Việc nghiên cứu nội dung hợpđồng đào tạo nghề theo quy định của Bộ luật Lao động giúp làm rõ các điểm chưa rõràng nhằm giao kết, thực hiện, chấm dứt hợp đồng đúng theo quy định pháp luật
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
LỚP DT10 - NHÓM 17 - HK 213
NGÀY NỘP 9/8/2022 Giảng viên hướng dẫn: Cao Hồng Quân
Trang 2BÁO CÁO PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ VÀ KẾT QUẢ
THỰC HIỆN ĐỀ TÀI CỦA TỪNG THÀNH VIÊN NHÓM 17
STT Họ và tên MSSV Nhiệm vụ quả % Kết Chữ ký
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Nhiệm vụ của đề tài 1
3 Bố cục tổng quát của đề tài: 2
PHẦN NỘI DUNG 3
CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG ĐÀO TẠO NGHỀ THEO BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019 3
1.1 Một số vấn đề lý luận về hợp đồng đào tạo nghề 3
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng đào tạo nghề 3
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng đào tạo nghề 4
1.1.3 Ý nghĩa của hợp đồng đào tạo nghề 7
1.2 Quy định của hợp đồng đào tạo nghề theo Bộ luật Lao động năm 2019 8
1.2.1 Giao kết hợp đồng đào tạo nghề 8
1.2.2 Thực hiện và chấm dứt hợp đồng đào tạo nghề 13
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019 VỀ HỢP ĐỒNG ĐÀO TẠO NGHỀ 16
2.1 Quan điểm của các cấp Tòa án xét xử vụ việc 16
2.2 Quan điểm của nhóm nghiên cứu về tranh chấp và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành 17
2.2.1 Quan điểm của nhóm nghiên cứu về tranh chấp 17
2.2.2 Bất cập và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành 22
PHẦN KẾT LUẬN 23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cũng như các ngành luật khác, Luật Lao Động chiếm một vị trí vô cùng quan trọng,không thể thiếu được trong hệ thống pháp luật Việt Nam Luật Lao động bao gồm tổngthể các quy định của pháp luật nhằm điều chỉnh những quan hệ lao động giữa người laođộng với người sử dụng lao động và những quan hệ xã hội liên quan Việc xác lập hợpđồng đào tạo nghề là một trong những vấn đề quen thuộc trong đời sống xã hội Hợpđồng đào tạo nghề theo quy định của Bộ luật Lao động cũng là một trong những đốitượng được nghiên cứu thường xuyên
Về mặt thực tiễn, những tranh chấp về hợp đồng đào tạo nghề theo Bộ luật Lao
động 2019 rất đa dạng, phức tạp, tình huống xảy ra tranh chấp cũng không cố định,không theo một mô típ xác định… Việc giải quyết những tranh chấp trên cũng không dễ
thống nhất khi chuyển tranh chấp cho các Tòa án khác nhau Về mặt lý luận, những nội
dung về hợp đồng đào tạo nghề của Bộ luật Lao động đôi khi chưa chặt chẽ, rõ ràng dẫnđến nhầm lẫn, khó khăn trong việc giao kết, thực hiện, chấm dứt hợp đồng đào tạo nghềcũng như giải quyết mâu thuẫn khi có tranh chấp xảy ra Việc nghiên cứu nội dung hợpđồng đào tạo nghề theo quy định của Bộ luật Lao động giúp làm rõ các điểm chưa rõràng nhằm giao kết, thực hiện, chấm dứt hợp đồng đúng theo quy định pháp luật; cũngnhư đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về chế định hợp đồng đào tạonghề
Vậy nên, nhóm tác giả thực hiện việc nghiên cứu đề tài “Giao kết, thực hiện và
chấm dứt hợp đồng đào tạo nghề theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019” cho
Bài tập lớn trong chương trình học môn Pháp luật Việt Nam Đại cương
2 Nhiệm vụ của đề tài
Một là, làm rõ một số vấn đề lý luận về hợp đồng đào tạo nghề Trong đó, nhóm
tác giả nghiên cứu những vấn đề về khái niệm; đặc điểm và ý nghĩa của hợp đồng đàotạo nghề;
Hai là, từ lý luận nhóm tác giả tập trung làm sáng tỏ những quy định của pháp luật
lao động Việt Nam về giao kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng đào tạo nghề;
Trang 6Ba là, nghiên cứu bản án của Toà án trong việc giải quyết tranh chấp về hợp đồng
đào tạo nghề để làm sáng tỏ những quy định của pháp luật trong thực tiễn xét xử;
Bốn là, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế định hợp đồng đào tạo nghề.
3 Bố cục tổng quát của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài gồm 02 chương:
Chương I: Khái quát về hợp đồng đào tạo nghề theo Bộ luật Lao động năm 2019 Chương II: Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện Bộ luật Lao động năm 2019
về hợp đồng đào tạo nghề
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
THEO BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019
1.1 Một số vấn đề lý luận về hợp đồng đào tạo nghề
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng đào tạo nghề
Hợp đồng đào tạo nghề là đối tượng chính trong đề tài nghiên cứu của nhóm tác giả.Tuy nhiên, không có khái niệm cụ thể nào cho HĐĐTN trong bất kì văn bản pháp luậtnào Ngay cả trong Bộ luật Lao động 2012 lẫn Bộ luật Lao động 2019 vẫn chưa đưa ranhững khái niệm rõ ràng về hợp đồng đào tạo nghề, mà chỉ đưa ra hình thức, nội dung,chủ thể… của loại hợp đồng này Điều này gây khó khăn trong việc phân biệt hợp đồngđào tạo nghề với các loại hợp đồng cũng như các loại văn bản khác
Để hiểu được hợp đồng đào tạo nghề là gì thì cần phải hiểu các khái niệm: hợpđồng, hợp đồng đào tạo, đào tạo nghề Đầu tiên, khái niệm hợp đồng được nêu tại Điều
385 Bộ luật Dân sự 2015 là “sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Theo Điều 39 Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014 thì
“Hợp đồng đào tạo là sự giao kết bằng lời nói hoặc bằng văn bản về quyền và nghĩa vụ
giữa người đứng đầu cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp, lớp đào tạo nghề, tổ chức,
cá nhân với người học tham gia các chương trình đào tạo thường xuyên.” Khái niệm
trên đã một phần quy định khái niệm HĐĐTN và nêu ra được phạm vi của chủ thể thamgia là giữa người đứng đầu cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp và người học tham giacác chương trình đào tạo Tuy nhiên, khái niệm này không bao quát được toàn bộ chủthể, quan hệ trong Luật Lao Động nói chung Tiếp theo, tại khoản 2 Điều 3 LGDNN
2014 quy định khái niệm “đào tạo nghề” như sau “đào tạo nghề là hoạt động dạy và học
nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp” Khái niệm trên nêu ra chủ thể, đó là người dạy nghề và người
học nghề, gần như đã bao quát hết các đối tượng của quan hệ đào tạo nghề trong phápluật Lao động nói chung
Trang 8Có quan điểm cho rằng HĐĐTN là hình thức pháp lí thiết lập và duy trì quan hệhọc nghề1 Ý kiến khác lại cho rằng HĐĐTN là hợp đồng được kí kết trong trường hợplao động được đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, đào tạo lại ở trong nước hoặcnước ngoài từ kinh phí của người sử dụng lao động2 Khái niệm “HĐLĐ” chưa bao quátđược hết toàn bộ chủ thể, quan hệ; trong khi đó khái niệm “đào tạo nghề” đã nêu đượcbao quát hết chủ thể trong quan hệ lao động, đào tạo nghề Kết hợp hai khái niệm trên,nhóm tác giả nhận định rằng HĐĐTN nên được hiểu là sự thỏa thuận bằng văn bản hoặclời nói về quyền và nghĩa vụ giữa người đào tạo nghề và người học nghề để trang bị kiếnthức, kỹ năng hoặc nâng cao trình độ cho người học nghề, được đào tạo lại ở trong nướchoặc nước ngoài từ kinh phí của người sử dụng lao động Với khái niệm trên, nếu nhìntheo nghĩa rộng, quan hệ quy định trong HĐĐTN không chỉ giới hạn trong pháp luật Laođộng mà còn là một quan hệ dân sự Vì vậy theo nhóm tác giả, HĐĐTN cũng có thể xem
là một dạng hợp đồng trong lĩnh vực Dân sự
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng đào tạo nghề
Một là, đối tượng của HĐĐTN là việc học nghề, dạy nghề, đào tạo, bồi dưỡng
nâng cao kỹ năng nghề Đối với hợp đồng lao động, sức lao động là đối tượng chính củaloại hợp đồng này và luôn được xem là một loại hàng hóa đặc biệt trong quan hệ phápluật Lao động Nếu đối tượng của hợp đồng lao động là sức lao động thì đối tượng củaHĐĐTN lại là việc học nghề, dạy nghề, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề Việchọc nghề, dạy nghề, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề khác hoàn toàn so vớiviệc trao đổi, mua bán sức lao động trong hợp đồng lao động vì nó chưa chắc xác lậpquan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động Đối với việc dạy nghề,học nghề, người học chưa chắc sẽ ở lại làm việc cho NSDLĐ lâu dài, quan hệ đào tạonghề phát sinh trước tạo điều kiện cho quan hệ lao động có thể phát sinh; nhưng đối vớiviệc bồi dưỡng, nâng cao tay nghề thì NLĐ chắc chẵn đã cam kết làm việc lâu dài vớiNSDLĐ, quan hệ đào tạo nghề đan xen với quan hệ lao động và việc nâng cao tay nghềcho người lao động thực chất là để quay lại phục vụ nhu càu của người sử dụng lao động
1 Tô Thị Hòa, Hợp đồng đào tạo nghề là gì? Quy định của pháp luật về Hợp đồng đào tạo nghề, [https://luatminhkhue.vn/hop-dong-dao-tao-nghe-la-gi-quy-dinh-cua-phap-luat-ve-hop-dong-dao-tao-nghe aspx], ngày truy cập 7/8/2022
2 Lê Văn Linh, Hợp đồng đào tạo nghề (Hợp đồng học nghề - Dạy nghề) Hiểu cho đúng, [https://luatbadinh.vn/hop-dong-dao-tao-nghe-hop-dong-hoc-nghe-day-nghe-hieu-cho-dung], ngày truy cập 6/8/2022
Trang 9tốt hơn3 Chính vì những quan hệ đặc thù đó, mà đối tượng của HĐĐTN chỉ có thể làviệc học nghề, dạy nghề, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề Bên cạnh sự khácnhau về đối tượng lao động so với HĐLĐ, HĐĐTN cũng có những điểm tương đồng vớiHĐLĐ, đó là sự thỏa thuận thêm các nội dung khác như địa điểm học nghề, nội dung,chi phí đào tạo… của các bên liên quan Theo đó, tại khoản 2 Điều 62 BLLĐ 2012 bàn
về nội dung của hợp đồng đào tạo nghề thì HĐĐTN bao gồm nghề đào tạo; địa điểm đàotạo, thời hạn đào tạo; chi phí đào tạo; thời hạn người lao động cam kết phải làm việc;trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo; trách nhiệm của NSDLĐ Bên cạnh đó là phải có
sự đồng thuận trong ý chí, tư tưởng của hai bên liên quan, NLĐ và NSDLĐ khi xác lậpHĐĐTN, việc tham gia HĐĐTN phải dựa trên sự bình đẳng, tự nguyện, tự do, sự độclập trong suy nghĩ và qua các biểu hiện, hành động thể hiện ra thế giới khách quan bênngoài Qua những phân tích trên, dù có nhiều điểm giống với HĐLĐ nhưng đối tượngcủa HĐĐTN là việc học nghề, dạy nghề, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề
Hai là, trong hợp đồng có sự phụ thuộc pháp lý của người lao động với người sử
dụng lao động Đầu tiên, theo khoản 1 Điều 3 Bộ luật Lao động 2019 quy định “người
lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương
và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động” và theo khoản 2
Điều 3 BLLĐ 2019 quy định rằng “người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan,
tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận; trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân thì phải
có năng lực hành vi dân sự đầy đủ” Tiếp theo, sự phụ thuộc pháp lý hay yếu tố quản lí
có thể hiểu là “Người lao động không phải là một chủ thể độc lập mà phải làm việc dưới
sự quản lý của người khác”4 Đây được coi là đặc trưng tiêu biểu nhất trong quan hệpháp luật Lao động, hầu như các loại hợp đồng trong lĩnh vực lao đồng đều có đặc trưngnày, không chỉ riêng HĐĐTN Trong quá trình thực hiện HĐLĐ dường như yếu tố bìnhđẳng “lẩn, khuất” ở đâu đó, còn biểu hiện ra bên ngoài là sự không bình đẳng, bởi mộtbên trong quan hệ có quyền ra các mệnh lệnh, chỉ thị và bên kia có nghĩa vụ thực hiện5
3Trần Thị Thoa (2012), Hợp đồng học nghề theo Luật dạy nghề ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc Gia
Trang 10Một trong những biểu hiện của đặc điểm trên là nội dung của HĐĐTN hầu hết là doNSDLĐ và người dạy nghề soạn sẵn, dù mang tính chất tự nguyện, bình đẳng nhưngNLĐ cũng khó có được sự chủ động trong việc giành lấy lợi ích cho mình về mặt pháp lí.Bên cạnh đó pháp luật cũng đảm bảo và tôn trọng quyền quản lý của NSDLĐ, cơ sở dạynghề Tuy nhiên, do người lao động, người học nghề cung ứng sức lao động, sự điềuphối của NSDLĐ có sự tác động lớn đến sức khỏe, tính mạng, danh dự nhân phẩm củangười lao động, cho nên pháp luật các nước cũng có các quy định ràng buộc, kiểm soát
sự quản lý của NSDLĐ, cơ sở dạy nghề trong khuôn khổ và tương quan với sự bìnhđẳng của quan hệ đào tạo nghề
Ba là, HĐĐTN do NLĐ thực hiện Đặc điểm này được thừa nhận rộng rãi trong
khoa học pháp lý, xuất phát từ bản chất của quan hệ lao động, quan hệ đào tạo: việc họcnghề, dạy nghề, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề trong HĐĐTN phải do ngườigiao kết thực hiện, không được giao cho người khác, nếu không có sự đồng ý củaNSDLĐ Trong quan hệ đào tạo nghề, các bên chỉ chú ý đến thành quả của việc họcnghề, đào tạo nghề đó là tay nghề của NLĐ đã được nâng cao thông qua việc tích lũykiến thức và kinh nghiệm Kiến thức và đặc biệt là kinh nghiệm không thể nào chuyểnqua lại giữa hai NLĐ, chính vì thế, chủ thể thực hiện HĐĐTN phải do chính NLĐ giaokết thực hiện Hơn nữa HĐĐTN thường được thực hiện trong môi trường xã hội hóa, có
sự hợp tác và chuyên môn hóa rất cao Vì vậy khi NSDLĐ kí kết hợp đồng với NLĐ, họkhông chỉ chú trọng đến việc nâng cao trình độ tay nghề mà còn quan tâm đến các quyềnnhân thân của NLĐ Chính vì thế, NLĐ phải trực tiếp thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết,không được dịch chuyển cho người thứ ba Tương tự như vậy, NLĐ không thể chuyểngiao quyền thực hiện HĐĐTN của mình cho người thừa kế6
Bốn là, HĐĐTN là cơ sở cho việc hình thành và duy trì quan hệ lao động Theo
khoản 5 Điều 3 Bộ luật Lao động 2019 quy định “Quan hệ lao động là quan hệ xã hội
phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động, người
sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền Quan hệ lao động bao gồm quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động tập thể” Vậy
quan hệ lao động được xác lập khi có một HĐLĐ được kí kết giữa NLĐ và NSDLĐ.Đặc điểm này dựa trên bản chất và mục tiêu của quan hệ đào tạo nghề, đó là giúp NLĐ
6 Huỳnh Thu Hương, Đặc điểm của hợp đồng đào tạo nghề, [https://phaptri.vn/dac-diem-cua-hop-dong-lao-dong], truy cập cuối 8/8/2022
Trang 11nâng cao tay nghề để quay trở lại đáp ứng yêu cầu sản xuất của NSDLĐ Đối với việcdạy nghề, học nghề, NSDLĐ đầu tư để NLĐ có được kiến thức, kĩ năng về lĩnh vực laođộng mà NSDLĐ đang quản lí; sau đó, nếu NLĐ đáp ứng được yêu cầu thì đó sẽ là cơ
sở để tiếp tục được nhận ở lại làm việc cho NSDLĐ và xác lập thêm quan hệ lao dựatrên một HĐLĐ mới Đối với việc bồi dưỡng, nâng cao kĩ năng nghề, quan hệ lao độnggiữa NLĐ và NSDLĐ chắc chắn đã được xác lập dựa trên một HĐLĐ nào đó từ trước,việc bồi dưỡng, nâng cao tay nghề cho NLĐ từ tay nghề, chuyên môn trung bình trởthành NLĐ có tay nghề, chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu của NSDLĐ; đều này giúpquan hệ lao động đã có sẵn duy trì tốt đẹp hơn
1.1.3 Ý nghĩa của hợp đồng đào tạo nghề
Thứ nhất, đối với NLĐ, HĐĐTN là phương tiện pháp lý quan trọng để thực hiện
quyền và nghĩa vụ học nghề của mình Trong cuộc sống xã hội hiện đại ngày nay, cónhiều ngành nghề đòi hỏi trình độ tay nghề và chuyên môn cao Vì thế, HĐĐTN làphương tiện để NLĐ có cơ hội được bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề để có được cơhội được làm việc trong các ngành nghề có điều kiện làm việc tốt hơn7 Bên cạnh đóHĐĐTN, như đã nói ở trên, ngoài việc xác định đối tượng lao động, các bên kí kết còn
có thể thỏa thuận các nội dung khác liên quan đến địa điểm làm việc, trợ cấp, bảo hiểm,cam kết sử dụng lao động sau khi đã đào tạo xong… Vì vậy HĐĐTN cũng là một cơ sởpháp lí quan trọng, để NLĐ chủ động giành quyền lợi về phía mình trong việc hìnhthành quan hệ lao động mới, duy trì quan hệ lao động cũ đã có trước hoặc đảm bảoquyền lợi của mình trong quan hệ đào tạo nghề
Thứ hai, đối với NSDLĐ, HĐĐTN là phương tiện pháp lý quan trọng để NSDLĐ
thực hiện quyền quản lí và kiểm soát đối với NLĐ Trong khuôn khổ pháp luật cho phép,NSDLĐ có thể thoả thuận với NLĐ các nội dung cụ thể của quan hệ lao động, quan hệđào tạo cho phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động trong tương lai của mình Các bêncũng có thể thoả thuận về chi phí đào tạo hoặc thời hạn NLĐ cam kết phải làm việc choNSDLĐ sau khi được đào tạo nhằm đảm bảo quyền được sử dụng lao động có trình độcao phục vụ sản xuất, nhu cầu sau khi NSDLĐ đã bỏ ra một khoản kinh phí để tiến hành
7,8 Lưu Hữu Thọ, Hợp đồng là gì? Ý nghĩa của Hợp đồng đào tạo trong hệ thống pháp luật, [https://thegioiluat.vn/bai-viet/hop-dong-la-gi-y-nghia-cua-hop-dong-lao-dong-trong-he-thong-phap-luat-1325], truy cập cuối 8/8/2022
Trang 12dạy nghề, bồi dưỡng tay nghề cho NLĐ8 Ngoài ra, HĐĐTN cũng là cơ sở pháp lí quantrọng trong giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc đào tạo nghề, học nghề, nângcao kĩ năng nghề cho cả NSDLĐ lẫn NLĐ vì nó quy định quyền, lợi ích và nghĩa vụphải thực hiện cho các bên liên quan.
Thứ ba, đối với kinh tế - xã hội, HĐĐTN là cơ sở hình thành và duy trì quan hệ lao
động; vì vậy nó cũng được coi là công cụ pháp lý quan trọng trong việc tạo lập, pháttriển thị trường lao động Thị trường lao động lại đóng vai trò quan trọng trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay HĐĐTN còn là cơ sở đểnâng cao chất lượng nguồn lao động nói chung Bên cạnh đó, HĐĐTN là hình thức pháp
lý để đảm bảo sự tự do và tự nguyện của các bên khi xác lập quan hệ lao động, góp phầntạo nên sự bình đẳng trong xã hội Cuối cùng, HĐĐTN là một trong những cơ sở pháp lýquan trọng để nhà nước đảm bảo sự công bằng trong quá trình giao kết và khi có tranhchấp pháp lí xảy ra giữa NLĐ và NSDLĐ9
1.2 Quy định của hợp đồng đào tạo nghề theo Bộ luật Lao động năm 2019
1.2.1 Giao kết hợp đồng đào tạo nghề
Thứ nhất, về điều kiện của chủ thể giao kết hợp đồng đào tạo nghề:
i Đối với người học nghề
Người học nghề là cá nhân có mong muốn và trực tiếp tham gia xác lập, thực hiệnquan hệ pháp luật về học nghề với cơ sở dạy nghề10
Xét về góc độ, người học nghề tham gia việc học nghề, tập nghề và chưa xác lậpquan hệ lao động với bên sử dụng lao động, thì quy định tại khoản 4 Điều 61 của BLLĐ
2019 có nêu rõ “người học nghề phải đủ 14 tuổi trở lên, phải có đủ sức khỏe đáp ứng
yêu cầu của nghề theo học Đối với một số ngành nghề nhất định, theo danh mục do nhà nước quy định, tuổi nghề có thể dưới 14 tuổi” Lí giải cho độ tuổi của người học nghề,
có ý kiến cho rằng, xã hội có nhu cầu về nguồn lao động có trình độ cao; vì vậy ngườihọc nghề có độ tuổi sớm hơn người lao động để vừa có đủ thời gian đào tạo vừa giải
9 Lưu Hữu Thọ, Hợp đồng là gì? Ý nghĩa của Hợp đồng đào tạo trong hệ thống pháp luật, [https://thegioiluat.vn/bai-viet/hop-dong-la-gi-y-nghia-cua-hop-dong-lao-dong-trong-he-thong-phap-luat-1325], truy cập cuối 8/8/2022.
10Trần Thị Thoa (2012), Hợp đồng học nghề theo Luật dạy nghề ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc Gia
Hà Nội, tr.15.
Trang 13quyết được tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”11 Theo đó, nhóm tác giả thấy rằng, việc quyđịnh độ tuổi người học nghề như trên là phù hợp, độ tuổi được phép tham gia lao động là
từ đủ 15 tuổi trở lên, nếu quy định tuổi học nghề cũng từ độ tuổi này thì hoàn toàn khôngphù hợp với mục đích của việc học nghề, đó là trạng bị kiến thức, kĩ năng sớm để ngườilao động có trình độ cao ngay từ khi mới bước vào thị trường lao động
Xét ở góc độ, người học nghề tham gia việc bồi dưỡng, nâng cao tay nghề, tức là
đã phát sinh quan hệ lao động thông qua HĐLĐ với NSDLĐ, quan hệ đào tạo nghề phátsinh song song với sự tồn tại của quan hệ lao động, người học nghề đã là NLĐ thì độ
tuổi của người học nghề phải từ đủ 15 tuổi trở lên theo khoản 1 Điều 3 BLLĐ 2019 “Độ
tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, trừ trường hợp quy định tại Mục 1 Chương XI của Bộ luật này” Đối với độ tuổi từ đủ 13 đến dưới 15 vẫn được tham
gia học nghề, tập nghề và thậm chí được phép tham gia lao động để bồi dưỡng, nâng cao
tay nghề theo khoản 4 Điều 61 BLLĐ 2019 “Đối với một số ngành nghề nhất định, theo
danh mục do nhà nước quy định, tuổi nghề có thể dưới 14 tuổi” tuy nhiên ở độ tuổi này
thì thủ tục là khá khó khăn và cũng chỉ giới hạn ở một số lĩnh vực đặc thù
Ngoài ra yêu cầu về người học nghề là có khả năng nhận thức và tự chịu tráchnhiệm ở mức độ nhất định khi học nghề Người học không được mắc một số bệnh cókhả năng lây nhiễm cho người khác nhằm bảo vệ cho người học nghề, cơ sở dạy nghề vàlợi ích chung của xã hội như HIV/AIDS12
ii Đối với đơn vị đào tạo nghề
Không có khái niệm về đơn vị đào tạo nghề, tuy nhiên theo khoản 1 Điều 5
LGDNN 2014 có quy định về đơn vị đào tạo nghề, cơ sở giáo dục nghề bao gồm “Cơ sở
giáo dục nghề nghiệp bao gồm: a) Trung tâm giáo dục nghề nghiệp; b) Trường trung cấp; c) Trường cao đẳng.” Quy định này dù cụ thể, chi tiết nhưng chưa đủ bao quát và
chỉ giới hạn cho người học nghề chưa có kí kết HĐL, chưa xác lập quan hệ lao động vớiNSDLĐ Các yêu cầu về cơ sở đào tạo nghề đã được nêu rất cụ thể trong LGDNN 2014
Về phân loại được nêu tại khoản 2 Điều 5 LGDNN 2014 “Cơ sở giáo dục nghề nghiệp
được tổ chức theo các loại hình sau đây: a) Cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập là cơ
11 Triều Khúc, Hướng nghiệp: Bao nhiêu tuổi thì được học nghề?, [http://www.truongdaynghethanhxuan.edu vn/tin-tuc/Bao-nhieu-tuoi-thi-duoc-hoc-nghe-223], truy cập cuối 4/8/2022.
12 Lê Minh Trường, Quy định của pháp luật về Hợp đồng đào tạo nghề, tao-nghe-la-gi-quy-dinh-cua-phap-luat-ve-hop-dong-dao-tao-nghe.aspx], truy cập cuối 7/8/2022.
Trang 14[https://luatminhkhue.vn/hop-dong-dao-sở giáo dục nghề nghiệp thuộc [https://luatminhkhue.vn/hop-dong-dao-sở hữu Nhà nước; b) Cơ [https://luatminhkhue.vn/hop-dong-dao-sở giáo dục nghề nghiệp tư thục
là cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc sở hữu của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp; c) Cơ sở giáo dục nghề nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm cơ sở giáo dục nghề nghiệp 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài” Về cơ cấu được quy định tại
-Điều 10, 11 và 12 của LGDNN 2014; Về hoạt động giáo dục nghề nghiệp, cơ sở vật chất
được quy định tại khoản 1 Điều 19 LGDNN 2014 “Cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở
giáo dục đại học, doanh nghiệp được hoạt động khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp.”… Các quy định trên nhằm phục vụ mục đích đào tạo
nguồn nhân lực có chất lượng, trình độ cao
Trong trường hợp người học nghề là người đã phát sinh quan hệ lao động thôngqua HĐLĐ, đã trở thành NLĐ, và tham gia quan hệ đào tạo nghề với mục đích bồidưỡng, nâng cao tay nghề, thì có sự tương đồng về chủ thể giữa đơn vị đào tạo nghềtrong quan hệ đào tạo nghề và NSDLĐ trong quan hệ lao động, vì thế các khái niệm, quyđịnh về trách nhiệm chủ thể của đơn vị đào tạo nghề có thể được thay thế bằng các quyđịnh trong BLLĐ 201913 Khoản 2 Điều 3 BLLĐ 2019 quy định rằng “người sử dụng
lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận; trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ” Khái niệm trên
bao quát hết đối tượng trong quan hệ của pháp luật Lao động Quy định về trách nhiệmcủa NSDLĐ được quy định tại Điều 12 BLLĐ 2019:
“1 Lập, cập nhật, quản lý, sử dụng sổ quản lý lao động bằng bản giấy hoặc bản điện tử và xuất trình khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.
2 Khai trình việc sử dụng lao động trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bắt đầu hoạt động, định kỳ báo cáo tình hình thay đổi về lao động trong quá trình hoạt động với
cơ quan chuyên môn về lao động.”…
Thứ hai, về hình thức và nội dung của hợp đồng đào tạo nghề:
i Hình thức của hợp đồng đào tạo nghề
Tại khoản 1 Điều 39 LGDNN 2014 có nêu rất rõ về hình thức của HĐĐTN “Hợp
đồng đào tạo là sự giao kết bằng lời nói hoặc bằng văn bản về quyền và nghĩa vụ giữa
13 Nguyễn Minh Liêm, Những điều cần biết về hợp đồng đào tạo nghề, tao-nghe/], truy cập cuối 6/8/2022