1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập nhóm Đại học Luật Hà Nội

19 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT ĐẤT ĐAI ĐỀ BÀI Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, duy trì và bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu là cần thiết và phù hợp Tuy nhiên, pháp luật cần phải tiếp tục có những chế định mới được ban hành nhằm nâng cao hiệu quả thực thi trên thực tế chế độ sở hữu này trong thời gian tới Bằng kiến thức đã học và tích luỹ, Anh (Chị) hãy làm sáng tỏ nhận địn.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP NHÓM

MÔN: LUẬT ĐẤT ĐAI

ĐỀ BÀI : Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, duy trì và bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai

mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu là cần thiết và phù hợp Tuy nhiên, pháp luật cần phải tiếp tục có những chế định mới được ban hành nhằm nâng cao hiệu quả thực thi trên thực tế chế độ sở hữu này trong thời gian tới Bằng kiến thức đã học và tích luỹ, Anh (Chị) hãy làm sáng tỏ nhận định nêu

trên

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 3

B NỘI DUNG 3

I Khái quát chung về chế độ sở hữu đất đai ở nước ta 3

1 Khái niệm sở hữu toàn dân về đất đai 3

2 Đặc trưng và đặc điểm của sở hữu toàn dân về đất đai 3

2.1 Đặc trưng của sở hữu toàn dân về đất đai 3

2.2 Đặc điểm của sở hữu toàn dân về đất đai 4

II Chế độ sở hữu toàn dân mà NN là đại diện chủ sở hữu trong nền KTTT là rất cần thiết và phù hợp 5

1 Bối cảnh nền KTTT định hướng XHCN của Việt Nam hiện nay 5 2 Thực trạng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong nền KTTT định hướng XHCN của Việt Nam hiện nay 5

3 Việc duy trì và bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam ta hiện nay là rất cần thiết và phù hợp 6

III Phương hướng hoàn thiện chế định sở hữu toàn dân về đất đai 14 C KẾT LUẬN 17

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

XHCN: xã hội chủ nghĩa

KTTT: kinh tế thị trường

CNXH: chủ nghĩa xã hội

A MỞ ĐẦU

Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đóng vai trò trung tâm, giữ vị trí hạt nhân chi phối toàn bộ quá trình quản lí và

sử dụng đất đai ở nước ta Đây là chế độ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam, đi theo đúng tinh thần lí luận chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường ngày nay Do

đó, bài làm của nhóm em xin được làm sáng tỏ nhận định: “Trong điều kiện

nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, việc duy trì và bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu là cần thiết và phù hợp Tuy nhiên pháp luật cần phải tiếp tục có những chế định mới được ban hành nhằm nâng cao hiệu quả thực thi trên thực tế chế độ sở hữu trong thời gian tới”

B NỘI DUNG

I Khái quát chung về chế độ sở hữu đất đai ở nước ta

1. Khái niệm sở hữu toàn dân về đất đai

Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là một khái niệm pháp lý gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ sở hữu đất đai trong đó xác nhận, quy định và bảo vệ quyền đại diện chế độ sở hữu của Nhà nước trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đất đai

Trang 4

2 Đặc trưng và đặc điểm của sở hữu toàn dân về đất đai

2.1 Đặc trưng của sở hữu toàn dân về đất đai

Đặc trưng của hình thức sở hữu này là: (i) Sở hữu của toàn nhân dân Việt Nam, tuy nhiên nó chỉ mang danh nghĩa, mang tính chính trị pháp lý; (ii) Quyền sở hữu được trao cho người đại diện, chính là Nhà nước, chủ sở hữu đích thực là toàn nhân dân, nhưng không phải là là chủ thể dưới góc độ chính trị - pháp lý; (iii) Có một sự đồng nhất giữa chế độ sở hữu và hình thức sở hữu; (iv) Là sự thống nhất giữa quyền năng tối cao của Nhà nước với các quyền năng của người sử dụng đất

2.2 Đặc điểm của sở hữu toàn dân về đất đai

2.2.1 Chủ thể: Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là đại diện của sở hữu

toàn dân thực hiện quyền định hoạt đất đai Quyền sở hữu đại diện của Nhà nước mang tính chất duy nhất và tuyệt đối

+ Tính duy nhất thể hiện ở Việt Nam ngoài Nhà nước ra không có bất kì tổ chức, cá nhân nào khác là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai

+ Tính tuyệt đối thể hiện: toàn bộ đất đai trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam dù

đã được giao hay chưa giao cho bất kì tổ chức, cá nhân nào sử dụng đều thuộc

sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý

2.2.2 Khách thể: Toàn bộ vốn đất đai nằm trong phạm vi lãnh thổ quốc gia,

bao gồm đất liền, hải đảo và lãnh hải đều là khách thể của chế độ sở hữu toàn dân ở nước ta

2.2.3 Nội dung:

+ Quyền chiếm hữu đất đai: là quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện

chủ sở hữu toàn dân về đất đai nắm giữ toàn bộ vốn đất đai trong phạm vi cả nước Nhà nước không thực hiện chiếm hữu trực tiếp mà giao quyền chiếm hữu này cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, nhưng quyền chiếm hữu khi được giao có mặt hạn chế về mặt thời gian, không gian và mục đích sử dụng đất

+ Quyền sử dụng đất đai: Là quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất đai

để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Nhà nước

Trang 5

thực hiện quyền sử dụng thông qua các hoạt động thu phí, điều tiết, ban hành các văn bản pháp luật buộc người được giao đất sử dụng phải thực hiện trong quá trình sử dụng đất

+ Quyền định đoạt đất đai: là quyền quyết định số phận pháp lý của đất đai.

Đây là quyền rất quan trọng và chỉ có Nhà nước với tư cách là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai mới được thực hiện quyền định đoạt Nhà nước thực hiện định đoạt đất đai bằng các phương pháp: thông qua các hành

vi giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; mục đích sử dụng đất; hạn mức sử dụng đất và thời hạn sử dụng; quyết định giá đất để quản lý về mặt kinh tế; quy định về quyền và nghĩa vụ người sử dụng đất; quyết định các chính sách tài chính về đất đai; quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất

II Chế độ sở hữu toàn dân mà NN là đại diện chủ sở hữu trong nền KTTT là rất cần thiết và phù hợp

1 Bối cảnh nền KTTT định hướng XHCN của Việt Nam hiện nay

Hiện nay nước ta đang phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội với trọng tâm là nền KTTT định hướng XHCN, tại Đại hội lần thứ IX (năm 2001), Đảng ta chính thức đưa ra khái niệm KTTT định hướng XHCN, coi đó

là mô hình tổng quát, là đường lối chiến lược nhất quán của Việt Nam trong

thời kỳ quá độ lên CNXH: “phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận

động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN” Bản chất là nền KTTT có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền

XHCN, đây là nền kinh tế vận hành theo các quy luật của thị trường, đồng thời góp phần hướng tới từng bước xác lập một xã hội mà ở đó dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có sự điều tiết của Nhà nước do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng, giữa Nhà nước, thị trường và xã hội có quan hệ chặt chẽ, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai chúng ta càng thấy rõ vai trò của nhà nước trong việc điều tiết việc sử dụng đất, ban hành các văn bản luật về đất đai…Như vậy có thể thấy trong nền

Trang 6

KTTT định hướng XHCN Nhà nước là cơ quan mang quyền lực tối cao, có quyền điều chỉnh mọi lĩnh vực kể cả đất đai

2 Thực trạng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong nền KTTT định hướng XHCN của Việt Nam hiện nay.

Nền KTTT định hướng XHCN của nước ta tồn tại dưới nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế được quy định cụ thể trong Hiến pháp, tuy vậy trong lĩnh vực đất đai thì không chấp nhận bất cứ hình thức sở hữu nào khác ngoài chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà ở đó Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Chính vì thế Nhà nước có quyền định đoạt, trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng (giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất) Hình thức sở hữu đất này phần nào khắc phục được bất cập trên thực tế trước kia là viện lý do để đòi sở hữu tư nhân về đất đai (điển hình là vụ việc tại 42 nhà chung Hà Nội hay tại 178 Nguyễn Lương Bằng giáo sứ Thái Hà, Hà Nội)

Thế nhưng, soi vào quá trình vận động liên tục của nền KTTT với vai trò rất quan trọng của Nhà nước như đã phân tích ở trên, nếu Nhà nước can thiệp một cách thái quá sẽ gây khó khăn cho người dân có quyền sử dụng đất Đồng thời, trong thời gian qua, các vấn đề xảy ra như việc nhận thức vận dụng không đúng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; lạm dụng quyền hạn trong quản lý đất đai tại các địa phương, thu hồi quyền sử dụng đất của người dân trái pháp luật đã dẫn đến sử dụng lãng phí đất đai, nảy sinh những mâu thuẫn gay gắt giữa người dân và nhà nước Tuy nhiên, xét về bản chất, những vấn

đề còn tồn tại đó không phải do sự tồn tại của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai Mà nó xuất phát từ việc tổ chức bộ máy, năng lực đội ngũ cán bộ trong quản lý đất đai của Nhà nước ta còn hạn chế, mà chính sách đất đai không ổn định qua nhiều thời kỳ và cho đến nay những quy định về đất đai vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đất nước trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 7

3 Việc duy trì và bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam ta hiện nay là rất cần thiết và phù hợp.

3.1 Xét trên cơ sở lý luận

Thứ nhất, khi nghiên cứu vị trí và tầm quan trọng của đất đai trong sản xuất

nông nghiệp, các học giả tư sản chia sẻ quan điểm với C Mác rằng hình thức

sở hữu tư nhân về đất đai dẫn đến việc chia nhỏ, manh mún đất đai, gây cản trở sự phát triển của nông nghiệp và trong quá trình khai thác đất Điều này không phù hợp với sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất; cản trở việc áp dụng máy móc và các thành tựu khoa học – kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào sản xuất nông nghiệp Việc tích tụ, tập trung đất vào tay của một bộ phận nhỏ sẽ làm giảm năng suất lao động và hiệu quả kinh tế Chính vì vậy, đặt ra vấn đề cần phải duy trì và bảo vệ chế độ

sở hữu toàn dân về đất đai

Thứ hai, xuất phát từ bản chất của đất đai là loại tài nguyên thiên nhiên đặc

biệt, không ai có quyền chiếm hữu đất cho riêng mình, trước kia, bây giờ và sau này vẫn không thay đổi Chúng ta chỉ có quyền sử dụng đất hợp lý và không ngừng cải tạo để gìn giữ đất đai cho các thế hệ sau Việc cần thiết duy trì và bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân cũng chính là để tôn trọng triệt để quan

niệm này Khoản 1 Điều 54 Hiến pháp 2013 khẳng định: “Đất đai là tài

nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật” Ngoài ra, đất đai là thành quả của sự nghiệp

dựng nước và giữ nước lâu dài của cả dân tộc, là công sức, mồ hôi, xương máu của các thế hệ cha ông ta tạo lập nên Vì vậy không thể để cho một bộ phận nhỏ hay một tầng lớp thiểu số nào trong xã hội được quyền độc chiếm

sở hữu vốn đất đai quý báu này Ðất đai của quốc gia của dân tộc phải thuộc

sở hữu chung của toàn dân và được sử dụng phục vụ cho mục đích chung của

toàn dân tộc, của toàn bộ phận nhân dân Chính vì thế Điều 4 Luật đất đai

2013 quy định cụ thể: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện

Trang 8

chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng theo quy định của Luật này” Khẳng định nhân dân là chủ sở

hữu đối với đất đai và NN là đại diện chủ sở hữu là hợp lý vì xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN, Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân Với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà nhà nước là đại điện chủ sở hữu còn bảo đảm chủ quyền độc lập thống nhất của dân tộc, lãnh thổ của quốc gia Bởi nếu thừa nhận sở hữu tư nhân về đất

và cho phép người nước ngoài thỏa thuận mua bán đất với tư nhân thì nguy cơ mất nước từ hệ lụy của nền KTTT sẽ thành hiện thực, chủ quyền thống nhất của quốc gia dân tộc

Thứ ba, việc duy trì và bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà

nước là đại diện chủ sở hữu tạo cơ chế vững chắc để những người dân lao động có đủ điều kiện tiếp cận đất đai một cách tự do, minh bạch và bình đẳng, trên cơ sở đó cho phép người dân lao động được hưởng các quyền, lợi ích hợp pháp khai thác từ nguồn đất đai của mình Gỉả thiết trong chế độ sở hữu tư nhân về đất đai sẽ khiến người lao động bị bóc lột sức lao động vì nhà tư bản thì muốn thuê đất trong thời gian dài và giảm tiền thuê đất để tối ưu hoá lợi nhuận thậm chí còn giảm chi phí để cải tạo đất và cắt giảm tiền lương của người lao động, còn chủ đất thì muốn rút ngắn thời gian thuê đất để quay vòng thuê và tăng tiền thuê đất Trong hình thức sở hữu này người thiệt nhất

là người lao động vì ngoài sức lao động họ không có gì, họ còn bị các tư bản, chủ đất cấu kết với nhau để bóc lột tối đa sức lao động Từ đó người lao động trở nên bần cùng hoá và không thể thoát nghèo

Chính vì vậy, sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện là hoàn toàn hợp lý với thực tiễn hiện nay Chế độ sở hữu này đã tạo cơ chế công bằng ngay từ đầu, với tính chất ưu việt cho phép người lao động được có tư liệu sản xuất trong đó có đất đai để phục vụ cho nhu cầu, đáp ứng các nguyện vọng cá nhân đồng thời hỗ trợ thúc đẩy sự phát triển của cả quốc gia Và khi Nhà nước là đại diện chủ sở hữu thay mặt toàn dân quản lý và phân bổ đất đai thì sẽ đảm

Trang 9

bảo điều tiết quá trình phân phối công bằng, ngăn ngừa khả năng số ít chiếm dụng phần lớn đất, tạo điều kiện cho người dân hưởng lợi ích từ đất một cách

có lợi hơn, tiếp cận bình đẳng và trực tiếp với đất đai giải phóng người lao động khỏi áp bức bóc lột

Thứ tư, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đem lại nhiều lợi ích phù hợp cho

nước ta trong bối cảnh hiện nay Sở hữu toàn dân trong nền KTTT định hướng XHCN nhấn mạnh rõ các quyền của người dân trong việc sử dụng quyền của mình để cùng nhau giải quyết các vấn đề bất đồng trong sử dụng và phân chia lợi ích từ đất Chế độ pháp quyền XHCN cho phép nhân dân ta được quyền cùng nhau xây dựng Hiến pháp – Văn bản luật có giá trị pháp lý cao nhất của nước ta Với việc quy định trong Hiến pháp về chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, khi đại đa số công dân bị bất lợi trong việc phân chia lợi ích từ đất, họ có thể yêu cầu Nhà nước sửa lại Pháp luật Ðất đai phục vụ mục đích chung của công dân, để tạo sự công bằng trong phân phối lợi ích từ đất do cơ chế thị trường đem lại Điều này là phù hợp với yêu cầu phát triển KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam

Từ đó góp phần phục vụ các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ tổ quốc, phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Ngược lại nếu Hiến pháp thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai thì nhân danh quyền chủ sở hữu, bộ phận nhỏ dân cư sở hữu nhiều đất đai sẽ không cho phép phần lớn còn lại thay đổi chế

độ phân phối lợi ích từ đất Quy định như thế cũng làm gia tăng sự bất bình đẳng trong xã hội, chênh lệch giàu nghèo, xã hội bất ổn

Thứ năm, việc quốc hữu hoá đất đai do giai cấp vô sản thực hiện phải gắn

với vấn đề chính quyền và thiết lập chính quyền chuyên chính vô sản Như vậy muốn thực hiện thành công việc quốc hữu hoá đất đai thì giai cấp vô sản phải làm chủ chính quyền vì chỉ khi giai cấp vô sản thiết lập được chính quyền cho mình thì giai cấp tư bản mới chịu từ bỏ lợi ích của mình gắn với chế độ tư hữu đất đai Chính vì vậy mà rất nhiều cuộc cách mạng vô sản đã nổ

Trang 10

ra tạo tiền đề cho sự ra đời của nhà nước XHCN, một nhà nước của Nhân dân,

do Nhân dân và vì Nhân dân Và việc nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất đai

mà không phải là giai cấp tư sản, điều này rất cần thiết và phù hợp cho nền KTTT định hướng XHCN

Thứ sáu, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai không phải là sở hữu nhà nước

về đất đai Toàn dân theo nghĩa ở đây, tức là toàn thể công dân của một đất nước và thiết chế đại diện chung cho họ chính là Nhà nước chia nhau quyền của chủ sở hữu đất đai theo Hiến pháp và pháp luật Do đó, nếu chúng ta đồng nhất đất đai thuộc sở hữu nhà nước thì điều đó có nghĩa là công dân không có bất cứ quyền nào đối với đất Sở hữu toàn dân về đất đai là sở hữu chung của toàn dân, nhưng có sự phân chia việc thực hành quyền sở hữu giữa người sử dụng đất với Nhà nước Bản chất của cơ chế đó là phân chia một cách hợp lý các quyền của chủ sở hữu đất đai giữa người dân và Nhà nước, cũng như giữa các cơ quan nhà nước ở các cấp Pháp luật đất đai và các văn bản pháp luật liên quan của nước ta hiện nay đã trao cho người dân khá nhiều quyền, bao gồm: quyền sử dụng, quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thế chấp vay vốn đối với đất Về cơ bản người dân đã có gần hết quyền của chủ sở hữu cho phép họ đầu tư, sử dụng đất hiệu quả theo năng lực của mình Tương ứng với

mở rộng quyền cho người sử dụng đất, quyền của cơ quan nhà nước với tư cách đại diện cho toàn dân thống nhất quản lý đất đai trong cả nước được quy định trên các mặt như: quy định mục đích sử dụng cho từng thửa đất (bằng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất); thu hồi đất phục vụ các mục đích an ninh, quốc phòng…; thu một số khoản dựa trên đất So sánh với Luật Ðất đai của một số quốc gia duy trì chế độ tư hữu đất đai có thể thấy quyền của người sử dụng đất của chúng ta cũng không hề thua kém mấy so với bộ phận tư hữu đất đai của các quốc gia đó và quyền của Nhà nước trên thực tế cũng không quá nhiều, do vậy tránh được tình trạng cá nhân chiếm hữu, duy ý chí, lợi dụng chức quyền để thôn tính đất đai

3.2 Xét trên cơ sở thực tiễn

Ngày đăng: 19/06/2022, 16:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Xây dựng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu ở Việt Nam: https://bitly.com.vn/uodmpu Link
4. Đất đai là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý: https://bitly.com.vn/ad0ey6 Link
5. Tính tất yếu trong sở hữu toàn dân về đất đai: https://vovworld.vn/vi- VN/binh-luan/tinh-tat-yeu-trong-so-huu-toan-dan-ve-dat-dai-143556.vov Link
6. Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước đại diện chủ sở hữu ở Việt Nam: https://tuyengiao.vn/nghien-cuu/che-do-so-huu-toan-dan-ve-dat-dai-do-nha-nuoc-dai-dien-chu-so-huu-o-viet-nam-138401 Link
7. Sự tham gia của người dân trong lập kế hoạch sử dụng đất: http://www.lyluanchinhtri.vn/home/index.php/thuc-tien/item/3539-su-tham-gia-cua-nguoi-dan-trong-lap-quy-hoach-ke-hoach-su-dung-dat.html Link
8. Nghiên cứu mở rộng một số quyền của người sử dụng đất: https://bitly.com.vn/r3gg8k Link
9. Định hướng hoàn thiện pháp luật, nang cao hiệu quả về quản lý, sử dụng đất đai: https://bitly.com.vn/z3k641 Link
10. Nỗ lực nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai: https://bitly.com.vn/89fl2k Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w