PGS.TS Ngô Quốc Chiến
Hà Nội, 2022
Trang 2MỤC LỤC
Chương I Một số vấn đề cơ bản về Quyền miễn trừ quốc gia trong TPQT: 2
1 Khái quát chung về Quyền miễn trừ quốc gia trong TPQT: 2
2 Nguồn gốc và sự phát triển của các học thuyết về quyền miễn trừ quốc gia trong
3 Quan điểm của một số quốc gia về quyền miễn trừ trong tư pháp quốc tế 10
Chương II VỤ VIỆC BÀ TRẦN TỐ NGA KIỆN 14 CÔNG TY HÓA CHẤT MỸ
12
4 Nhận xét quan điểm của Toà án và luật sư đại diện cho nguyên đơn 14
Trang 3Chương I Một số vấn đề cơ bản về Quyền miễn trừ quốc gia trong TPQT:
1 Khái quát chung về Quyền miễn trừ quốc gia trong TPQT:
Quyền miễn trừ quốc gia (state immunity/sovereign immunity) là quyền đặc biệt của một quốc gia – chủ thể đặc biệt khi tham gia vào quan hệ Tư pháp quốc tế, nhằm đảm bảo cho quốc gia không bị xét xử bởi bất kì cơ quan tài phán nào, dù là quốc tế hay quốc gia khác, nếu không có sự đồng ý của quốc gia đó
Nguyên tắc miễn trừ quốc gia vốn được đưa ra nhằm giải quyết vấn đề song trùng quyền tài phán xảy ra khi một nước ngoài xâm phạm lãnh thổ của một quốc gia thù địch
và nước ngoài đó đã tự đặt mình dưới quyền tài phán của quốc gia thù địch Đây là một trong những nguyên tắc lâu đời trong quan hệ quốc tế, được xem như hàng rào bảo vệ cho quốc gia tại cơ quan tài phán của quốc gia nước ngoài
Theo giáo trình Tư pháp quốc tế của Khoa Luật, ĐHQGHN, cùng nhiều tài liệu khác, nội dung của quyền miễn trư quốc gia bao gồm “Quốc gia được hưởng quyền miễn trừ: miễn trừ về tư pháp và miễn trừ về tài sản”[1] Cụ thể:
(1) Quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia: Tương ứng với các giai đoạn của quá trình tố tụng, quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia bao gồm:
- Miễn trừ xét xử tại bất cứ Tòa án nào: Nội dung của quyền này cho thấy khi tham gia vào các quan hệ dân sự, nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không có một tòa án nước ngoài nào có thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án mà quốc gia là bị đơn Điều đó cũng có nghĩa là khi tham gia vào quan hệ dân sự với một quốc gia, không một cá nhân hoặc pháp nhân nào được phép đệ đơn kiện quốc gia đó tại bất kỳ tòa án nào, trừ khi được quốc gia đó cho phép thông qua hình thức rõ ràng như hợp đồng, pháp luật quốc gia hoặc những hình thức khác Các tranh chấp phát sinh phải được giải quyết bằng hình thức thương lượng hoặc hình thức ngoại giao giữa các quốc gia
Trang 4- Miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo đơn kiện, nếu quốc gia đồng
ý cho tổ chức, cá nhân nước ngoài kiện mình, tức là đồng ý cho Tòa án nước ngoài xét
xử vụ kiện mà quốc gia là bị đơn: Nội dung của quyền này được hiểu là trong trường hợp nếu một quốc gia đồng ý để tòa án nước ngoài thụ lý, giải quyết một vụ tranh chấp
mà quốc gia đó là một bên tham gia thì tòa án nước ngoài đó được quyền xét xử nhưng tòa án không được áp dụng bất cứ một biện pháp cưỡng chế nào như bắt giữ, tịch thu tài sản của quốc gia để phục vụ cho việc xét xử, trừ khi được quốc gia cho phép Điều 18 Công ước của LHQ về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định: “Không có biện pháp cưỡng chế tiền tố tụng nào như tịch thu, chiếm giữ tài sản trái pháp luật của quốc gia được áp dụng trong một vụ kiện trước một tòa án nước ngoài…”
- Miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo thi hành quyết định của Tòa
án trong trường hợp quốc gia không đồng ý cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài kiện, đồng ý cho Tòa án xét xử: Nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không thể thi hành bản án một cách bắt buộc để chống lại quốc gia đó trong trường hợp quốc gia là đương
sự của vụ kiện, không thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế như bắt giữ, tịch thu tài sản của quốc gia nhằm cưỡng chế thi hành bản án đó Điều 19 Công ước của LHQ về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định: “Không có biện pháp cưỡng chế nào sau khi có phán quyết của tòa án như tịch thu, bắt giữ tài sản trái pháp luật của quốc gia được áp dụng trong một vụ kiện trước một tòa án nước ngoài…” (2) Quyền miễn trừ đối với tài sản: Đây là một trong những nội dung quan trọng của quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia vào quan hệ dân sự quốc tế Theo đó, tài sản của quốc gia do quốc gia tự định đoạt, không một chủ thể nào khác được chiếm đoạt hoặc xâm phạm tài sản của quốc gia dưới bất cứ một hình thức nào Tài sản của quốc gia không thể bị bắt giữ, tịch thu khi không có sự đồng ý của quốc gia Quyền miễn trừ tài sản có sự gắn bó chặt chẽ được thể hiện thông qua quyền miễn trừ tư pháp của quốc
Trang 5gia Theo PGS TS Đoàn Năng: “Trên thực tế, hai trong số ba nội dung của quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của quốc gia trực tiếp đụng đến tài sản của quốc gia, bởi vì, thông thường để đảm bảo sơ bô đối với đơn kiện cũng như bảo đảm thi hành các bản án, các tòa án thực hiện sai áp đối với nhưng tài sản nhất định của bên bị đơn trong tranh chấp dân sự”[2] Tại Điều 21 Công ước của LHQ về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia (UNJISP) 2004, đã quy định cụ thể những loại tài sản mà quốc gia luôn được hưởng quyền miễn trừ
Các nội dung nêu trên của quyền miễn trừ quốc gia có gắn bó chặt chẽ với nhau Quốc gia có quyền từ bỏ từng nội dung hoặc tất cả các nội dung của quyền miễn trừ tư pháp của mình, bởi đây là quyền của mỗi quốc gia chứ không phải là nghĩa vụ bắt buộc
2 Nguồn gốc và sự phát triển của các học thuyết về quyền miễn trừ quốc gia trong TPQT:
Quyền miễn trừ quốc gia đã được thừa nhận rộng rãi trong pháp luật quốc tế và pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới như một tập quán quốc tế lâu đời Đây là chế định pháp lý quan trọng trong tư pháp quốc tế, có lịch sử phát triển lâu đời tại nhiều nước trên thế giới
Cùng với sự hình thành và phát triển của các thực thể có lãnh thổ, các khái niệm liên quan đến quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia nói riêng và quyền miễn trừ quốc gia nói chung được hình thành và phát triển Theo một số nghiên cứu[3] [4], khái niệm quyền miễn trừ quốc gia bắt đầu được hình thành vào thời kỳ phong kiến, gắn liền với học thuyết rex gratia dei – tạm dịch là “Hoàng đế được bảo vệ bởi chúa trời” (King by grace
of God) ở phương Tây Đến khoảng thế kỷ thứ XIII, học thuyết trên đã được thể hiện một cách rõ ràng tại Anh và được gọi là học thuyết “Đức vua không thể làm sai” (The King can do no wrong), cho thấy quyền lực tuyệt đối, tối cao của nhà vua Nhà vua là người đứng đầu quốc gia, người ban hành ra pháp luật của quốc gia, nên không có quyền năng pháp lý nào có thể chống lại người đã ban hành ra pháp luật của quốc gia
Trang 6đó Tự chung lại, ở thời kỳ đầu, quyền miễn trừ quốc gia đề cập đến chủ yếu là quyền miễn trừ dành cho các nguyên thủ quốc gia và các nhân viên ngoại giao
Đến thế kỷ XIX, thông qua thực tiễn xét xử của tòa án các quốc gia, khái niệm quyền miễn trừ quốc gia cũng như quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia đã được hình thành Cùng với sự tham gia ngày càng nhiều của quốc gia vào các hoạt động thương mại, đã dẫn đến sự thay đổi các quan điểm về nội dung của quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia Những quan điểm này được thể hiện trong các phán quyết của tòa và được tập hợp thành hệ thống các học thuyết về quyền miễn trừ của quốc gia, làm cơ sở lý luận cho việc ban hành các văn bản pháp luật quốc gia cũng như xây dựng các điều ước quốc tế
về quyền miễn trừ quốc gia
Sự hình thành và phát triển của quyền miễn trừ quốc gia gắn liền với sự ra đời và phát triển của hai học thuyết – quan điểm: học thuyết miễn trừ tuyệt đối và học thuyết miễn trừ tương đối (miễn trừ chức năng):
a Học thuyết miễn trừ tuyệt đối (Doctrine of Absolute Immunity):
Học thuyết miễn trừ tuyệt đối được ra đời vào khoảng giữa thế kỷ XVIII và XIX, cùng với sự hình thành của một số khái niệm như “quyền miễn trừ quốc gia” hay “quyền miễn trừ nhà nước”,…
Một trong những án lệ đầu tiên của học thuyết về quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của quốc gia là vụ kiện The Schooner Exchange vs McFaddon do Tòa án Hoa Kỳ giải quyết vào năm 1812
(Nội dung vụ kiện có thể tóm tắt như sau: Hai công dân của Hoa Kỳ có tên là John McFaddon và Greetham, là chủ sở hữu của con tàu có tên gọi Schooner Exchange Vào ngày 30 tháng 12 năm 1810, con tàu bị tịch thu theo lệnh của Napoleon – Hoàng đế của nước Pháp – khi con tàu đang đi trên vùng nước của nước Pháp Sau đó, con tàu này được đổi tên là Balaou và được người Pháp sử dụng như một tàu chiến với những trang
Trang 7thiết bị của quân đội Năm 1812, con tàu bị nạn và buộc phải neo đậu vào cảng Philadelphia thuộc hạt Pennysilvia Hai công dân Hoa Kỳ đã gửi đơn khởi kiện tới tòa
án của hạt Pennysilvia, yêu cầu tòa án cho phép họ được quyền sở hữu lại con tàu đó vì con tàu đang ở vùng nước của Hoa Kỳ Theo ý kiến của một cố vấn của Tòa án hạt Pennysilvia, do quan hệ hữu hảo giữa Pháp và Hoa Kỳ, một con tàu của Hoàng đế đang đậu tại cảng của Philadelphia sẽ không thể bị tịch thu Tòa án hạt đã ngay lập tức bác đơn khởi kiện của hai công dân Hoa Kỳ Tuy nhiên, tòa án vùng của Hoa Kỳ lại ra quyết định trái với quyết định của tòa án hạt Pennysilvia và kháng cáo lên Tòa án tối cao Thẩm phán tòa án tối cao Hoa Kỳ thời kỳ đó – Marshall - đã cho rằng tòa án cần phải từ chối thụ lý vụ việc này do con tàu này là tài sản của quốc gia nên được hưởng quyền miễn trừ quốc gia Ông cho rằng thẩm quyền của một quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó là hoàn toàn và tuyệt đối, nhưng phải tôn trọng chủ quyền của quốc gia nước ngoài Vì vậy, trong phán quyết của mình, thẩm phán Marshall đã nêu:
13 “Nếu các tình tiết của vụ kiện được đưa ra là chính xác, tàu Exchange là tàu quân sự thuộc sở hữu nhà nước đang thực hiện chủ quyền của quốc gia nước ngoài đang có quan
hệ hữu hảo với chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và (…) đang ở trong lãnh thổ của Hoa Kỳ (…), sẽ được hưởng quyền miễn trừ tài phán”[5].) -
Vào thời điểm đó, vụ án này đã gây xôn xao dư luận Với phán quyết của tòa án Hoa
Kỳ, thì đây cũng chính là vụ án đánh dấu sự hình thành của pháp luật về quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia vào các quan hệ quốc tế
Nội dung của học thuyết miễn trừ tuyệt đối xuất phát từ luận điểm chủ quyền quốc gia
là tuyệt đối và bất khả xâm phạm, bất kỳ chủ thể nào cũng không có quyền vượt lên trên chủ quyền quốc gia Vì vậy, nó cho phép nhà nước cùng các thực thể của nhà nước được viện dẫn quyền miễn trừ một cách hoàn toàn, tuyệt đối, không có điều kiện, không
có ngoại lệ đối với thẩm quyền tài phán của quốc gia khác Quốc gia phải được hưởng quyền này trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự mà quốc gia tham gia và trong bất
Trang 8kỳ trường hợp nào Khi thừa nhận quyền miễn trừ quốc gia khi tham gia vào các quan
hệ dân sự quốc tế là tuyệt đối thì điều này có nghĩa là quốc gia sẽ được hưởng quyền miễn trừ trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự quốc tế và trong tất cả các trường hợp
mà quốc gia tham gia với tư cách là một bên chủ thể trong quan hệ dân sự quốc tế Quốc gia có quyền từ bỏ toàn bộ hay từng nội dung quyền miễn trừ tư pháp trong từng trường hợp cụ thể hoặc trong tất cả các trường hợp
Có thể nói, học thuyết miễn trừ tuyệt đối là một cơ sở lý luận vững chắc và cũng là nền tảng đầu tiên của pháp luật về quyền miễn trừ quốc gia nói chung và quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia nói riêng, góp phần đáng kể trong việc bảo vệ một cách tuyệt đối nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và quyền bình đẳng giữa các quốc gia khi tham gia vào các quan hệ quốc tế, góp phần tạo nên một trật tự ổn định trong quan hệ quốc tế Cho đến giữa thế kỷ XX, học thuyết về quyền miễn trừ của quốc gia được áp dụng phổ biến
ở hầu hết các quốc gia trên thế giới
Tuy nhiên, sau đó, việc hiểu và áp dụng học thuyết này ở các quốc gia là khác nhau, dẫn đến tình trạng bất bình đẳng trong việc hưởng quyền miễn trừ giữa các quốc gia và gây
ra vi phạm nguyên tắc cơ bản của quan hệ dân sự đó là sự bình đẳng trong quan hệ tài sản giữa các bên chủ thể mà ở đây là giữa quốc gia với các chủ thể là cá nhân, pháp nhân nước ngoài Vì vậy, đã khiến cho học thuyết miễn trừ tuyệt đối dần mất đi vị thế, không còn được áp dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới như trước nữa
b Học thuyết miễn trừ tương đối (Doctrine of Restrictive Immunity):
Như đã nói ở trên, sự hình thành và phát triển của thuyết miễn trừ tuyệt đối cũng đã gây
ra những sự bất bình đẳng trong quan hệ tài sản giữa các bên chủ thể trong quan hệ tư pháp quốc tế, nhất là trong bối cảnh các hoạt động hợp tác kinh tế trên thế giới không ngừng gia tăng với sự tham gia ngày càng tích cực của các quốc gia Vì thế để hạn chế
sự bất bình đẳng này, đảm bảo cho các cá nhân và pháp nhân khi tham gia vào giao dịch dân sự, thương mại với quốc gia có một hành lang pháp lý an toàn hơn, góp phần thúc
Trang 9đẩy mối quan hệ giao thương trên thế giới, đã dẫn đến sự ra đời của học thuyết miễn trừ tương đối (Doctrine of Restrictive/ Relative/ Limited Immunity) hay còn gọi là quyền miễn trừ theo chức năng
Theo nhiều nghiên cứu, học thuyết miễn trừ tương đối xuất hiện đầu tiên tại các nước châu Âu lục địa vào những năm đầu của thế kỷ XX; trong đó, Bỉ, Italy và Hy Lạp là những quốc gia đầu tiên ghi nhận học thuyết này Nhất là sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga và Chiến tranh thế giới thứ II, với sự ra đời của hàng loạt các nước xã hội chủ nghĩa, học thuyết về “quyền miễn trừ tương đối” xuất hiện và ngày càng phát triển Học thuyết này được các học giả ở các nước theo chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa khởi xướng và xây dựng nhằm loại trừ khả năng hưởng quyền miễn trừ của các công ty thuộc sở hữu nhà nước của các nước theo chế độ chính trị XHCN khi tham gia vào các quan hệ thương mại quốc tế Theo tác giả Đoàn Năng: “vì từ khi hình thành nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) đầu tiên trên thế giới cho đến khi Liên Xô và Đông Âu
xã hội chủ nghĩa bị sup đổ, các nước XHCN thực thi chính sách nhà nước độc quyền ngoại thương ( ) Các nhà lý luận phương Tây lúc đó lo ngại rằng, khi ký kết hợp đồng ngoại thương với ( ) Nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ không bảo vệ quyền và lợi ích của các tổ chức, cá nhân của các nước tư bản, nếu không có sự bình đẳng và ngang quyền ( ) theo đúng nguyên tắc điều chỉnh pháp lý các mối quan hệ dân sự thông thường”[6] Theo học thuyết này, quốc gia tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế sẽ được hưởng quyền miễn trừ về tài phán và quyền miễn trừ về tài sản trong tất cả các lĩnh vực quan
hệ dân sự Tuy nhiên, có những trường hợp quốc gia sẽ không được hưởng quyền này
mà phải tham gia với tư cách là một chủ thể dân sự như các chủ thể thông thường khác Như vậy, thuyết quyền miễn trừ tương đối chấp nhận cho các quốc gia được hưởng quyền miễn trừ trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự mà quốc gia tham gia, nhưng hạn chế những trường hợp mà quốc gia sẽ không được hưởng quyền miễn trừ
Trang 10Sau Bỉ, Italy và Hy Lạp là những quốc gia đầu tiên ghi nhận học thuyết này, đến năm
1952, trong thư Tate (Tate letter) của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã thể hiện một cách rõ ràng quan điểm của Hoa Kỳ cũng như một số nội dung cơ bản của học thuyết miễn trừ tương đối Sau đó, rất nhiều các quốc gia phương Tây khác như Liên hiệp Anh, Pháp, Ireland, cũng đã thừa nhận học thuyết này và cũng đã thể hiện nội dung của học thuyết miễn trừ tương đối thông qua thực tiễn xét xử cũng như thông qua các văn bản pháp luật của quốc gia Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều quốc gia ban hành các văn bản điều chỉnh trực tiếp về quyền miễn trừ quốc gia trong Tư pháp quốc tế như: Hoa Kỳ, Liên hiệp Anh, Singapore, Canada, Australia,… Còn lại, hầu hết các quốc gia trên thế giới tuy chưa ban hành các văn bản về quyền miễn trừ quốc gia nhưng những nội dung
về quyền miễn trừ quốc gia trên cơ sở học thuyết miễn trừ tương đối trong thực tiễn xét
xử của tòa án các quốc gia như Áo, Pháp, Thụy Điển, Ý, Hy Lạp, Bỉ, Ngày nay, nhiều nước có xu hướng muốn áp dụng thuyết tương đối về quyền miễn trừ quốc gia
3 Quan điểm của một số quốc gia về quyền miễn trừ trong tư pháp quốc tế
• Quan điểm của Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới thừa nhận và giải thích quan điểm về quyền miễn trừ trong lĩnh vực tư pháp tuyệt đối của quốc gia
Án lệ:
Phán quyết nổi tiếng của Thẩm phán Marshall, Tối cao pháp viện Hoa Kỳ, vụ The Schooner Exchange v McFaddon quá trình phát triển của khoa học
pháp lý cũng như thực tiễn các vụ tranh chấp mà một bên là quốc gia nước ngoài tại Hoa Kỳ cũng như những tác động của tình hình kinh tế- chính trị thế giới đã dẫn đến sự thay đổi của Hoa Kỳ trong quan điểm về quyền miễn trừ trong lĩnh vực tư pháp của quốc gia