CƠ HỌC LƯỢNG TỬNguyễn Văn Khiêm... Bài 12 TRƯỜNG XUYÊN TÂM... Một trong những bài toán điển hình của cơ học, kể cả cổ điển lẫn lượng tử, là bài toán chuyển động trong trường xuyên tâm,vì
Trang 1CƠ HỌC LƯỢNG TỬ
Nguyễn Văn Khiêm
Trang 2Bài 12 TRƯỜNG XUYÊN TÂM
Trang 3Một trong những bài toán điển hình của cơ học, kể cả cổ điển lẫn lượng tử, là bài toán chuyển động trong trường xuyên tâm,vì hai trường lực quan trọng nhất đối với các bài toán thực
tế - điện trường và trường hấp dẫn - đều là trường như vậy
1.Hamiltonian của hạt trong trường xuyên tâm Phương trình
Trang 4Ta chuyển biểu thức của Hˆ
sang tọa độ cầu Muốn vậy, ta phải dùng đẳng thức quan trọng sau đây:
)
( 2
ˆ 2
ˆ
2
2 2
2
2
r
U r
M r
r r r
(12.3)
ψ ψ
ψ µ
ψ
M r
r r
2 2
Trang 52 Tính giao hoán giữa hamiltonian với các hình chiếu của moment và hệ quả.
Trước hết ta chứng tỏ Hˆ giao hoán với Mˆ z
đồng thời số hạng toán tử thứ nhất ở (12.2) chỉ tác dụng lên biến r
nên số hạng này giao hoán với Mˆ z
Điều này cũng đúng với số hạng thứ ba, tức là U(r) Còn số hạng
Trang 6Mặt khác, vì Hˆ giao hoán với Mˆ x, Mˆ y và Mˆ z
nên nó giao hoán với ˆ 2
Do đó, Hˆ giao hoán với Mˆ 2
Vì vậy, ta có thể tìm nghiệm của (12.3) sao cho nó cũng thoả mãn cả các phương trình:
và
Nhưng điều đó có nghĩa là ta chỉ cần tìm các nghiệm của phương trình:
(12.4)
ψ
ψ
ψ µ
ψ
l
l r
r r
(
2 2
2
2
Trang 71
2 2
dR r
1(
2
2 2
2
2
=
−+
dR r
dr
R
d
µ
Trang 8ở vế trái (12.8) cũng có thể viết thành:
đặt rR(r) = ρ(r); khi đó (12.8’) lại trở thành:
[ ( )] 0
2 )
1 (
1
2 3
2
2
=
− +
+
r r
l
l dr
2
2
=
− +
1
(
2 2
2
2
=
−+
d
Trang 9Ta sẽ giả thiết rằng U(r) tăng chậm hơn 12
2
) 1 (
− −
dr d
Như vậy, (12.10) trở thành:
α α
Trang 10Do đó R = r C l+1 > C r
Ta bỏ qua trường hợp này, vì các trường xuyên tâm có ý nghĩa vật
lý là đều tăng không nhanh hơn
r
C khi r → 0
Như vậy, ta phải lấy trường hợp α = l + 1, tức là R = C.r l Khi
đó, nếu l > 0 thì R(0) = 0 và nếu l = 0 thì R(0) ≠ 0 (nhưng hữu
hạn)
Trang 11Điều này mang một ý nghĩa tương tự như trong Cơ học cổ điển: nếu
l > 0 tức là moment động lượng khác không thì “cánh tay đòn” so
với gốc toạ độ bắt buộc phải khác không, tức là hạt không thể nào có
Bây giờ ta xét các giá trị r lớn
Khi đó, trong (12.9) có thể bỏ qua các số hạng chứa r 2 ở gần
mẫu, đồng thời bỏ qua số hạng U(r) vị ta sẽ coi như là U(r) → 0
khi r → +∞
Trang 12Như vậy dạng tiệm cận của (12.8) sẽ là :
Nghiệm tổng quát của phương trình này có dạng:
Xét trường hợp E > 0 Khi đó:
E
ir E
ir
e C e
0
2
2 2
d
(12.13)
E
r E
r
e C e
ρ = 1 − −2 + 2 + −2
(12.14)
R 1 1 2µ 2 2µ
Trang 13Dễ thấy rằng, mật độ xác suất để tìm thấy hạt ở khoảng cách r tính
từ gốc tọa độ không phải là
Mặt khác, do eiα = 1 với α là số thực, nên theo (12.14) thì R
dr r R
dùng để tính xác suất toàn phần là phân kỳ
Điều này tương ứng với phổ liên tục của năng lượng, và do đó nếu hạt
có năng lượng dương thì giá trị của năng lượng có thể có thể là tuỳ ý
Trang 14Bây giờ xét trường hợp E < 0
Khi đó 1 − 2µE
là một số thực
e C e
Trang 16Tóm tắt §12
Trang 18r lon E>0, E<0