1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập nhóm Đại học Luật Hà Nội

15 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật đất đai
Thể loại Bài tập nhóm
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 141 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái quát chung về chế độ sở hữu đất đai ở nước ta 21 Khái niệm sở hữu toàn dân về đất đai 32 Đặc trưng và đặc điểm của sở hữu toàn dân về đất đai 32 1 Đặc trưng 32 2 Đặc điểm 43 Thực trạng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta hiện nay 5II Chế độ sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu trong nền kinh tế thị trường 51 Chế độ sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu là cần thiết và phù hợp 82 Một số bất cập trong chế dộ sở hữu toàn dân.

Trang 1

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 1

I Khái quát chung về chế độ sở hữu đất đai ở nước ta 1

1 Khái niệm sở hữu toàn dân về đất đai 2

2 Đặc trưng và đặc điểm của sở hữu toàn dân về đất đai 3

2.1 Đặc trưng 3

2.2 Đặc điểm 3

3 Thực trạng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta hiện nay 4

II Chế độ sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu trong nền kinh tế thị trường 5

1 Chế độ sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu là cần thiết và phù hợp 5

2 Một số bất cập trong chế dộ sở hữu toàn dân về đất đai 8

III Phương hướng hoàn thiện chế định sở hữu toàn dân về đất đai 9

1 Hoàn thiện chế định sở hữu toàn dân về đất đai 9

2 Hoàn thiện pháp luật đất đai để bảo đảm thể chế chế định sở hữu toàn dân về đất đai 11

C KẾT LUẬN 13

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

Trang 2

A MỞ ĐẦU

Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đóng vai trò trung tâm, giữ vị trí hạt nhân chi phối toàn bộ quá trình quản lí và

sử dụng đất đai ở nước ta1 Đây là chế độ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam, đi theo đúng tinh thần lí luận chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường ngày nay Do

đó, bài tiểu luận của nhóm em xin được làm sáng tỏ nhận định: “Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, việc duy trì và bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu là cần thiết và phù hợp Tuy nhiên pháp luật cần phải tiếp tục

có những chế định mới được ban hành nhằm nâng cao hiệu quả thực thi trên thực tế chế độ sở hữu trong thời gian tới”

B NỘI DUNG

I Khái quát chung về chế độ sở hữu đất đai ở nước ta

Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta luôn quan tâm đến vấn đề ruộng đất, coi việc giải quyết vấn đề ruộng đất là một nội dung quan trọng của cách mạng dân tộc, dân chủ Trong Luận cương chính trị năm 1930, Đảng ta đã xác

định rõ chính sách đối với ruộng đất: “Quyền sở hữu ruộng đất thuộc về chánh phủ công nông”.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền nhân dân tuyên bố bãi bỏ các luật lệ về ruộng đất của chế độ cũ

Năm 1946, Hồ Chủ tịch kí Sắc lệnh về giảm tô, bãi bỏ thuế thổ trạch ở thôn quê

Năm 1953, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua Luật cải cách ruộng đất, tịch thu ruộng đất của địa chủ, phong kiến, cường hào,… chia cho nông dân, thực hiện khẩu hiệu “Người cày có ruộng”

1 Giáo trình Luật Đất đai, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB.Công an Nhân dân, 2020

Trang 3

Tiếp đó, tại Điều 14 Hiến pháp năm 1959 quy định: “Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân…”.

Sau khi đất nước thống nhất ngày 30/4/1975, ngày 18/12/1980, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua bản Hiến pháp mới quy

định rõ: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong long đất, ở vùng biển và thềm lục địa… là của Nhà nước – đều thuộc sở hữu toàn dân” (Điều 19) và “Nhà nước thống nhất quản lí đất đai theo quy hoạch chung, nhằm bảo đảm đất đai được sử dụng hợp lí và tiết kiệm” (Điều 20).

Đây là cơ sở pháp lí cao nhất xác định rõ toàn dân là chủ sở hữu đối với toàn

bộ vốn đất quốc gia

Hiến pháp năm 1992 ra đời thay thế Hiến pháp năm 1980 cũng tiếp tục

khẳng định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ; nguồn nước, tài nguyên trong long đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời… là của Nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân” (Điều 17)

Hiến pháp 2013 – Hiến pháp của thời kì đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại – được ban hành đã long trọng tuyên

bố: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng tời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lí là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lí” (Điều 53).

1 Khái niệm sở hữu toàn dân về đất đai

Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai là khái niệm dùng để chỉ một hình thức sở hữu đối với đất đai mà trong đó toàn dân là chủ thể Với chế độ

sở hữu này, tất cả công dân của một quốc gia đều là chủ thể được công nhận trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đất đai thông qua hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai tạo cơ sở pháp lý cho mọi người có quyền sở hữu về đất đai một cách bình đẳng

Trang 4

Sở hữu toàn dân về đất đai là một khái niệm được sử dụng để phản ánh đất đai thuộc về sở hữu chung của một cộng đồng xã hội, bao gồm toàn dân Khái niệm này không chỉ ra được hay nói cách khác không định danh được một người cụ thể nào là chủ sở hữu đất đai Sở hữu toàn dân về đất đai được hiểu là toàn thể nhân dân đều có quyền sở hữu đất đai và quyền này không thuộc về riêng một cá nhân nào trong xã hội

2 Đặc trưng và đặc điểm của sở hữu toàn dân về đất đai

2.1 Đặc trưng

Đặc trưng của hình thức sở hữu này: (i) Sở hữu của toàn thể nhân dân Việt Nam (chủ sở hữu về danh nghĩa, mang tính chính trị, pháp lý); (ii) Quyền

sở hữu được trao cho người đại diện, chính là nhà nước (chủ sở hữu đích thực, nhưng không phải là chủ thể dưới góc độ chính trị- pháp lý); (iii) Có sự đồng nhất giữa chế độ sở hữu và hình thức sở hữu là sự thống nhất giữa quyền năng tối cao của nhà nước với các quyền năng cụ thể của người sử dụng đất

2.2 Đặc điểm

* Quyền sở hữu tối cao về ruộng đất của Nhà nước

Quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai được hình thành từ rất sớm ở nước ta xuất phát từ yêu cầu của công cuộc đấu tranh giành và giữ nền độc lập tự chủ cũng như đòi hỏi của việc phát triển nền công nghiệp lúa nước Hình thức sở hữu này bắt đầu manh nha từ thế kỉ thứ XI, được củng cố vững chắc ở thế kỉ thứ XV và tiếp tục được duy trì ở các triều đại phong kiến tiếp theo với quy mô và mức độ khác nhau

* Quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai

Ở Việt Nam, nhà nước giữ quyền sở hữu tối cao đối với toàn bộ đất đai của quốc gia Vì vậy, quyền tư hữu đối với ruộng đất là một thứ quyền tư hữu

bị hạn chế và không hoàn chỉnh, luôn luôn bị sự chi phối lớn quyền sở hữu tối cao của nhà nước Đây chính là một đặc điểm lớn trong chế độ sở hữu ruộng đất ở Việt Nam

Trang 5

Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta hiện nay được xây dựng không chỉ dựa vào những luận cứ khoa học của học thuyết Mác – Lê nin về quốc hữu hóa đất đai mà còn do điều kiện thực tiễn đặc thù của đất nước và

kế thừa những phong tục tập quán của cha ông ta trong lịch sử

3 Thực trạng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta hiện nay

Nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý được ghi nhận qua các bản Hiến pháp và mới đây nhất là tại Điều 53, 54 Hiến pháp 2013 Tiếp đó, chế độ này cũng được khẳng

định tại Điều 4 Luật đất đai 2013: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này.”

Đất đai là thành quả của sự nghiệp giữ nước và dựng nước lâu dài của

cả dân tộc, không thể để cho một số người nào đó có quyền độc chiếm sở hữu nên đất đai phải thuộc sở hữu chung của toàn dân, không thể thuộc về bất cứ một cá nhân, tổ chức nào Sở hữu toàn dân tạo điều kiện để những người lao động có điều kiện tiếp cận đất đai để tạo ra của cải và tạo ra cuộc sống ngày càng tốt hơn cho đời sống nhân dân nói chung riêng cũng như ổn định tình hình kinh tế-xã hội nói chung

Hiện nay tại nước ta, với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất

đai, Nhà nước đang nắm vai trò thay mặt toàn dân quản lý và phân bổ đất đai, thực hiện điều tiết quá trình phân phối địa tô phù hợp với sở hữu toàn dân, đảm bảo công bằng, ngăn ngừa khả năng để một số ít người chiếm dụng phần lớn địa tô một cách bất hợp lý, tạo điều kiện để người dân được tiếp cận bình đẳng và trực tiếp đối với đất đai và xóa bỏ tình trạng một nhóm người dùng độc quyền sở hữu đất đai để bóc lột người sử dụng đất Nhà nước ta cũng đã

và đang thực hiện tốt nhiệm vụ của một đại diện, phát huy ưu điểm chung giống với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở các nước khác

Tuy nhiên, việc thực hiện chế độ đó trên thực tế ở Việt Nam có lúc và

có nơi chưa phù hợp, như mức định giá đất và cách thu hồi đất của chính

Trang 6

quyền có lúc và có nơi còn bất hợp lý Chính vì thế đã gây ra không ít phiền phức cho người sử dụng đất Người dân thì luôn muốn chủ động trong việc quyền sử dụng (quyết định có nên bán hay không nên bán quyền sử dụng) mảnh đất mà mình được trao Điều này dẫn đến việc xảy ra trường hợp người dân không hợp tác trong quá trình thu hồi đất, phải sử dụng các biện pháp mạnh hơn như cưỡng chế giải tỏa dẫn đến mất trật tự công cộng, bất ổn trong

xã hội và chậm tiến độ trong các dự án đặc biệt là các dự án mang mục đích thương mại của các doanh nghiệp Tuy nhiên đây cũng là một vấn đề nan giải đối với Nhà nước với tư cách người đại diện chủ sở hữu toàn dân khi phải cân bằng lợi ích hợp pháp cho cả hai bên

II Chế độ sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu trong nền kinh tế thị trường

1 Chế độ sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu là cần thiết và phù hợp

Trong điều kiện lịch sử - cụ thể của Việt Nam, đất đai không chỉ là phạm trù kinh tế, mà còn là phạm trù chính trị - xã hội, an ninh - quốc phòng; đất đai là nguồn lực cho sự phát triển đất nước Mục tiêu tiên quyết của sở hữu toàn dân về đất đai là cải thiện điều kiện sống của người lao động Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đã đáp ứng được yêu cầu khách quan của thời đại:

Thứ nhất, về nguồn gốc: Trước hết cần khẳng định rằng sở hữu toàn

dân là sở hữu chung của mọi người thể hiện bản chất của đất đai là tặng vật của tự nhiên ban tặng con người Ở nước ta vốn đất đai quý báu do công sức,

mồ hôi, xương máu của các thế hệ người Việt Nam tạo lập nên, nó phải thuộc

về toàn thể nhân dân Điều này đã được khẳng định trong Báo cáo thẩm tra

Dự án Luật đất đai năm 1993 của Ủy ban pháp luật của Quốc hội khóa IX

được trình bày tại kì họp thứ ba ngày 13/6/1993: “Vì đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là thành quả của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, trải qua nhiều thế hệ, nhân dân đã tốn bao công thức

và xương máu mới khai thác, bồi bổ, cải tạo và bảo vệ được vốn đất như hiện nay”.

Trang 7

Bên cạnh đó, xuất phát từ bản chất Nhà nước Việt Nam là Nhà nước

“của dân, do dân, vì dân”, Nhà nước do nhân dân lao động thiết lập nên, đại diện trung thành cho ý chí và nguyện vọng của toàn dân thì nhân dân phải là chủ sở hữu loại tư liệu sản xuất đặc biệt quý giá này Đất đai của quốc gia dân tộc phải thuộc sở hữu toàn dân và phải được phục vụ vì mục đích, lợi ích chung của toàn dân

Như vậy, từ nguồn gốc đất đai, việc khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân là hoàn toàn hợp lí

Thứ hai, đảm bảo sử dụng đất đai đúng mục đích, tiết kiệm, hợp lí: Dân

số nước ta hiện nay hơn 97,3 triệu người2 với diện tích đất khoảng 331,212 km2

trong đó có khá nhiều diện tích đất tự nhiên chưa được sử dụng, chủ yếu là đất trống đồi núi trọc Việc xác định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước là đại diện chủ sở hữu có ý nghĩa quan trọng, giúp đất đai được thống nhất quản lý bởi nhà nước Từ đó, nhà nước sẽ có điều kiện thuận lợi trong việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất đai theo kế hoạch phát triển chung nhằm quản lí chặt chẽ vốn đất và từng bước đưa diện tích đất tự nhiên chưa được sử dụng ở nước ta vào khai thác, sử dụng hợp lí đi đôi với cải tạo bồi bổ nguồn đất quý giá của quốc gia tạo điều kiện phát triển bền vững, bảo vệ môi trường

Thứ ba, phát triển kinh tế: Trong giai đoạn đẩy mạnh toàn diện công

cuộc đổi mới đất nước hiện nay thì việc xác lập hình thức sở hữu toàn dân về đất đai sẽ tạo ưu thế và thuận lợi cho Nhà nước trong việc sử dụng đất cho các

mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích chung của toàn xã hội: “[…] Đây cũng chính là khả năng, điều kiện, phương tiện có sẵn trong tay Nhà nước đảm bảo cho phát triển xã hội dù trong môi trường xã hội phát triển nhiều thành phần kinh tế” Thị trường bất động sản được mở rộng, ổn định và phát

triển ngày càng bền vững Trái ngược với chế độ sở hữu toàn dân việc thiết lập chế độ sở hữu tư nhân về đất đai là một yếu tố cản trở đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội

2 Theo số liệu thống kê dân số Việt Nam năm 2020

Trang 8

Ví dụ: Sở hữu tư nhân đất đai sẽ đặt nhà đầu tư một dự án nào đó,vào

chỗ phải thỏa thuận với quá nhiều người dân và như vậy chỉ một người không đồng ý với phương án chung là kế hoạch đầu tư khó triển khai thực hiện Và như vậy sẽ dễ dàng hơn nếu chủ đầu tư chỉ cần thỏa thuận với Nhà nước - đại diện chủ sở hữu, thống nhất và quản lí

Thứ tư, đảm bảo công bằng: Như đã đề cập trên về nguồn gốc đất đai

có thể nhận thấy rằng với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, tất cả công dân một nước đều là những chủ nhân bình đẳng của đất đai trên lãnh thổ nước đó Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai tạo cơ sở pháp lý cho mọi người có quyền

sở hữu đất đai một cách bình đẳng Không chỉ vậy sở hữu toàn dân về đất đai tạo cơ chế để người lao động có quyền hưởng lợi ích từ đất đai một cách có lợi hơn, công bằng hơn và bình đẳng hơn Bởi vì, sở hữu toàn dân là sở hữu chung của toàn dân nên ai cũng có được, nhận được lợi ích từ đất đai Người lao động phải có tư liệu sản xuất để lao động mưu sinh Sở hữu tư nhân đất đai sẽ làm cho người nghèo mất đất và khi không có tư liệu sản xuất thì người nghèo không thể thoát nghèo được Rõ ràng, không được sao nhãng mục tiêu công bằng, vì nếu để đạt được hiệu quả bằng cách hy sinh quyền lợi của phần lớn người lao động, của cải làm ra nhiều hơn nhưng chui vào túi người giàu thì không phải là hiệu quả chúng ta mong muốn

Chế độ này còn nhấn mạnh quyền của người dân trong việc sử dụng quyền của mình, khi một quyết định được ban hành trái với lợi ích của đa số người dân thì họ sẽ có quyền tham gia đóng góp ý kiến và có quyền yêu cầu Nhà nước xem xét, sửa đổi quyết định cho phù hợp

Thứ năm, đảm bảo về chính trị: Đảm bảo về chính trị là một trong

những cơ sở quan trọng nhất bởi Việt Nam - đất nước có vị trí địa lý hết sức đặc biệt, là “miếng mồi thơm” luôn được một số quốc gia nhòm ngó Vì vậy, khi xác định đất đai thuộc sở hữu toàn dân cũng đồng thời khẳng định đất đai là tài sản chung của toàn dân tộc nên sẽ tránh được tình trạng tự quyết hay lạm quyền của một số cá nhân, tổ chức lấy đất đai là điều kiện trao đổi để thu lợi bất chính; chuyển nhượng đất cho người nước ngoài một cách bừa bãi; đặt lợi

Trang 9

ích cá nhân lên lợi ích của cả dân tộc nhất là trong điều kiện nước ta đang ngày càng “mở cửa” chủ động hội nhập vững chắc vào nền kinh tế khu vực và trên thế giới, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu nhằm phát triển đất nước ngày càng lớn mạnh

Việc duy trì và củng cố hình thức sở hữu toàn dân về đất đai trong giai đoạn hiện nay còn căn cứ vào thực tiễn lịch sử Các quan hệ về quản lí và sử dụng đất đai ở nước ta được xác lập dựa trên cơ sở đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lí đã mang tính ổn định trong một thời gian khá dài (từ 1980 đến nay) Nếu thay đổi hình thức sở hữu đất đai này sẽ dẫn đến sự xáo trộn trong lĩnh vực đất đai, làm tăng tính phức tạp của các quan hệ đất đai; thậm chí gây nên sự mất ổn định về chính trị-xã hội của đất nước

Ví dụ: Nếu thừa nhận sở hữu tư nhân đất đai, sẽ diễn ra các cuộc tranh

đấu đòi lại quyền sở hữu nhà, đất trong quá khứ, sẽ có cuộc lục soát lại những

gì chúng ta đã làm trong cải cách ruộng đất, trong thu hồi đất, chia nhà bỏ hoang cho cán bộ và người dân những năm sau chiến tranh

2 Một số bất cập trong chế dộ sở hữu toàn dân về đất đai

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, chế độ sở hữu toàn dân

về đất đai do Nhà nước đại diện chủ sở hữu là phù hợp Tuy nhiên vẫn còn tồn tại những điểm còn hạn chế, bất cập như sau:

Thứ nhất, theo quy định tại Điều 4 Luật Đất đai 2013 “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”, dẫn

đến có nhiều điểm còn bất cập do còn tình trạng quản lý lỏng lẻo ở một số nơi, đất để trống nhiều, không có kế hoạch quy hoạch kịp thời gây ảnh hưởng đến chất lượng đất, lãng phí tài nguyên và mất mỹ quan Các quy định pháp luật còn chồng chéo, gây khó hiểu từ định nghĩa thế nào là sở hữu toàn dân, định nghĩa chưa rõ ràng, chung chung dẫn đến việc áp dụng gặp nhiều khó khăn Việc nhận thức và vận dụng không đúng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong thời gian qua đã dẫn đến sự lãng phí về đất đai, gây thiệt hại cho người sử dụng đất, đồng thời phát sinh sinh những tiêu cực, mâu thuẫn gay

Trang 10

gắt trong lĩnh vực này Hệ quả là sự hoài nghi chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, ý kiến đòi hỏi phải thay đổi chế độ sở hữu toàn dân về đất đai

Thứ hai, hiện nay chế độ sở hữu toàn dân về đất đai quy định Nhà nước

là đại diện quyền sở hữu, thực tế trong nhiều trường hợp, người dân chưa hiểu Nhà nước thực sự là ai, chưa có sự thống nhất cao từ trung ương tới địa phương, do đó dẫn đến lạm quyền trong việc thu hồi đất, xâm hại quyền lợi của người dân nhưng lại để đất đai rơi vào tay các nhóm lợi ích, khiến cả quyền lợi của người dân lẫn lợi ích quốc gia không được bảo đảm Hậu quả là trong một số trường hợp đất đai sẽ được chuyển từ người dân nghèo sang tay

“các đại gia” với giá rất thấp Đồng thời, bằng động tác đầu tư trở lại, “các đại gia” này lại bán đất ra với giá cao cho người dân có nhu cầu Không ít trường hợp đất đai bị thu hồi để rồi bỏ hoang, bởi những dự án “treo” không có điểm dừng, trong khi người dân không có đất để ở hoặc canh tác Những tồn tại trên cho thấy quản lý của Nhà nước chưa tương xứng với yêu cầu cần phải có trong chế độ sở hữu toàn dân

Thứ ba, quá trình phát triển kinh tế thị trường dẫn đến nhu cầu tư nhân

hóa về quyền sử dụng một bộ phận đất đai, điều này cũng tác động làm biến dạng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai Trong chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và quá trình phát triển kinh tế thị trường, chủ thể sở hữu đất đai luôn luôn tách rời khỏi người sử dụng đất Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, cố gắng duy trì quyền sở hữu của mình bằng cách can thiệp vào quá trình sử dụng, định đoạt đất đai Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là sự can thiệp một cách chủ động của Nhà nước đã và đang dần dần bị hạn chế bởi chính các yếu tố thị trường,

từ đó làm phá vỡ các quy hoạch và kế hoạch chủ động của Nhà nước về đất đai, buộc các cơ quan quản lý nhà nước phải thường xuyên thay đổi các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã ban hành, làm cho chính sách về đất đai bất

ổn, gây khó khăn cho các đối tượng được giao quyền sử dụng đất

III Phương hướng hoàn thiện chế định sở hữu toàn dân về đất đai

Ngày đăng: 19/06/2022, 16:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. “Hoàn thiện chế định sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam hiện nay”, TS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chế định sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam hiện nay
6. “Sở hữu toàn dân về đất đai là gì? Quan niệm sở hữu toàn dân về đất đai”, Th.S Đinh Thị Thùy Dung, đăng ngày 15/08/2021https://luatduonggia.vn/quan-niem-ve-so-huu-toan-dan-ve-dat-dai/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở hữu toàn dân về đất đai là gì? Quan niệm sở hữu toàn dân về đất đai
7. Bài viết “Chế độ sở hữu toàn dân” https://123docz.net/document/5164391-che-do-so-huu-toan-dan.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ sở hữu toàn dân
3. Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, Trường Đại học Mở Hà Nội, http://lms.moocs.ehou.edu.vn/pluginfile.php/2312/mod_resource/content/1/LDD. Text B2.pdf Link
1. Giáo trình Luật Đất đai, Trường Đại học Luật Hà Nôi, NXB.Công an Nhân dân, 2020 Khác
2. Luật Đất đai năm 2013 sửa đổi, bổ sung năm 2018 Khác
4. Cơ sở xây dựng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, Văn phòng luật sư Nguyễn Minh Trí Khác

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w