Trang 1 thảo luận nhận định Trang 2 thảo luận bài tập Thảo luận nhận định 1 Tiền đề cho sự xuất hiện hoạt động ngân hàng là hoạt động gửi giữ tiền 2 Hệ thống ngân hàng hai cấp là hệ thống ngân hàng, t.
Trang 1Trang 1 thảo luận nhận định
Trang 2 thảo luận bài tập
Thảo luận nhận định
1 Tiền đề cho sự xuất hiện hoạt động ngân hàng là hoạt động gửi giữ tiền.
2 Hệ thống ngân hàng hai cấp là hệ thống ngân hàng, trong đó các ngân hàng vừa phát hành tiền vừa thực hiện hoạt động kinh doanh.
3 Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có điều kiện.
4 Ngân hàng nhà nước Việt Nam được phép kinh doanh tiền tệ
5 Nguồn của luật ngân hàng là các văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành
6 Đối tượng điều chỉnh của luật ngân hàng có thể là đối tượng điều chỉnh của các ngành luật khác.
Trang 2BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
1 Tình huống 1
A (Đài Loan) muốn thành lập doanh nghiệp tại VN với hoạt động kinh doanh chính là đại lý ký gởi hàng hóa, đại lý bán vé máy bay, và kinh doanh lữ hành nội địa Để thuận tiện cho việc cấp GCNĐKKD, A quyết định cho anh B (1.000.000.000 VND theo Hợp đồng vay số 01) và chị C (1.000.000.000 VND theo Hợp đồng vay số 02) vay, thay mặt mình quản lý vốn và đứng tên trên GCNĐKKD Sau đó, anh B và chị C đã tiến hành các thủ tục thành lập công ty TNHH D, gồm 2 thành viên là anh B và chị C, mỗi người sở hữu 50% vốn điều lệ (2.000.000.000 VNĐ)
Hỏi: Từ những dự kiện nêu trên, anh (chị) hãy cho biết hoạt động này có phải là hoạt động ngân hàng? Giải thích tại sao?
2 Tình huống 2
Ông A, bà B và cô C cùng nhau góp vốn thành lập công ty TNHH D Ngoài hoạt động chính trong lĩnh vực xây dựng, Công ty TNHH D còn thường xuyên nhận tiền gửi từ các thành viên (A, B, và C) và người thân trong gia đình của các thành viên (A, B, và C) để cho vay kiếm lời
Hỏi: Từ những dự kiện nêu trên, anh (chị) hãy cho biết hoạt động này có phải là hoạt động ngân hàng? Giải thích tại sao?
3 Tình huống 3
Công ty TNHH D được thành lập và hoạt động theo đúng pháp luật và có nhu cầu vay 1.000.000.000 VND để đầu tư sản xuất Sau khi xét hồ sơ đề nghị vay, Ngân hàng TMCP A quyết định cấp tín dụng cho Công ty TNHH D theo Hợp đồng tín dụng, có nội dung sau: khoản vay 1 tỷ VND, với thời hạn vay 06 tháng, và lãi suất 1,5%/tháng
Hỏi: Từ những dự kiện nêu trên, anh (chị) hãy cho biết hoạt động này có phải là hoạt động ngân hàng? Giải thích tại sao?
4 Tình huống 4
Công ty A (được thành lập theo pháp luật Hàn Quốc) muốn cung cấp một dịch vụ thanh toán tiêu dùng ưu việt bằng cách mở tài khoản cho toàn thể nhân viên của Công ty A, sau đó Công ty A sẽ cấp cho mỗi nhân viên 1 thẻ thanh toán Với thẻ thanh toán này, người lao động được quyền mua hàng hóa, dịch vụ ở bất cứ nơi đâu
có liên kết với Công ty A với số tiền thanh toán vượt gấp 3 lần lương cơ bản hằng tháng của chủ tài khoản Giá trị thanh toán vượt đó được tính theo lãi suất cơ bản
do NHNNVN công bố.
Mục đích của Công ty A là không mong muốn thành lập ngân hàng ở Việt Nam vì những điều kiện pháp lý (như: vốn, người điều hành…) Hơn nữa, A không
có ý định tham gia vào toàn bộ các hoạt động như một ngân hàng tại Việt Nam.
Trang 3Hỏi: Nếu là luật sư tư vấn cho Công ty A, anh (chị) sẽ tư vấn cho khách hàng của mình như thế nào?
Trang 4BÀI THẢO LUẬN LẦN 1 MÔN: LUẬT NGÂN HÀNG
1 Tiền đề cho sự xuất hiện hoạt động ngân hàng là hoạt động gửi giữ tiền.
Trả lời:
Nhận định: Sai
Giải thích:
Các hoạt động ngân hàng chỉ xuất hiện khi hội đủ các yếu tố như sau:
+ Có sự phân công lao động trong xã hội và cải tiến phương thức sản xuất và công cụ lao động, khi đó của cải trong xã hội làm ra có dư thừa và tích lũy, song tích lũy không dưới hình thức hiện vật mà dưới dạng tiền tệ
+ Sự xuất hiện của tiền tệ Khi đó tiền tệ đóng vai trò là trung gian trao đổi trong nền kinh tế và là công cụ tích lũy của cãi dư thừa để dành Xuất hiện một nhóm người chuyện nhận giữ hộ tiền dư thừa của dân chúng
+ Nhu cầu sử dụng vốn tiền tệ vào mục đích người tiêu dùng, đầu tư Xuất hiện một nhóm người cần tiền, phải đi vay, mượn để đầu tư, tiêu dùng
Như vậy, chỉ khi hội tụ đầy đủ 04 yếu tố như trên thì mới xuất hiện hoạt động ngân hàng
2 Hệ thống ngân hàng hai cấp là hệ thống ngân hàng, trong đó các ngân hàng vừa phát hành tiền vừa thực hiện hoạt động kinh doanh.
Trả lời:
Nhận định: Sai
Giải thích:
Hệ thống ngân hàng hai cấp là hệ thống ngân hàng mà trong đó được chia làm hai nhóm:
+ Ngân hàng trung ương: là ngân hàng được độc quyền phát hành tiền (khoản 8 Điều 4 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam)
+ Các ngân hàng thương mại: không được phát hành tiền mà chỉ được thực hiện hoạt động trung gian tín dụng và trung gian thanh toán trong nền kinh tế Hoạt động theo
sự điều tiết của ngân hàng trung ương Bổ sung thêm Điều 6 LNHNNVN
Như vậy, không phải ngân hàng hai cấp là hệ thống ngân hàng mà trong đó các ngân hàng vừa phát hành tiền vừa thực hiện hoạt động kinh doanh mà chỉ có ngân hàng trung ương mới được quyền phát hành tiền
Hệ thống ngân hàng vừa phát hành tiền vừa thực hiện hoạt động kinh doanh là hệ thống ngân hàng 1 cấp.
Trang 53 Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có điều kiện.
Trả lời:
Nhận định: Đúng
Xuất phát từ chức năng, vị trí, vai trò của các tổ chức tín dụng trong nền kinh tế nói riêng và trong lĩnh vực đời sống xã hội nói chung
Mặt khác, đây là hoạt động có yêu cầu về vốn pháp định, các tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động huy động vốn và cung cấp các dịch vụ thanh toán qua tài khoản cho khách hàng, do vậy mà tổ chức tín dụng thường là các con nợ lớn nhất trong nền kinh tế, chứa đựng nhiều rủi ro Vì vậy mà khi gia nhập thị trường thì hoạt động ngân hàng phải thỏa mãn các điều kiện luật định cũng như phải thực hiện thủ tục xin giấy phép kinh doanh để
có thể thực hiện hoạt động kinh doanh
Theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết luật thương mại về hàng hóa và dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện thì kinh doanh tiền tệ và cung ứng dịch vụ ngành hàng thuộc nhóm lĩnh vực ngành nghề kinh doanh có điều kiện
Như vậy, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có điều kiện
4 Ngân hàng nhà nước Việt Nam được phép kinh doanh tiền tệ
Trả lời:
Nhận định: Sai
Giải thích:
Cơ sở pháp lý: Khoản 3 Điều 2 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam thì Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối, thực hiện chức năng của Ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ
Như vậy Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam không được phép kinh doanh tiền
tệ mà sẽ thực hiện 2 chức năng: chức năng quản lý và chức năng của Ngân hàng trung ương
Nhận định Đúng
Điều 33, Điều 34 Luật NHNNVN
- Phân biệt hoạt động kinh doanh tiền tệ với hoạt động ngân hàng?
Hoạt động ngân hàng bao gồm 3 nhóm:
a) Nhận tiền gửi;
b) Cấp tín dụng;
c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.”
Trang 65 Nguồn của luật ngân hàng là các văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành
Trả lời:
Nhận định: Sai
Giải thích:
Bởi ngoài các VBQPPL do nhà nước ban hành còn có thể là những quyết định pháp luật, quy tắc ứng xử, tập quán quốc tế, hiệp định, thông lê công ước quốc tế mà được Việt Nam thừa nhận hoặc tự nguyện áp dụng theo
6 Đối tượng điều chỉnh của luật ngân hàng có thể là đối tượng điều chỉnh của các ngành luật khác.
Trả lời:
Nhận định: Đúng
Giải thích: khoản 3 Điều 32 Văn bản hợp nhất Quốc hội
Trong các quan hệ xã hội phát sinh trong tổ chức, quản trị, điều hành của ngân hàng nhà nước Việt Nam; về trình tự thủ tục hoạt động giải thể kinh doanh, điều hành, cơ cấu tổ chức của các tổ chức tín dụng, chi nhánh của tổ chức tín dụng … các quan hệ này không những chịu sự điều chỉnh của luật ngân hàng mà còn có sự điều chỉnh của các ngành luật khác như luật dân sự, luật thương mại, luật doanh nghiệp, luật phá sản, luật đầu tư
Cho ví dụ:
- A cho B vay được Ngân hàng bảo lãnh hợp đồng cho vay đó
- Trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp, hoặc thành lập ngoài thực hiện theo điều kiện pháp luật chuyên ngành quy định thì doanh nghiệp đó cũng cần phải tuân theo pháp luật ngân hàng về phá sản,…
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
1 Tình huống 1
A (Đài Loan) muốn thành lập doanh nghiệp tại VN với hoạt động kinh doanh chính là đại lý ký gởi hàng hóa, đại lý bán vé máy bay, và kinh doanh lữ hành nội địa Để thuận tiện cho việc cấp GCNĐKKD, A quyết định cho anh B (1.000.000.000 VND theo Hợp đồng vay số 01) và chị C (1.000.000.000 VND theo Hợp đồng vay số 02) vay, thay mặt mình quản lý vốn và đứng tên trên GCNĐKKD Sau đó, anh B và chị C đã tiến hành các thủ tục thành lập công ty TNHH D, gồm 2 thành viên là anh B và chị C, mỗi người sở hữu 50% vốn điều lệ (2.000.000.000 VNĐ)
Hỏi: Từ những dự kiện nêu trên, anh (chị) hãy cho biết hoạt động này có phải là hoạt động ngân hàng? Giải thích tại sao?
Trang 7Trả lời:
Đây không phải là hoạt động ngân hàng Căn cứ theo khoản 1 Điều 6 Luật NHNN 2010 quy định:
“1 Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây:
a) Nhận tiền gửi;
b) Cấp tín dụng;
c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.”
Trong tình huống trên không đáp ứng đủ các điều kiện để hoạt động trên là hoạt động ngân hàng A đã cho anh B và chị C vay số tiền 1.000.000, đây là hoạt động cho vay thuộc hoạt động ngân hàng Tuy nhiên, việc cho vay này không đáp ứng yếu tố thường xuyên, liên tục mà chỉ là cho vay để thuận tiện cho việc cấp Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh
Do đó, hoạt động trên không phải là hoạt động ngân hàng
2 Tình huống 2
Ông A, bà B và cô C cùng nhau góp vốn thành lập công ty TNHH D Ngoài hoạt động chính trong lĩnh vực xây dựng, Công ty TNHH D còn thường xuyên nhận tiền gửi từ các thành viên (A, B, và C) và người thân trong gia đình của các thành viên (A, B, và C) để cho vay kiếm lời
Hỏi: Từ những dự kiện nêu trên, anh (chị) hãy cho biết hoạt động này có phải là hoạt động ngân hàng? Giải thích tại sao?
Trả lời:
Đây không phải là hoạt động ngân hàng Căn cứ theo khoản 1 Điều 6 Luật NHNN 2010 quy định:
“1 Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây:
a) Nhận tiền gửi;
b) Cấp tín dụng;
c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.”
Mặc dù, công ty TNHH D thường xuyên nhận tiền gửi để cho vay kiếm lời đáp ứng nội dung hoạt động và yếu tố thường xuyên của hoạt động ngân hàng Tuy nhiên, về bản chất của hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh, là hoạt động chính để sinh lợi nhuận của Công ty D thì không đáp ứng điều kiện này Vì hoạt động kinh doanh chính của Công ty D là trong lĩnh vực xây dựng chứ hoạt động nhận tiền gửi từ các thành viên
và người thân trong gia đình của các thành viên để cho vay kiếm lời không phải hoạt động kinh doanh chính để kiếm lợi nhuận nên không đảm bảo bản chất tính kinh doanh của hoạt động ngân hàng
Trang 8Vì vậy, hoạt động của Công ty TNHH D không phải là hoạt động ngân hàng.
3 Tình huống 3
Công ty TNHH D được thành lập và hoạt động theo đúng pháp luật và có nhu cầu vay 1.000.000.000 VND để đầu tư sản xuất Sau khi xét hồ sơ đề nghị vay, Ngân hàng TMCP A quyết định cấp tín dụng cho Công ty TNHH D theo Hợp đồng tín dụng, có nội dung sau: khoản vay 1 tỷ VND, với thời hạn vay 06 tháng, và lãi suất 1,5%/tháng
Hỏi: Từ những dự kiện nêu trên, anh (chị) hãy cho biết hoạt động này có phải là hoạt động ngân hàng? Giải thích tại sao?
Trả lời:
Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010
“2 Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”.
Như đã xác định ở trên, Ngân hàng TMCP A là một tổ chức tín dụng hoạt động dựa theo tính chất và mục tiêu hoạt động ngân hàng, được xem là ngân hàng Do đó, Ngân hàng TMCP A có thể thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, trên cơ sở quy định tại khoản 12 Điều 4 Luật này thì
hoạt động ngân hàng là:
“12 Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây:
a) Nhận tiền gửi;
b) Cấp tín dụng;
c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.”
Theo đó, việc Ngân hàng TMCP A quyết định cấp tín dụng cho Công ty TNHH
D theo Hợp đồng tín dụng, có nội dung sau: khoản vay 1 tỷ VND, với thời hạn vay 06 tháng, và lãi suất 1,5%/tháng chính là việc Ngân hàng này đang thực hiện hoạt động ngân hàng (điểm b khoản 12 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010)
Hoạt động cấp tín dụng căn cứ theo khoản 14 Điều 4 Luật tổ chức tín dụng năm
2010 thì hoạt động cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác
Đây là hoạt động chủ yếu của ngân hàng, việc cấp tín dụng cho một tổ chức hay
cá nhân được phép sử dụng được hiểu như một giao kết qua lại giữa các bên khách hàng
và ngân hàng đó
Trang 94 Tình huống 4
Công ty A (được thành lập theo pháp luật Hàn Quốc) muốn cung cấp một dịch vụ thanh toán tiêu dùng ưu việt bằng cách mở tài khoản cho toàn thể nhân viên của Công ty A, sau đó Công ty A sẽ cấp cho mỗi nhân viên 1 thẻ thanh toán Với thẻ thanh toán này, người lao động được quyền mua hàng hóa, dịch vụ ở bất cứ nơi đâu
có liên kết với Công ty A với số tiền thanh toán vượt gấp 3 lần lương cơ bản hằng tháng của chủ tài khoản Giá trị thanh toán vượt đó được tính theo lãi suất cơ bản
do NHNNVN công bố.
Mục đích của Công ty A là không mong muốn thành lập ngân hàng ở Việt Nam vì những điều kiện pháp lý (như: vốn, người điều hành…) Hơn nữa, A không
có ý định tham gia vào toàn bộ các hoạt động như một ngân hàng tại Việt Nam.
Hỏi: Nếu là luật sư tư vấn cho Công ty A, anh (chị) sẽ tư vấn cho khách hàng của mình như thế nào?
Trả lời:
Hoạt động trên của công ty A không là hoạt động động ngân hàng
Thứ nhất, có thể thấy được rằng công ty A có lĩnh hoạt động chính không phải là hoạt động ngân hàng Vì để thực hiện hoạt động ngân hàng bao gồm hoạt động nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản thì đều phải có giấy phép thành lập mà Công ty A lại không mong muốn thành lập ngân hàng ở Việt Nam Mặt khác, dịch vụ trên chỉ áp dụng cho nhân viên của công ty A Do đó không đáp ứng được yếu tố thường xuyên và yếu tố là hoạt động kinh doanh
Thứ hai, hoạt động cung cấp dịch vụ thanh toán nói trên có nét tương tự với hoạt động cấp tín dụng Hoạt động này là một hoạt động nghiệp vụ đòi phải được cấp phép và công ty A không đáp ứng được điều kiện này
Hoạt động cung cấp dịch vụ mà công ty A muốn thực hiện ở trên có thể hiểu là họat động cung cấp thẻ tín dụng (thẻ cho phép tiêu trước, trả sau) Trong trường hợp này, công ty A có thể lập một tài khoản thẻ tín dụng đứng tên công ty A tại một ngân hàng và các thẻ phụ để phát cho nhân viên, trong đó có thể quy định hạn mức tín dụng
Bên cạnh đó, công ty A có thể lập một tài khoản thanh toán tại ngân hàng và các thẻ phụ cho nhân viên của công ty A Công ty A tiến hành ấn định hạn mức giao dịch và lãi suất hay thời hạn thanh toán khoản tiền đến hạn sẽ do công ty A tự chủ trì
5 Tình huống 5
A là một tập đoàn chuyên cung cấp các dịch vụ ngân hàng trên toàn cầu thông qua các công ty con và chi nhánh tại mỗi quốc gia A đã có hiện diện thương mại tại Việt Nam là ngân hàng TNHH B (ngân hàng 100% vốn nước ngoài) có trụ
sở tại Thành phố Hồ Chí Minh Hiện tại, A đang có ý định xây dựng một Hệ thống quản lý quan hệ khách hàng (Customer Relationship Management System, gọi tắt
"CRM") nhằm mục đích quản lý thông tin khách hàng là các doanh nghiệp (không
Trang 10phải là khách hàng cá nhân) trên toàn cầu Tuy nhiên, những thông tin của các khách hàng doanh nghiệp vẫn có thể bao gồm cả các thông tin cá nhân, ví dụ như: thông tin về người đại diện theo pháp luật, giám đốc, người bảo lãnh của doanh nghiệp Hệ thống CRM dự kiến được đặt tại trụ sở chính của A tại Nhật Bản, sẽ tiếp nhận thông tin từ các công ty con (là các ngân hàng) tại các quốc gia, và sau đó, các thông tin này sẽ được chia sẻ cho các công ty con khác (cũng là các ngân hàng) tại các quốc gia khác trong hệ thống quản lý của A.
Hỏi: Nếu là luật sư tư vấn cho Công ty A, anh (chị) sẽ tư vấn cho khách hàng của mình như thế nào?
Khi quyết định thành lập hệ thống quản lý quan hệ khách hàng công ty A cần lưu
ý về việc bảo vệ thông tin khách hàng Bởi, căn cứ khoản 1, 2 Điều 35 BLDS 2015 và Điều 6 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 thì việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, tổ chức phải được cá nhân, tổ chức đồng ý Ngoài ra, Điều 38 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt nam 2010 và Điều 14 Luật các tổ chức tín dụng 2010 đều có quy định về nghĩa vụ bảo vệ bí mật bí mật thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi và các giao dịch của khách hàng
Về nguyên tắc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng, Nghị định 117/2018/NĐ-CP quy định về việc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức
tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng nêu rõ: “Thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải được giữ bí mật và chỉ được cung cấp theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nghị định này và pháp luật có liên quan”.
Hơn nữa, công ty A phải căn cứ quy định của pháp luật ban hành quy định nội bộ
về giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin khách hàng và tổ chức thực hiện thống nhất trong tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Quy định nội bộ về giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin khách hàng phải bao gồm tối thiểu các nội dung sau đây:
(1) Quy trình, thủ tục tiếp nhận, xử lý và cung cấp thông tin khách hàng; quy trình, thủ tục lưu trữ, bảo vệ bí mật thông tin khách hàng;
(2) Việc giám sát, kiểm tra và xử lý vi phạm quy định nội bộ về giữ bí mật, lưu trữ, cung cấp thông tin khách hàng;
(3) Phân cấp thẩm quyền, quyền hạn, nghĩa vụ của các đơn vị, cá nhân trong việc giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin khách hàng
Như vậy, khi công ty A có ý định xây dựng một hệ thống quản lý quan hệ khách hàng thì thông tin khách hàng của công ty A cũng như các công ty con tại các quốc gia khác trong hệ thống quản lý của công ty A phải được bảo mật tuyệt đối, trừ các trường hợp pháp luật quy định được phép cung cấp Bảo mật thông tin của khách hàng là trách nhiệm của các tổ chức tín dụng, các chi nhánh ngân hàng, các cơ quan, tổ chức này không được tự ý tiết lộ thông tin khách hàng ra bên ngoài hay thực hiện bất kì hành vi bất chính nào như việc trục lợi, sử dụng trái phép, mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa thông tin đó Theo đó, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010