Giáo dục có thể đón trước sự phát triển, “hoạch định nhân cách tương lai” để tác động hình thành và phát triển phù hợp với sự phát triển của xã hội...7 III... Giáo dục là một hoạt động c
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
**************
BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN: TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
ĐỀ BÀI:
“Vai trò của giáo dục trong sự hình thành và phát triển nhân cách.
Liên hệ thực tiễn”
HỌ VÀ TÊN: LÊ THỊ THÚY NGA LỚP : NO5 – TL2
MSSV : 422744
Hà Nội, 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I HIỂU BIẾT CHUNG VỀ NHÂN CÁCH VÀ NHÂN TỐ GIÁO DỤC TRONG SỰ ẢNH HƯỞNG TỚI NHÂN CÁCH 1
1 Nhân cách con người 1
1.1 Khái niệm nhân cách 1
1.2 Đặc điểm của nhân cách 2
2 Nhân tố giáo dục và sự ảnh hưởng tới nhân cách: 3
II VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH 3
1 Giáo dục định hướng và dẫn dắt quá trình hình thành, phát triển nhân cách của cá nhân 3
2 Giáo dục có thể đem lại cho con người những cái mà yếu tố bẩm sinh – di truyền hay môi trường tự nhiên không thể đem lại được 4
3 Giáo dục có thể phát huy tối đa các mặt mạnh của các yếu tố khác chi phối sự hình thành nhân cách (yếu tố sinh thể, hoàn cảnh sống…) 6
4 Giáo dục có thể bù đắp những thiếu hụt do bệnh tật của con người 6
5 Giáo dục có thể đón trước sự phát triển, “hoạch định nhân cách tương lai” để tác động hình thành và phát triển phù hợp với sự phát triển của xã hội 7
III LIÊN HỆ THỰC TIỄN 8
KẾT LUẬN 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 3MỞ ĐẦU
Nhân cách là một trong những vấn đề quan trọng trong Tâm lý học được các nhà tâm lý cũng như các tác giả ở các lĩnh vực khoa học khác quan tâm nghiên cứu Để hoàn thiện nhân cách không thể không kể đến các yếu tố quan trọng thúc đẩy nó Trong đó, giáo dục là một yếu tố quan trọng, cần thiết Vì vậy em xin
chọn nghiên cứu đề tài: “ Vai trò của giáo dục trong sự hình thành và phát triển nhân cách Liên hệ thực tiễn”.
NỘI DUNG
I HIỂU BIẾT CHUNG VỀ NHÂN CÁCH VÀ NHÂN TỐ GIÁO DỤC TRONG SỰ ẢNH HƯỞNG TỚI NHÂN CÁCH
1 Nhân cách con người
1.1 Khái niệm nhân cách
Muốn hiểu rõ khái niệm nhân cách, trước hết cần phải hiểu một số khái niệm
có liên quan sau:
- Con người: là một thực thể sinh học – xã hội, là thành viên của một cộng đồng Mặt sinh vật trong con người không thể tách rời khỏi mặt xã hội và ngược lại, song bản thân cái tính đặc thù ở trong con người không phải so bẩm sinh mà
là ở trong quá trình sống, quá trình hoạt động, lao động, học tập đã được cải tạo bởi nhiều thế hệ
- Cá nhân: Cá nhân cũng là một thực thể sinh vật – xã hội, cá nhân là con
người, nhưng là một con người cụ thể của cộng đồng, một thành viên của xã hội, với đặc điểm sinh lý, tâm lý, xã hội riêng để phân biệt giữa các cá nhân với nhau
- Chủ thể: là khi cá nhân thực hiện một hoạt động nhất định một cách có ý thức, nhận thức và cải tạo thế giới xung quanh trong quá trình hoạt động đó
- Cá tính: Mỗi cá thể người có những đặc điểm thể chất và tâm lý độc đáo,
có một không hai Sự độc đáo đó được gọi là cá tính của từng người cụ thể
Trang 4Trong cuốn Khoa học chẩn đoán tâm lý, PGS TS Trần Trọng Thuỷ đã cho biết ngay từ năm 1949, G.Allpon đã dẫn ra 50 định nghĩa khác nhau về nhân cách Ngày nay, đã có tới hàng trăm định nghĩa Nhân cách đã được hình thành
và phát triển như những quan hệ xã hội mà trong đó cá nhân lớn lên và đang được biến đổi, bắt đầu quá trình hoạt động sống của mình, trở thành những đặc điểm mang tính người đích thực, tính xã hội – đạo đức
Từ đó ta có thể định nghĩa: “Nhân cách là tổ hợp những thuộc tính tâm lí
của một cá nhân biểu hiện ở bản sắc và giá trị xã hội của người ấy” (Nguyễn
Quang Uẩn, “Tâm lí học đại cương”, nxb Đại học Quốc gia)
Theo định nghĩa trên ta thấy, chỉ có thể dùng nhân cách cho con người và chỉ
từ một giao đoạn phát triển nhất định nào đó Con người được sinh ra chưa phải
đã là một nhân cách, mà trong quá trình sinh sống và hoạt, giao lưu của mình trong xã hội, con người mới trở thành một nhân cách
1.2 Đặc điểm của nhân cách
Tính thống nhất: Nhân cách là một chỉnh thể thống nhất giữa phẩm chất và
năng lực, giữa đức và tài của con người Trong nhân cách có sự thống nhất hài hoà giữa cấp độ: cấp độ bên trong cá nhân, cấp độ liên cá nhân và cấp độ siêu cá nhân Vì vậy, trong công tác giáo dục ta cần chú ý giáo dục con người như là một nhân cách hoàn chỉnh
Tính ổn định: Nhân cách con người là quá trình hình thành từ từ, nhân
cách là tổ hợp các thuộc tính ổn định, tiềm tàng của cá nhân, nó khó hình thành
mà cũng khó mất đi Nhân cách mang tính ổn định nhưng nó không phải là cái gì bất biến, mà nó vẫn có thể thay đổi được theo hướng phát huy mặt tốt, tích cực
để hạn chế mặt tiêu cực trong nhân cách
Tính tích cực: Nhân cách con người là chủ thể của hoạt động và giao lưu
các mối quan hệ giữa người này với người khác, là chủ thể của hoạt động và giao tiếp, là sản phẩm của xã hội Vì thế nhân cách mang tính tích cực Giá trị đích
Trang 5thực của nhân cách, chức năng xã hội và cốt cách làm người của cá nhân thể hiện
rõ nét ở tính tích cực của nhân cách
Tính giao tiếp: Nhân cách chỉ có thể hình thành, phát triển, tồn tại và thể
hiện trong hoạt động và trong mối quan hệ giao tiếp với những cá nhân khác Thông qua quan hệ giao tiếp với người khác, con người gia nhập các quan hệ xã hội, lĩnh hội các chuẩn mực đạo đức và hệ thống giá trị xã hội; được đánh giá, được nhìn nhận theo quan hệ xã hội Điều quan trọng là thông qua giao tiếp, con người còn đóng góp các giá trị nhân cách của mình cho người khác, và cho xã hội
2 Nhân tố giáo dục và sự ảnh hưởng tới nhân cách
Theo quan điểm của tâm lí học và giáo dục học hiện đại thì giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển của nhân cách Giáo dục là một hoạt động chuyên môn của xã hội nhằm hình thành và phát triển nhân cách của con người theo những yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định
Theo nghĩa hẹp: giáo dục thường được hiểu là quá trình tác động có ý thức,
có mục đích và có kế hoạch về mặt tư tưởng, đạo đức và hành vi trong tập thể trẻ
em và học sinh, trong gia đình và cơ quan giáo dục ngoài nhà trường
Theo nghĩa rộng: giáo dục còn mang ý nghĩa rộng hơn giáo dục bao gồm cả việc dạy học cùng với hệ thống tác động sư phạm khác, trực tiếp hay gián tiếp, trong lớp và ngoài lớp, trong trường và ngoài trường, trong gia đình và ngoài xã hội
II VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH.
1 Giáo dục định hướng và dẫn dắt quá trình hình thành, phát triển nhân cách của cá nhân
Một đứa trẻ khi sinh ra chưa nhận thức được những mặt tốt đẹp hay xấu xa của thế giới, chúng chưa hình thành khái niệm về điều thiện điều ác,…và giáo dục, chính là cách nhanh nhất, chính xác nhất để dẫn dắt sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em theo chiều hướng đó Ngay từ nhỏ, chúng ta đã được
Trang 6cha mẹ, thầy cô giáo dạy rằng phải biết lễ phép với ông bà, cha mẹ, phải biết kính trên nhường dưới, phải ngoan ngoãn, lễ phép, chào hỏi, phải biết yêu thương đoàn kết, giúp đỡ bạn bè và những người xung quanh, Đó chính là những tác động của giáo dục trong việc hình thành, phát triển nhân cách của con người từ rất sớm Giáo dục bước đầu định hình và xây dựng những giá trị, chỉ là những hành động, những lối ứng xử từ đó dần tạo nên nhân cách của con người Ngay từ mẫu giáo, trẻ em Nhật Bản đã được dạy các quy tắc ứng xử căn bản Người Nhật đặc biệt chú trọng các câu chào hỏi, xin lỗi, và cám ơn Ngay từ cấp mẫu giáo, trẻ đã được học những bài học quan trọng đầu tiên về cách ứng xử lịch thiệp (lời cám ơn và xin lỗi), tinh thần trách nhiệm với công việc (mặc đồng phục), chia sẽ trách nhiệm trong tập thể, và sự tự lập (tự phục vụ bản thân) Trẻ
em Nhật được dạy cách làm việc nhóm từ khi còn nhỏ, những trẻ giỏi sẽ hỗ trợ cho những trẻ kém hơn Quá trình giáo dục nhân cách cho học sinh được Nhật Bản cực kỳ quan tâm, chú trọng ở tất cả mọi cấp bậc từ tiểu học đến bậc đại học
2 Giáo dục có thể đem lại cho con người những cái mà yếu tố bẩm sinh – di truyền hay môi trường tự nhiên không thể đem lại được.
Ngoài việc giữ vai trò chủ đạo, giáo dục còn tác động đến các nhân tố còn lại tạo điều kiện cho quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người
Đối với nhân tố di truyền:
- Giáo dục tạo điều kiện thuận lợi để những mầm mống của con người có trong chương trình gen được phát triển Chẳng hạn, trẻ được di truyền cấu tạo cột sống, bàn tay và thanh quản … nhưng nếu không được giáo dục thì trẻ khó có thể đi thẳng đứng bằng hai chân, biết sử dụng công cụ hay phát triển ngôn ngữ… Giáo dục rèn luyện, thúc đẩy sự hoàn thiện của các giác quan và vận động cơ thể
- Giáo dục phát hiện những tư chất của cá nhân, bồi dưỡng và tạo điều kiện
để phát huy năng khiếu thành năng lực cụ thể; căn cứ vào đặc điểm sinh học của từng giai đoạn lứa tuổi, tác động giúp con người phát triển tối đa năng lực cá nhân
Trang 7Ví dụ: Khi phát hiện học sinh có năng khiếu, thế mạnh ở từng môn khối, từng lĩnh vực như Toán, Lý, Hóa, Âm nhạc,… thì nhà trường sẽ tổ chức các lớp chuyên khối lớp chọn, bồi dưỡng học sinh giỏi để giúp các học sinh phát triển các thế mạnh của mình và được học ở môi trường tốt nhất để trở thành tài năng
Đối với nhân tố môi trường:
- Giáo dục tác động đến môi trường tự nhiên qua việc trang bị kiến thức và
ý thức bảo vệ môi trường của con người, khắc phục được sự mất cân bằng sinh thái, làm cho môi trường tự nhiên trở nên trong lành, đẹp đẽ hơn
- Giáo dục tác động đến môi trường xã hội lớn thông qua các chức năng kinh tế - xã hội, chính trị - xã hội và chức năng tư tưởng – văn hóa của giáo dục
- Giáo dục còn làm thay đổi tính chất của môi trường xã hội nhỏ như gia đình, nhà trường và các nhóm bạn bè, khu phố…, để các môi trường nhỏ tạo nên những tác động lành mạnh, tích cực đến sự phát triển nhân cách con người Hiện nay công tác giáo dục xã hội đang chú tâm xây dựng gia đình là một mái ấm dân chủ, bình đẳng, ấm no, hạnh phúc; nhà trường là một môi trường thân thiện đối với học sinh, cộng đồng dân cư là khu vực văn hóa của một xã hội văn minh tiến
bộ
Đối với hoạt động cá nhân:
Giáo dục có thể hình thành nên những yếu tố tâm lý mới trong nhân cách con người, mà các yếu tố khác như bẩm sinh di truyền, môi trường khó có khả năng thực hiện được Ngày nay giáo dục tham gia vào nhiều lĩnh vực trong đời sống
xã hội như: Giáo dục dân số, giáo dục giới tính, giáo dục môi trường, giáo dục phòng chống các tệ nạn xã hội, giáo dục kỹ năng sống
Giáo dục tạo tiền đề cho tự giáo dục của cá nhân Tự giáo dục thể hiện tính chủ thể của cá nhân khi con người đáp ứng hoặc tự vận động nhằm chuyển hóa các yêu cầu của giáo dục thành phẩm chất và năng lực của bản thân Nếu cá nhân thiếu khả năng tự giáo dục thì các phẩm chất và năng lực của họ sẽ hình thành ở mức độ thấp hoặc thậm chí không thể hình thành Giáo dục đúng đắn và đầy đủ
sẽ giúp con người hình thành khả năng tự giáo dục, đề kháng trước những tác
Trang 8động tiêu cực của xã hội để phát triển nhân cách mạnh mẽ “Chỉ có những người
biết tự giáo dục mới là những người thực sự có giáo dục.”
Theo thống kê, từ năm 2009 đến 2016, Nhà nước ta đã thực hiện 7 đợt đặc
xá tha tù trước thời hạn, đại đa số người được đặc xá trở về nơi cư trú đã ổn định cuộc sống và làm ăn lương thiện chiếm tỷ lệ 57% với gần 50.000 người, tỷ lệ người được đặc xá tái phạm thấp 1.007 chiếm 1,16%, một số người có những đóng góp rất thiết thực cho xã hội Như vậy, nhờ vào quá trình giáo dục cải tạo của cơ quan, cũng như ý thức cải tạo tốt của phạm nhân, từ đó giúp họ nhận ra sai trái, lổi lầm, có thể thay đổi và hoàn thiện nhân cách hơn
3 Giáo dục có thể uốn nắn, điều chỉnh những phẩm chất tâm lý xấu
Giáo dục có thể uốn nắn những phẩm chất tâm lý xấu, do tự phát của môi trường, xã hội gây nên và làm cho nó phát triển theo chiều hướng mong muốn của xã hội Tác động này của giáo dục được áp dụng rất nhiều trong việc điều trị tâm lý, hòa nhập trẻ tự kỷ, công tác giáo dục trẻ em hư hoặc cải tạo lao động đối với người phạm pháp Giáo dục có thể tham gia cải tạo hoàn cảnh, buộc hoàn cảnh phải phục vụ ý muốn của con người, biến hoàn cảnh xấu thành hoàn cảnh tốt
Ví dụ: đối với những trẻ suy thoái nhân cách (nhiễm thói hư tật xấu, vi phạm pháp luật) có thể uốn nắn, điều chỉnh sự phát triển nhân cách lệch lạc so với các chuẩn mực xã hội của các em bằng các biện pháp giáo dục đặc biệt
4 Giáo dục có thể bù đắp những thiếu hụt do bệnh tật của con người
Giáo dục có thể bù đắp những thiếu hụt, hạn chế do các yếu tố bẩm sinh – di truyền không bình thường, hoàn cảnh bị tai nạn hay chiến tranh gây nên Vì vậy, giáo dục góp phần bù đắp, hoàn thiện những khiếm khuyết ấy, giúp họ tồn tại, lao động, có thể phát triển tài năng và trí tuệ một cách bình thường Ví dụ, đối với những trẻ bị khuyết tật, có thể sử dụng phương pháp giáo dục chuyên biệt như sử dụng chữ nổi đối với trẻ khiếm thị, ngôn ngữ hình thể với trẻ bị câm điếc bẩm sinh, mở các lớp học khuyết tật, lớp học hòa nhập, trung tâm phục hồi chức năng Ngoài ra giáo dục còn góp phần tăng cường nhận thức trong xã hgội về
Trang 9trách nhiệm của cộng đồng đối với người khuyết tật và tổ chức cho toàn xã hội chia sẻ, hỗ trợ người khuyết tật vượt qua khó khăn và sự bất hạnh của mình Hiện nay, Việt Nam là quốc gia có số lượng người khuyết tật lớn với khoảng 6,2 triệu người, trong đó nữ giới chiếm 4,4%, nam giới là 3,7% và khoảng 3,7%
là người từ 5 tuổi trở lên ( số liệu năm 2019) Theo khảo sát năm 2019, có trên 60% người khuyết tật trong độ tuổi lao động có việc làm, trong đó chủ yếu làm việc trong khu vực nông nghiệp Thực tế , những tấm gương về vượt khó học tập chưa bao giờ là thiếu trên cả nước Và câu chuyện về người thầy Nguyễn Ngọc Ký chính là một điểm sáng hy vọng trong những điều tối tăm ấy Mọi thứ chỉ thật sự tràn đầy hi vọng cho đến khi lên 4 một cơn bạo bệnh bất ngờ, đã cướp
đi cả hai bàn tay của ông, kết quả là ông bị liệt cả hai tay mãi mãi không cầm được bút nữa, và tất yếu việt học hành sẽ chấm dứt từ đây Sau ngày hôm đó Nguyễn Ngọc Ký hết sức đau buồn Thế nhưng quyết không đầu hàng số phận Nguyễn Ngọc Ký đã luyện viết bằng bàn chân của chính mình Lúc đầu thầy tâm
sự, viết bằng chân là một chuyện rất khó khăn, vất vả nhiều khi tức tưởi vì không cầm vững được cây viết đã muốn buông xuôi tất cả Dần dần bình tâm lại đã viết được chữ O, chữ A và sau đó còn vẽ được thước, xoay được compa, làm được lồng chim và những thứ đồ chơi để chơi Sau đó quay trở lại học hành và học rất giỏi, từng được Bác Hồ 2 lần tặng huy hiệu cao quý, cùng đạt được nhiều giải thưởng toán học
5 Giáo dục có thể đi trước hiện thực, “hoạch định nhân cách tương lai”
để tác động hình thành và phát triển phù hợp với sự phát triển của xã hội.
Những tác động tự phát của xã hội chỉ ảnh hưởng đến cá nhân ở mức độ hiện
có của nó, như môi trường lớp học, đoàn kết với tập thể, môi trường làm việc giúp con người chuyên nghiệp, trách nhiệm hơn Nhưng để đi trước hiện tại, hướng tới những giá trị, phẩm chất mà con người, xã hội cần có trong tương lai thì chỉ có giáo dục mới có thể định hướng, đi trước hiện thực, xây dựng con người với những phẩm chất cần có cho tương lai, cần có cho xã hội mới
Trang 10Chẳng hạn, mục tiêu giáo dục của chúng ta là xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Bằng những phương pháp giáo dục, định hướng ngay từ khi còn trên ghế nhà trường, qua các môn học như Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Qua các phương tiện thông tin đại
chúng, các biện pháp tuyên truyền giáo dục như phong trào “Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, giáo dục hướng con người tới việc
hoàn thiện bản thân, trau dồi những kỹ năng cần có trong tương lai để trở thành con người có ích, trở thành công dân toàn cầu Đây chính là tính chất tiên tiến của giáo dục
Ngoài ra, lý luận và thực tiễn cũng đã chứng minh một vai trò khác của giáo dục là ở sự phát triển tâm lý của trẻ em chỉ có thể diễn ra một cách tốt đẹp trong những điều kiện dạy học và giáo dục Sự phát triển tâm lý của trẻ em ở mỗi giai đoạn lứa tuổi khác nhau có một nét đặc trưng khác nhau, đòi hỏi quá trình giáo dục phải dựa trên các đặc điểm tâm lý lứa tuổi
Ví dụ: Khi trẻ còn là sơ sinh thì vai trò giáo dục chính thuộc về gia đình Khi trẻ ở lứa tuổi mầm non thì vai trò giáo dục là nhà trừờng và cả gia đình Khi trẻ ở lứa tuổi tiểu học, trung học, thì vai trò giáo dục là nhà trường, ở mỗi giai đoạn như vậy cách giáo dục sẽ có sự khác nhau phù hợp với từng lứa tuổi
Như vậy, giáo dục có vai trò cực kì to lớn, nhưng giáo dục không vạn năng và học sinh không chịu sự tác động của giáo dục một cách thụ động Giáo dục không thể “đem cho” và học sinh không chỉ “đón nhận” Nhân cách học sinh không phải chỉ là sản phẩm trực tiếp của giáo dục Vì vậy, giáo dục chỉ có thể phát huy tối đa vai trò chủ đạo trong điều kiện tổ chức, hướng dẫn học sin tham gia hoạt động và giao tiếp với tư cách chủ thể Hoạt động tích cực của chủ thể là yếu tố quyết định trực tiếp của sự hình thành nhân cách
III LIÊN HỆ THỰC TIỄN
Rèn luyện nhân cách là việc làm cần thiết đối với mọi người, đặc biệt là với sinh viên Luật Là người có tương lai làm trong ngành pháp lý, với trọng trách bảo vệ và thực thi công lý thì đòi hỏi bên cạnh trình độ chuyên môn giỏi, sự hiểu