Nghiên cứu thực hành GDSNTCSTMĐ hướng tới những kết quả sau: • Xây dựng thiết kế nghiên cứu chi tiết bao gồm phương pháp và đánh giá kết quả học tập của học sinh DTTS; • Các nhà hoạch đ
Trang 1NGHIÊN CỨU THỰC HÀNH GIÁO DỤC SONG NGỮ TRÊN CƠ SỞ TIẾNG MẸ ĐẺ:
HƯỚNG TỚI NỀN GIÁO DỤC CÓ CHẤT LƯỢNG VÀ BÌNH ĐẲNG.
Tại Việt Nam, giáo dục phổ thông tiếp tục được
cải thiện thông qua việc nâng cao các chỉ số tiếp
cận, đi học đều và hoàn thành bậc học Tuy nhiên,
sự chênh lệch về kết quả học tập vẫn còn tồn tại
với một vài nhóm có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt
trong số những người nghèo, vùng sâu vùng xa và
khá phổ biến trong nhóm người dân tộc thiểu số
(DTTS) Nhóm DTTS chiếm khoảng 13% tổng dân
số Tỷ lệ biết chữ của người DTTS là 90% trong
khi đó tỷ lệ này của người Kinh là 96%1
Bảng 1 cũng cho thấy sự khác biệt nổi bật trong
kết quả học tập giữa học sinh người Kinh và học
sinh DTTS ở Việt Nam trong môn Toán Chính phủ
đang tập trung vào việc đảm bảo cung cấp nền
giáo dục có chất lượng và phù hợp với học sinh
Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức giảng dạy trong
nhà trường nên học sinh DTTS phải đối mặt với
một trong những thách thức lớn là rào cản ngôn ngữ Điều này hạn chế việc tham gia đầy đủ của học sinh dân tộc trong quá trình học tập
Các bằng chứng quốc tế khẳng định Giáo dục song ngữ trên cơ sở tiếng mẹ đẻ (GDSNTCSTMĐ)
là phương pháp tiếp cận phù hợp hỗ trợ giáo dục dân tộc thiểu số Theo Ngân hàng Thế giới, học sinh được học tập bằng ngôn ngữ đầu tiên của mình (tiếng mẹ đẻ) sẽ đạt được kết quả học tập tốt hơn Với ngành giáo dục, phương pháp này sẽ tăng cường khả năng tiếp cận nền giáo dục có chất lượng và bình đẳng, cải thiện kết quả học
1 BỐI CẢNH
Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu
số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc…
Điều 7, Luật Giáo dục của Việt Nam, 2005
1 Báo cáo Việt Nam (2010), Báo cáo Quốc gia về việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ.
Cập nhật 03/2011
Bảng 1: Khoảng cách về kết quả học tập của học sinh lớp 5 ở môn Toán và tiếng Việt tính theo phần trăm
Tiếng Việt * Toán **
*Môn tiếng Việt: 23-40 = đạt chuẩn; 19-23 gần đạt chuẩn, 0-19 dưới chuẩn
**Môn Toán: 25-40 = đạt chuẩn; 20-25 gần đạt chuẩn; 0-20 dưới chuẩn
Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008)-Nghiên cứu kết quả học tập lớp 5 của học sinh môn Toán và tiếng Việt, năm học 2006-2007.
Trang 1
Trang 22.1 Mục tiêu chung và kết quả mong đợi:
Mục tiêu:
• Triển khai và khẳng định tính khả thi của thiết
kế giáo dục song ngữ trên cơ sở tiếng mẹ đẻ
ở mầm non4 và tiểu học;
• Góp phần xây dựng hoàn thiện và triển khai
chính sách, chia sẻ kinh nghiệm dạy và học
tốt cho học sinh dân tộc, nhằm thúc đẩy việc
sử dụng tiếng dân tộc như một giải pháp tăng
cường khả năng tiếp cận tới nền giáo dục cơ
bản có chất lượng và bình đẳng cũng như các
dịch vụ xã hội khác
Nghiên cứu thực hành GDSNTCSTMĐ hướng
tới những kết quả sau:
• Xây dựng thiết kế nghiên cứu chi tiết bao gồm
phương pháp và đánh giá kết quả học tập của
học sinh DTTS;
• Các nhà hoạch định chính sách, quản lý giáo
dục ở tất cả các cấp, giáo viên, hiệu trưởng,
học sinh và cộng đồng hiểu, ủng hộ và hỗ trợ
GDSNTCSTMĐ;
• Xây dựng tài liệu dạy và học, tài liệu tham
khảo, tài liệu truyền thông bằng tiếng dân tộc;
• Thực hiện chương trình bồi dưỡng cho giáo
viên thông qua bồi dưỡng chuyên môn thường
xuyên và hỗ trợ đào tạo chính quy;
• Các nhà quản lý giáo dục, giáo viên, trợ
giảng và thực tập sinh tại địa bàn Nghiên cứu
sẽ hiểu và biết cách áp dụng phương pháp GDSNTCSTMĐ vào việc quản lý nhà trường
và giảng dạy trên lớp;
• Thực hiện thành công mô hình GDSNTCSTMĐ tại các trường mầm non và tiểu học đã được lựa chọn và đánh giá được kết quả học tập của học sinh;
• Xây dựng một chính sách bền vững và phù hợp về giáo dục song ngữ và sử dụng tiếng DTTS
2 NGHIÊN CỨU THỰC HÀNH GDSNTCSTMĐ
Phương pháp tiếp cận GDSNTCSTMĐ:
• Từ mầm non đến lớp 1 và lớp 2: tiếng
DTTS (tiếng mẹ đẻ của học sinh) được dùng làm ngôn ngữ giảng dạy
• Từ lớp 3 đến lớp 5: tiếng Việt sẽ được
đưa vào cùng với tiếng mẹ đẻ làm ngôn ngữ giảng dạy
• Hết lớp 5, học sinh sẽ có khả năng nghe,
nói, đọc, viết bằng cả hai thứ tiếng, vượt qua rào cản về ngôn ngữ
tập, góp phần giảm tỷ lệ học sinh lưu ban và bỏ
học, mang lại lợi ích về văn hóa xã hội và chi phí
trong ngành giáo dục sẽ giảm đi một cách đáng kể
Việc sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ đảm bảo kiến thức,
kinh nghiệm học sinh mang đến trường được sử
dụng làm cơ sở cho việc tiếp tục học tập tiếp theo2
Việc áp dụng chương trình GDSNTCSTMĐ đối với
học sinh DTTS là giải pháp từng bước khắc phục
khoảng cách trong kết quả giáo dục giữa miền núi,
vùng DTTS với miền xuôi, vùng phát triển; đồng
thời, là phương thức đảm bảo nền giáo dục có chất
lượng, bình đẳng và hòa nhập cho tất cả mọi người
Để hỗ trợ học sinh DTTS ở Việt Nam được tiếp cận với cơ hội học tập có chất lượng, với sự hỗ trợ của UNICEF3 từ năm 2008 Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) đã và đang triển khai Nghiên cứu thực hành GDSNTCSTMĐ tại ba tỉnh - Lào Cai, Gia Lai
và Trà Vinh - với ba ngôn ngữ DTTS Mông, Jrai và Khmer Hiện nay đang là năm thứ 3 triển khai thực hiện Nghiên cứu này
2 Ngân hàng Thế giới (2005), Bằng Ngôn ngữ của mình Giáo dục cho mọi người.
Trang 3Trang 3
3.1 Những kết quả chung đạt được trong
giai đoạn 2008-2010 bao gồm:
• Xây dựng chương trình song ngữ cho mẫu
giáo 5 tuổi ở bậc mầm non và chương trình
song ngữ cấp tiểu học (lớp 1 đến lớp 5) với
sự tham gia của các chuyên gia giáo dục và trí
thức địa phương
• Xây dựng và in tài liệu dạy/học mầm non, lớp
1 và lớp 2 bằng cả ba ngôn ngữ Mông, Jrai và
Khmer
• Tập huấn cho 163 giáo viên mầm non, tiểu
học và cán bộ quản lý giáo dục của 3 tỉnh về
đọc, viết tiếng Mẹ đẻ
• Thường xuyên tổ chức các hội thảo, tập huấn
cho 149 giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục
nhằm nâng cao nhận thức về phương pháp
GDSNTCSTMĐ bao gồm bồi dưỡng thường
xuyên về phương pháp dạy học song ngữ,
phương pháp dạy học tích cực và sử dụng
nguyên vật liệu địa phương để tự làm đồ dùng
dạy học
• Để đảm bảo việc triển khai Nghiên cứu một
cách hiệu quả, 149 giáo viên và cán bộ quản
lý giáo dục từ trung ương, tỉnh, huyện của ngành giáo dục được tập huấn đào tạo về phương pháp, các nguyên tắc của Nghiên cứu thực hành về GDSNTCSTMĐ
Tỉnh Lào Cai với nhóm dân tộc Mông
• 5 lớp tại 3 trường mầm non
• 5 lớp tại 3 trường tiểu học Tổng số hai nhóm: 183 học sinh
Tỉnh Gia Lai với nhóm dân tộc Jrai
• 4 lớp tại 2 trường mầm non
• 4 lớp tại 3 trường tiểu học Tổng số hai nhóm: 175 học sinh
Tỉnh Trà Vinh với dân tộc Khmer
• 4 lớp tại 2 trường mầm non
• 5 lớp tại 2 trường tiểu học Tổng số hai nhóm: 178 học sinh
3 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG GIAI ĐOẠN 2008-2010:
2.2 Địa bàn:
Hai lứa học sinh tham gia vào Nghiên cứu thực hành là:
1 Lứa thứ nhất có 262 học sinh học tại 13 lớp mẫu giáo 5 tuổi ở 7 trường mầm non trong năm học 2008-2009, tiếp tục học tại
14 lớp 1 trong năm học 2009-2010 và hiện nay học tại 14 lớp 2 vào năm học 2010-2011
2 Lứa thứ hai có 274 học sinh học tại 13 lớp mẫu giáo 5 tuổi ở 7 trường mầm non trong năm học 2009-2010, tiếp tục học tại 14 lớp
1 ở 8 trường tiểu học vào năm học 2010-2011
Chương trình thử nghiệm GDSN sẽ hoàn thành vào năm học 2014 khi lứa học sinh thứ nhất học hết lớp 5; và vào năm 2015 với lứa học sinh thứ hai
Trang 43.2 Kết quả từ năm thứ hai triển khai
chương trình GDSNTCSTMĐ, năm học
2009-2010
3.2.1 Kết quả học lớp 1 của học sinh thuộc lứa
thứ nhất
Sau khi kết thúc năm học 2009-2010, học sinh
lớp 1 tại 3 tỉnh địa bàn của Nghiên cứu đã được
đánh giá qua ba môn học: tiếng Mẹ đẻ, tiếng Việt
và Toán Vụ Giáo dục Tiểu học đã tổ chức đánh
giá này một cách độc lập Học sinh đã được kiểm
tra nghe nói và viết môn tiếng Mẹ đẻ Với tiếng
Việt, do học sinh chưa học đọc và viết, nên học
sinh được kiểm tra nghe nói ở môn này Với môn
Toán, nhằm mục đích so sánh, toàn bộ học sinh
lớp 1 tham gia Nghiên cứu và một nhóm học sinh
lớp 1 không tham gia Nghiên cứu (lớp đại trà) ở
mỗi trường được đánh giá bằng cùng một bài kiểm
tra Vì chuẩn kiến thức kỹ năng của môn Toán
trong chương trình GDSN giống với chương trình
Quốc gia, nên việc đánh giá kết quả học tập của
học sinh trong môn Toán có ý nghĩa quan trọng
trong việc đánh giá hiệu quả của phương pháp
GDSNTCSTMĐ Bài kiểm tra Toán đánh giá năng
lực của trẻ trong các mạch kiến thức về số và phép
tính, các yếu tố hình học, kiến thức về đại lượng,
và giải toán có lời văn
Về ngôn ngữ, học sinh đã đạt được kết quả rất tốt trong cả hai môn tiếng Mẹ đẻ và tiếng Việt, với 89% học sinh đạt hoặc vượt chuẩn ở môn tiếng Việt và 85% đạt chuẩn về ngôn ngữ tiếng Mẹ đẻ
Về Toán, bảng 2 trình bày kết quả tổng hợp đánh giá học sinh tham gia trong chương trình GDSNTCSTMĐ từ ba tỉnh Kết quả cho thấy hầu như tất cả điểm số của học sinh tham gia trong chương trình GDSNTCSTMĐ đều bằng hoặc vượt chuẩn quy đinh (tổng hợp ở 3 cấp độ: giỏi, khá, trung bình) 68% học sinh tham gia trong chương trình GDSNTCSTMĐ đạt kết quả “giỏi” trong khi đó chỉ có 28% học sinh không tham gia chương trình GDSNTCSTMĐ đạt kết quả ở mức độ này Trong môn Toán, không có học sinh tham gia chương trình GDSNTCSTMĐ nào bị kết quả yếu trong khi
đó ở lớp đại trà có 10% học sinh bị kết quả yếu Những khác biệt rõ rệt trong kết quả học tập của học sinh ở hai nhóm cho thấy phương pháp tiếp cận GDSN là phương thức tốt để giúp học sinh học tập đạt kết quả cao hơn
Bảng 2: Kết quả đánh giá học sinh lớp 1 trong môn Toán
Kết quả đạt được Học sinh tham gia
CTGDSNTCSTMĐ Học sinh không tham gia CTGDSNTCSTMĐ
3.2.2 Kết quả mẫu giáo 5 tuổi của lứa thứ hai
Trẻ mẫu giáo 5 tuổi lứa thứ hai tham gia chương
trình GDSNTCSTMĐ được đánh giá về tiếng Mẹ đẻ
và tiếng Việt Nhằm mục đích so sánh kết quả giữa
học sinh tham gia chương trình GDSNTCSTMĐ và
lớp đại trà (lớp không tham gia chương trình Nghiên
cứu GDSNTCSTMĐ), đánh giá này được tổ chức
với một lớp mẫu giáo 5 tuổi đại trà tại mỗi trường
Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Dân tộc
(TTNC-GDDT) tổ chức thực hiện đánh giá này Đánh giá
này bao gồm kiểm tra nói của trẻ qua trao đổi cá
nhân và trong các hoạt động nhóm Trong môn tiếng
Mẹ đẻ, ba lĩnh vực đã được đánh giá: nghe hiểu,
hiểu biết các khái niệm và hiểu biết về từ trái nghĩa
• Trong lĩnh vực nghe hiểu, với thang điểm đánh giá là 20, trẻ tham gia vào Nghiên cứu thử nghiệm đạt được 16 điểm trong khi đó trẻ không tham gia vào Nghiên cứu đạt 13 điểm
• Trong lĩnh vực hiểu biết khái niệm trẻ tham gia vào Nghiên cứu đạt được 17 điểm trên thang điểm là 20, trong khi đó trẻ không tham gia vào Nghiên cứu chỉ đạt được 13 điểm
• Trong lĩnh vực hiểu biết về trái nghĩa, phát triển nhận thức môi trường tự nhiên và thể hiện qua ngôn ngữ, trẻ tham gia vào Nghiên cứu đạt được 16 điểm trên thang điểm là 20, trong khi đó trẻ không tham gia vào Nghiên cứu chỉ
Trang 5Các kết quả này hoàn toàn phù hợp với những kết
quả đã thu được với lứa trẻ thứ nhất trong năm học
2008-2009 mà theo đó, trẻ tham gia vào Nghiên
cứu có kết quả vượt trội so với trẻ không tham gia
Nghiên cứu trên tất cả các lĩnh vực đánh giá
Đối với tiếng Việt, trẻ tham gia vào Nghiên cứu và
trẻ không tham gia Nghiên cứu được đánh giá
trong năm lĩnh vực Như trong hình 1, trẻ tham gia
vào Nghiên cứu có kết quả tốt hơn đáng kể trong
tất cả các lĩnh vực đánh giá Trong lĩnh vực nghe
hiểu, trẻ em tham gia vào Nghiên cứu đạt được
17 trên thang điểm đánh giá là 20, trong khi đó trẻ
không tham gia vào Nghiên cứu đạt được 12 điểm
Những khác biệt rõ rệt cũng được nhận thấy trong
lĩnh vực thực hiện mệnh lệnh và sắp xếp tranh theo
chuyện kể, trong khi trẻ em tham gia chương trình
Nghiên cứu thực hiện được 14 và 13 điểm, thì trẻ
em lớp đại trà chỉ thực hiện được một cách tương
ứng là 9 và 8 điểm trong hai lĩnh vực này
Kết quả về khả năng tiếng Việt đồng nhất với kết
quả của lứa trẻ thứ nhất trong năm học 2008-2009
và cùng cho thấy rõ kết quả tích cực của phương
pháp này đối với kết quả học tập của học sinh
DTTS
3.2.3 Phản hồi từ các trường học và cộng đồng
địa phương về chương trình GDSNTCSTMĐ
Đã có nhiều phản hồi tích cực từ học sinh, giáo
viên, cán bộ quản lý giáo dục, các bậc cha
mẹ và cộng đồng địa phương về chương trình
GDSNTCSTMĐ trong suốt thời gian thực hiện 2008
- 2010 Tham gia vào chương trình GDSNTCSTMĐ
là cơ hội bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn nghiệp
vụ đối với giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục
Giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục cũng có phần tự tin hơn vào khả năng giảng dạy của mình
Về kết quả học tập của học sinh, giáo viên, hiệu trưởng và cán bộ quản lý giáo dục đã đánh giá và nhận xét rằng: học bằng tiếng Mẹ đẻ, học sinh rất
tự tin trong giao tiếp, hiểu và nắm bắt nhanh các khái niệm Các chuyên gia giáo dục cũng rất ấn tượng với khả năng tiếng Việt của học sinh tham gia chương trình GDSNTCSTMĐ Học sinh có kỹ năng tốt khi nghe hiểu, nói và vốn từ vựng vượt trội
so với học sinh đồng lứa không tham gia Nghiên cứu
Cha mẹ và cộng đồng rất hài lòng với kết quả học tập, khả năng đọc và nói tiếng Mẹ đẻ của con em mình, điều mà chính họ không có được trước đây
Cơ hội này cũng góp phần phát huy văn hóa và bản sắc địa phương thông qua việc sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ của học sinh Học sinh đã bày tỏ sự hào hứng, phấn khởi, tự tin khi tham gia các hoạt động ở trên lớp, trong tất cả các môn học cũng như các hoạt động của chương trình GDSNTCSTMĐ
Trang 5
Hình 1: Kết quả học tập môn tiếng Việt của trẻ mầm non: so sánh giữa nhóm học sinh tham gia
GDSNTCSTMĐ và nhóm không tham gia (điểm tối đa 20)
Trẻ em trong chương trình này luôn hào hứng cả trên lớp và ở nhà Các em tự tin hơn và có thể nói về những chủ đề khác nhau và hát những bài hát ở cả hai thứ tiếng Tôi hy vọng rằng dự
án này có thể tiếp tục được đến với tất cả trẻ em trong cả xã
“
Trang 63.2.4 Mở rộng chương trình GDSNTCSTMĐ
Cùng với những kết quả tích cực đạt được
sau 2 năm thực hiện nghiên cứu thử nghiệm
GDSNTCSTMĐ tại Lào Cai, Sở Giáo dục và Đào tạo
(Sở GD & ĐT) đã đưa kế hoạch triển khai mở rộng
mô hình GDSN vào trong kế hoạch phát triển giáo
dục đào tạo của tỉnh năm 2010 và các năm tiếp theo
Trong khi lứa thứ nhất và lứa thứ 2 chỉ có 5 lớp ở 3
huyện, thì năm học 2010 - 2011 Sở GD & ĐT Lào
Cai đã mở rộng lên 4 huyện (tăng thêm 1 huyện), với
tổng số 12 lớp và 214 học sinh
Từ năm 2011 đến năm 2015, mỗi năm học, một
nhóm mới gồm 210 trẻ 5 tuổi sẽ vào học tại các lớp
chương trình GDSNTCSTMĐ Vào cuối năm học
2015-2016 tỉnh Lào Cai sẽ có 1,300 học sinh học
chương trình GDSNTCSTMĐ tạị các trường mẫu
giáo, tiếp theo là ở cấp tiểu học, tạo ra một hình mẫu
cho các tỉnh khác học tập nhằm nâng cao kết quả
học tập của học sinh DTTS thông qua phương pháp
GDSNTCSTMĐ
Để thực hiện kế hoạch này, Sở GD & ĐT Lào Cai
ước tính cần 8 tỷ đồng (gần 205.000 USD) Cho đến
nay khoảng 50% ngân sách đã được đảm bảo cho
hoạt động này và lãnh đạo ngành giáo dục Lào Cai
đang tiếp tục nỗ lực tham mưu cho UBND tỉnh để
huy động và cân đối số tiền cần thiết còn lại
3.2.5 Vận động chính sách cùng Quốc hội
Hai sự kiện diễn ra trong tháng 11 năm 2010 nhằm
tăng cường sự ủng hộ và đồng thuận của Quốc hội
đối với chương trình GDSNTCSTMĐ:
• Một đoàn đại biểu Việt Nam gồm các quan chức
cấp cao của Hội đồng Dân tộc Quốc Hội, Ủy
ban Dân tộc và Bộ GD & ĐT đã tham gia Hội
thảo Quốc tế tại Bangkok về Ngôn ngữ, Giáo
dục và Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ Tại Hội
thảo các đại biểu đã chia sẻ kinh nghiệm GDSN
tại Việt Nam với các đại diện từ các nước khác
Các đại biểu tham gia hội thảo đánh giá cao sự
tham gia và báo cáo chia sẻ về GDSN ở Việt
Nam
• Tiếp theo việc đoàn Việt Nam tham gia Hội nghị quốc tế, kết quả và kinh nghiệm triển khai GDSNTCSTMĐ trong khuôn khổ hợp tác của
Bộ GD&ĐT - UNICEF đã được chia sẻ tại Hội nghị tọa đàm diễn ra tại Hà Nội vào dịp 20/11, với gần 100 đại biểu tham dự; trong đó có 5 Phó Chủ tịch thường trực và 22 đại biểu Quốc Hội
là thành viên của Hội đồng Dân tộc Quốc Hội,
15 cán bộ, chuyên viên cao cấp của Văn phòng Quốc Hội Tọa đàm này được tổ chức với sự phối hợp của Bộ GD&ĐT, hỗ trợ của UNICEF và
tổ chức cứu trợ trẻ em nhằm báo cáo với các đại biểu Hội đồng dân tộc Quốc Hội về vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục cho trẻ em dân tộc thiểu số thông qua các giải pháp tăng cường tiếng Việt và giáo dục song ngữ trên cơ sở tiếng
Mẹ đẻ Một kết quả quan trọng là tại tọa đàm này, các đại biểu đã cùng nhau khẳng định cơ hội để trẻ em dân tộc thiểu số học tốt nhất là thông qua ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, và cách tiếp cận GDSNTCSTMĐ là một phương thức tiếpcận hiệu quả giúp học sinh học tốt tiếng Việt Tọa đàm này cũng đã đi đến thống nhất rằng Quốc Hội sẽ thực hiện các hoạt động giám sát thường xuyên tại các tỉnh, các địa bàn thử nghiệm nhằm chia sẻ và khẳng định tính hiệu quả của Nghiên cứu
4 BÀI HỌC KINH NGHIỆM
• Sự hỗ trợ và tham gia của chính quyền địa phương các cấp, của trường học, giáo viên,
phụ huynh và học sinh đã góp phần vào sự thành công của Nghiên cứu
• Thúc đẩy và đa dạng các quan hệ đối tác:
tiếp tục nâng cao nhận thức ở tất cả các cấp, thúc đẩy việc đa dạng hóa các quan hệ đối tác trong ngành giáo dục và các ngành liên quan để bảo đảm thực hiện tốt Nghiên cứu
Tôi đã xem và đánh giá rất cao Chương trình
này Vụ Dân tộc nên chủ động theo dõi giúp
Thường trực Hội đồng dân tộc nắm bắt kịp thời và
đúng diễn biến triển vọng thực hiện thí điểm của
Chương trình
Ông Ksor Phước, Chủ tịch Hội Đồng dân tộc
“
”
Trang 7Trang 7
• Hỗ trợ nâng cao năng lực một cách có hệ
thống của các bên liên quan: Nâng cao
năng lực cho tất cả các cấp cần được thực
hiện liên tục để đảm bảo chất lượng triển khai
Nghiên cứu
• Bảo đảm chất lượng và sự phù hợp của tài
liệu dạy/học: Một trong những thách thức khi
triển khai Nghiên cứu là thiếu các chuyên gia
về ngôn ngữ DTTS Tuy nhiên, sự hỗ trợ của
cộng đồng, trí thức địa phương là công việc
cần thiết để đảm bảo việc xây dựng các tài
liệu luôn phản ánh những đặc thù văn hóa của
mỗi dân tộc
• Thường xuyên đánh giá kết quả học tập
của học sinh và kết quả của Nghiên cứu:
để thực hiện thành công Nghiên cứu, đánh
giá chính xác và thường xuyên là hoạt động
cần thiết nhằm xác định rõ kết quả và hạn chế
trong thiết kế và khi triển khai Nghiên cứu
5 NHỮNG BƯỚC TIẾP THEO
• Tiếp tục triển khai Nghiên cứu, tập trung vào
(a) Đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ
GV và CBQL giáo dục ở các địa phương, (b)
Xây dựng và điều chỉnh tài liệu, (c) Giám sát,
đánh giá và (d) Củng cố, tăng cường năng
lực triển khai, kiểm tra, giám sát các hoạt
động nghiên cứu ở các cấp: Trường, Huyện,
Tỉnh,Trung ương
• Điều chỉnh thiết kế của nghiên cứu để các
tỉnh và các tổ chức phát triển khác có thể
nhân rộng cách tiếp cận ở các địa bàn khác
Rà soát chi phí cũng đang được tiến hành
để thông báo cho các cơ quan liên quan các
yêu cầu về tài chính và vận động tăng nguồn
lực hỗ trợ phương pháp tiếp cận GDSN Sẽ
tiếp tục vận động nhân rộng phương pháp
tiếp cận này tại các địa bàn đang triển khai
Chương trình GDSNTCSTMĐ nhằm mở rộng
nhiều lớp và trường học theo mô hình này
Lào Cai, theo kế hoạch mở rộng của mình đã
tăng số lượng các lớp học mầm non tại nơi
các địa phương đang triển khai chương trình
GDSNTCSTMĐ từ năm (05) lớp lên mười
hai (12) lớp trong năm học 2010-2011 Kinh
nghiệm này sẽ được ghi lại và chia sẻ rộng
rãi
• Cơ chế đánh giá của Nghiên cứu thực hành
GDSNDTTMĐ sẽ được rà soát và điều chỉnh
để đảm bảo việc cung cấp những bằng chứng mang tính khoa học, có chất lượng cao về kết quả học tập của học sinh
• Tăng cường tuyên truyền vận động chính sách thông qua việc chia sẻ, cập nhật kiến
thức, kinh nghiệm với các đối tác chiến lược
và cơ quan pháp luật, bao gồm Quốc hội, Uỷ ban Dân tộc, Bộ GD & ĐT để thúc đẩy và mở rộng quy mô chương trình GDSNTCSTMĐ Các hoạt động cụ thể bao gồm:
○ Bộ GD&ĐT, Hội đồng Dân tộc Quốc Hội,
Ủy ban Dân tộc tiếp tục đẩy mạnh việc giám sát các hoạt động tại cơ sở,các trường triển khai Nghiên cứu nhằm tăng cường sự đồng thuận và ủng hộ cho phương pháp tiếp cận này;
○ Kinh nghiệm và bài học kinh nghiệm của UNICEF và các đối tác phát triển khác tại Việt Nam sẽ được chia sẻ rộng rãi tại các cấp; cũng như kinh nghiệm của các nước
về GDSNTCSTMĐ cũng được chia sẻ với Việt Nam nhằm tăng cường sự hỗ trợ với GDSNTCSTMĐ
○ Tạo điều kiện cho các chuyến thăm quan của cán bộ Bộ Giáo dục và Chính phủ từ các nước khác trong khu vực tới thăm quan trao đổi việc thực hiện phương pháp GDSNTCSTMĐ tại các địa bàn Nghiên cứu trong năm học 2011 để chia
sẻ kinh nghiệm về GDSN
Cháu thích đi học vì khi đến trường cháu được học tiếng Mông, cháu có thể hát cả tiếng Mông và tiếng Việt Đến trường rất vui và học được nhiều Cháu muốn trở thành thầy giáo như thầy giáo Tầu Khi lớn cháu có thể dạy các em bé tiếng Mông.
Lò A Măng học sinh lớp 2 song ngữ trường Lao Chải, tỉnh Lào Cai. ”
“
Trang 8UNICEF Việt Nam
Đc: 81A - Trần Quốc Toản, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Đt: +844-3942.5706 - 11 | Fax: +844-3942.5705
Email: hanoi.registry@unicef.org
Tư liệu ảnh:
Trang 1: © UNICEF Việt Nam\2007\Đoàn Bảo Châu
Trang 2, 6: © UNICEF Việt Nam\2011\Trương Việt Hùng