Nguyên tắc “sử dụng hợp lý” (“fair use”) là gì? Tìm hiểu quy định của pháp luật nước ngoài về vấn đề này và so sánh với các quy định hiện hành của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam.Nguyên tắc “sử dụng hợp lý” (“fair use”):Nguyên tắc sử dụng hợp lý (fair use) là một nguyên tắc cơ bản trong việc bảo hộ các sản phẩm sở hữu trí tuệ. Đây là nguyên tắc cho phép sử dụng một cách có giới hạn tác phẩm của người khác đã công bố nhưng không phải xin phép trong một số trường hợp nhất định. Tuy nhiên, phải đảm bảo rằng người sử dụng đó không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.
Trang 1KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
BUỔI THẢO LUẬN THỨ HAI QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN QUAN
ĐẾN QUYỀN TÁC GIẢ
Bộ môn: Luật sở hữu trí tuệ
Nhóm: 05
Trang 2MỤC LỤC
A NỘI DUNG THẢO LUẬN TẠI LỚP: 1
A.1 Lý thuyết: 1
1 Nguyên tắc “sử dụng hợp lý” (“fair use”) là gì? Tìm hiểu quy định của pháp luật nước ngoài về vấn đề này và so sánh với các quy định hiện hành của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 1
2 Có mấy hình thức chuyển giao quyền tác giả? Phân biệt các hình thức này 5
3 Phân tích mối liên hệ giữa quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả 5
A.2 Bài tập: 6
1 Nghiên cứu tranh chấp quyền tác giả trong vụ việc Truyện tranh Thần Đồng Đất Việt và đánh giá các vấn đề pháp lý sau: 6
2 Nghiên cứu Bản án số 213/2014/DS-ST của Tòa án nhân dân quận Tân
Bình ngày 14/8/2014 và trả lời các câu hỏi sau: 8
B Phần Câu hỏi sinh viên tự làm (có nộp bài) và KHÔNG thảo luận trên lớp:.10
So sánh các quy định về bảo hộ quyền tác giả trong Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành và Hiệp định EVFTA Cho biết những nội dung nào của Luật
Sở hữu trí tuệ Việt Nam chưa tương thích với Hiệp định EVFTA 10
Trang 3A NỘI DUNG THẢO LUẬN TẠI LỚP:
A.1 Lý thuyết:
1 Nguyên tắc “sử dụng hợp lý” (“fair use”) là gì? Tìm hiểu quy định của pháp luật nước ngoài về vấn đề này và so sánh với các quy định hiện hành của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam.
Nguyên tắc “sử dụng hợp lý” (“fair use”):
Nguyên tắc sử dụng hợp lý (fair use) là một nguyên tắc cơ bản trong việc bảo hộ các sản phẩm sở hữu trí tuệ Đây là nguyên tắc cho phép sử dụng một cách có giới hạn tác phẩm của người khác đã công bố nhưng không phải xin phép trong một số trường hợp nhất định Tuy nhiên, phải đảm bảo rằng người sử dụng đó không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm
Nguyên tắc Fair use cho phép sử dụng tư liệu với các hình thức sau:
- Trích dẫn tác phẩm với mục đích minh họa hoặc bình luận
- Sử dụng tư liệu cho mục đích phóng sự: Ví dụ, tóm tắt ý chính từ một bài diễn văn hay một bài báo sử dụng cho các phóng sự
- Sử dụng với mục đích nghiên cứu: Ví dụ, trích dẫn một đoạn ngắn từ một tác phẩm chuyên môn để minh họa hay làm rõ lại quan điểm của tác giả
- Sử dụng cho mục đích giáo dục phi lợi nhuận: Ví dụ, sao chép một phần giới hạn tác phẩm được viết bởi giáo viên để sử dụng việc giảng dạy
- Nhắc lại không làm thay đổi nội dung: Ví dụ như việc hát lại một bài hát
Nhìn chung ngoài những trường hợp kể trên, việc sao chép đều không phải hình thức “fair-use” đúng luật và được coi là hành động vi phạm bản quyền
Quy định của pháp luật nước ngoài:
- Pháp luật Hoa Kỳ:
+ Tại Điều 107 Luật bản quyền Hoa Kỳ quy định: “Sử dụng hợp lý” là sử dụng được phép một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm các hình thức sử dụng thông qua hình thức sao chép dưới dạng bản sao hoặc bản ghi hoặc bởi bất kỳ một phương thức nào cho mục đích bình luận, phê bình, đưa tin hoặc giảng dạy (bao hàm
1
Trang 4cả việc sử dụng nhiều bản sao cho lớp học), nghiên cứu, học tập là không vi phạm quyền tác giả
+ Việc sử dụng hợp lý được xem xét với 4 yếu tố:
(1) Mục đích và đặc điểm của việc sử dụng, bao gồm việc sử dụng đó có tính chất thương mại không hay là chỉ nhằm mục đích giáo dục phi lợi nhuận;
(2) Bản chất của tác phẩm được bảo hộ;
(3) Số lượng và thực chất của phần được sử dụng trong tác phẩm được bảo hộ như
là một tổng thể;
(4) Vấn đề ảnh hưởng của việc sử dụng đó đối với tiềm năng thị trường hoặc đối với giá trị của tác phẩm được bảo hộ”
- Pháp luật Thụy Điển:
Tại Chương 2 Luật Quyền tác giả tác phẩm văn học và nghệ thuật năm 1960 (sửa đổi,
bổ sung năm 2000) về Giới hạn quyền tác giả, cụ thể là các trường hợp:
+ Sao chép nhằm mục đích sử dụng cá nhân (Điều 12);
+ Sao chép trong hoạt động giáo dục (Điều 13 và Điều 14);
+ Sao chép phục vụ các hoạt động trong bệnh viện (Điều 15);
+ Sao chép trong cơ quan lưu trữ và thư viện (Điều 16);
+ Sao chép dành cho những người khiếm thị (Điều 17);
+ Tác phẩm hỗn hợp sử dụng trong hoạt động giảng dạy (Điều 18);
+ Phân phối bản sao (Điều 19);
+ Trưng bày bản sao (Điều 20);
+ Biểu diễn công cộng (Điều 21),
- Pháp luật Nhật Bản:
Luật quyền tác giả (luật số 48, ngày 6 tháng 5 năm 1970, sửa đổi năm 2013) của Nhật Bản quy định tại các điều:
+ Sao chép cho mục đích cá nhân (Điều 30);
+ Sử dụng trong quá trình kiểm chứng (Điều 30.3);
Trang 5+ Sử dụng để thí nghiệm nghiên cứu phát triển công nghệ hoặc ứng dụng thực tiễn (Điều 30.4);
+ Sao chép khi ra đề thi (Điều 36)…
So sánh quy định về “fair use” của các pháp luật nước ngoài với các quy định hiện hành của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam1:
Điểm giống:
+ Thường không quy định mức độ cụ thể (con số, số phần trăm, ) như thế nào là sử dụng hợp lí
+ Được sử dụng tác phẩm đã được pháp luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả không cần
sự cho phép của tác giả/chủ sở hữu
+ Vấn đề “sử dụng hợp lí” đều không có tiêu chí cụ thể, rõ ràng để xác định mà đa số
sẽ dựa vào Tòa án xem xét trong các trường hợp cụ thể mà giải thích
Ví dụ: Tại Bản án 127/2007/DS-PT Tòa phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội, cùng một hành vi trích dẫn toàn bộ 4 tác phẩm văn học nhưng Tòa án cấp sơ thẩm cho có vi phạm quyền tác giả còn Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng không vi phạm quyền tác giả + Không phải là hành vi xâm phạm quyền tác giả
+ Ngoài Hoa Kỳ thì một số quốc gia xác định việc sử dụng hợp lý được liệt kê giống như Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, cụ thể như Luật Quyền tác giả của Nhật Bản từ Điều 30 đến Điều 50 hay từ Điều 11 đến Điều 26 Luật Quyền tác giả tác phẩm văn học
và nghệ thuật của Thụy Điển
Điểm khác, dựa trên 4 tiêu chí:
Thứ nhất, về tiêu chí xác định việc sử dụng hợp lý:
Pháp luật nước ngoài mà cụ thể ở đây là Luật Quyền tác giả Hoa Kỳ đưa ra 4 yếu tố cần phải đáp ứng đủ theo quy định tại Điều 107 Như vậy chỉ khi nào đáp ứng được 4 yếu tố này thì đó mới được xem là sử dụng hợp lý
Pháp luật Việt Nam đưa ra quy định rõ ràng hơn khi liệt kê các trường hợp “sử dụng hợp lí”, ghi nhận tại các điều luật: Điều 25, 26, 32, 33 LSHTT 2005
Thứ hai, về các trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc sử dụng hợp lý:
Pháp luật nước ngoài có một số trường hợp ngoại lệ sau:
- Tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả thì đều có thể sao chép nếu đáp ứng được các yếu tố quy định tại Điều 107 Luật Quyền tác giả Hoa Kỳ
- Việc sao chép một tác phẩm nhằm mục đích học tập được pháp luật quy định là hợp pháp (Điều 107 Luật Quyền tác giả Hoa Kỳ)
- Bình luận thời sự chính trị, kinh tế hoặc xã hội đăng tải trên báo hoặc tạp chí không được sao chép vào các bài viết mang tính nghiên cứu khoa học (Điều 39 Luật Quyền tác giả Nhật Bản)
1 https://hotrothutuc.com/nguyen-tac-su-dung-hop-ly-401.html#_ftn3
3
Trang 6- Quyền tác giả không ngăn cản việc sử dụng tác phẩm trong việc quản lý của cơ quan
tư pháp hoặc công an (Điều 26b Luật Quyền tác giả tác phẩm văn học và nghệ thuật của Thụy Điển)
Trường hợp ngoại lệ của pháp luật VN:
- Tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính thì cũng không được sao chép dù là nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy hay lưu trữ trong thư viện (Khoản 3 Điều 25 Luật SHTT)
- Việc sao chép nhằm mục đích học tập không được xem là hợp pháp
Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam không thừa nhận sao chép nhằm mục đích học tập thuộc trường hợp giới hạn quyền tác giả Cách tiếp cận này có cơ sở với giả thiết nếu học sinh, sinh viên được tự do sao chép mỗi người một bản sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu… để phục vụ cho việc học tập thì sách in sẽ không bán được (vì giá thành photocopy tác phẩm chắc chắn sẽ rẻ hơn mua sách in) và điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ sở hữu tác phẩm trong việc khai thác tác phẩm
Thứ ba, về mức độ cụ thể được xem là sử dụng hợp lý:
Nếu Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam không có quy định mức độ cụ thể thì Luật Bản quyền Anh quy định cho phép người sử dụng sao chép tới 10% nhưng không quá một chương của một cuốn sách
Thứ tư, về vấn đề xin phép sử dụng hợp lý:
Tại các Điều 25, 26, 32, 33 Luật SHTT Việt Nam quy định việc sử dụng hợp lý không phải phép Ngược lại, luật Bản quyền 1994 của New Zealand sao chép phải được sự cho phép của chủ sở hữu bản quyền; sự sao chép cơ sở dữ liệu điện tử chỉ có thể được thực hiện dưới dạng hợp đồng giữa thư viện với nhà cung cấp cơ sở dữ liệu; muốn sao chép các buổi phát thanh, truyền hình và chương trình truyền hình cáp phải
có giấy phép bản quyền từ Screenrights,…
2 Có mấy hình thức chuyển giao quyền tác giả? Phân biệt các hình thức này.
Theo chương IV Luật sở hữu trí tuệ quy định thì có 2 hình thức chuyển giao quyền tác giả: Chuyển nhượng quyền tác giả và Chuyển quyền sử dụng quyền tác giả
* Phân biệt:
Chuyển nhượng quyền tác giả
Chuyển quyền sử dụng quyền tác giả
Khái niệm
Là việc chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao quyền sở hữu đối với quyền công bố, quyền tài sản, quyền tài sản của người biểu diễn, Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và
Là việc chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan cho phép
tổ chức, cá nhân khác sử dụng có thời hạn một, một số hoặc toàn bộ các quyền: quyền công bố tác phẩm, quyền tài sản đối với tác phẩm,
Trang 7Quyền của tổ chức phát sóng cho tổ chức, cá nhân khác theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật có liên quan
quyền tài sản của người biểu diễn, Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và Quyền của tổ chức phát sóng
Chủ thể Bên chuyển nhượng phải là
chủ sở hữu đối tượng
Bên chuyển giao có thể là chủ sở hữu hoặc bên nhận chuyển giao được chủ
sở hữu đối tượng cho phép
Đối tượng Quyền sở hữu Quyền sử dụng
Bản chất Thay đổi chủ sở hữu quyền tác
giả từ bên chuyển nhượng sang bên nhận chuyển nhượng
Chỉ chuyển giao quyền sử dụng, còn chủ sở hữu vẫn không thay đổi
3 Phân tích mối liên hệ giữa quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả.
Có thể nói, quyền tác giả và quyền liên quan có mối liên hệ mật thiết với nhau
Thứ nhất, quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả đều thuộc quyền sở
hữu trí tuệ, tức quyền đối với tài sản vô hình
Thứ hai, các chủ thể của quyền liên quan là trung gian, có vai trò truyền tải nội
dung, giá trị của tác phẩm gốc đến với công chúng cũng như mang lại các lợi ích cho tác giả Vì khi một tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức nhất định thì dù nó đã được công bố nhưng không thể đảm bảo rằng nó sẽ được đông đảo mọi người biết đến Mặc khác, dù biết đến nó nhưng không chắc rằng mọi người sẽ hiểu hết nội dung và ý nghĩa nó mang lại Do đó, thông qua người biểu diễn, tổ chức phát sóng…tác phẩm đó có thể được nhiều người biết tới, được đánh giá cao nhờ khả năng truyền đạt cũng như kỹ xảo điện ảnh được thực hiện bởi các chủ thể của quyền liên quan
Thứ ba, tác phẩm gốc là cơ sở để hình thành quyền liên quan, là cơ sở để các chủ
thể của quyền liên quan có thể tiến hành các hoạt động nghề nghiệp của mình Ví dụ: nhạc sĩ sáng tác ra bài hát, ca sĩ trình diễn bài hát đó, lúc này quyền liên quan phát sinh, buổi biểu diễn sẽ được bảo hộ và ca sĩ cũng thực hiện hoạt động ca hát của mình
Cuối cùng, quyền liên quan đến quyền tác giả tồn tại song song và gắn liền với tác
phẩm Do đó, chỉ khi tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả cho phép khai thác và sử
5
Trang 8dụng tác phẩm thì các chủ thể của quyền liên quan mới có thể tác động vào các tác phẩm đó
A.2 Bài tập:
1 Nghiên cứu tranh chấp quyền tác giả trong vụ việc Truyện tranh Thần Đồng Đất Việt và đánh giá các vấn đề pháp lý sau:
a) Theo Luật SHTT, truyện tranh Thần Đồng Đất Việt có được bảo hộ quyền tác giả không?
Tại Điều 14 Luật SHTT quy định về các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả mà truyện Thần Đồng Đất Việt (TĐĐV) là tác phẩm được thể hiện dưới dạng chữ viết Bên cạnh đó TĐĐV là một tác phẩm có tính nguyên gốc bắt nguồn từ những câu chuyện dân gian truyền miệng Do đó, truyện tranh TĐĐV sẽ được bảo hộ quyền tác giả theo quy định của luật này
b) Ai là chủ sở hữu bộ truyện tranh này?
Chủ sở hữu quyền tác giả có thể đồng thời là tác giả hoặc cũng có thể không đồng thời là tác giả Nếu tác phẩm do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng chính công sức và chi phí của mình thì khi đó ông Linh mới đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả
Tuy nhiên, căn cứ theo hợp đồng lao động mà nguyên đơn ký kết với Công ty Phan Thị và lời trình bày của bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án, có cơ sở xác định nguyên đơn làm việc cho Công ty Phan Thị theo hợp đồng lao động, nhiệm vụ là vẽ tranh minh họa
Do đó, Công ty Phan Thị là tổ chức giao nhiệm vụ cho ông Lê Phong Linh vẽ minh họa nên là chủ sở hữu tác phẩm Thần Đồng Đất Việt căn cứ theo Điều 39 Luật SHTT
c) Ai là tác giả bộ truyện tranh này?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 13 LSHTT, tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định Đồng nghĩa với việc, nếu một người có ý tưởng sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học nhưng chưa thể hiện ý tưởng này dưới bất kỳ hình thức vật chất nào thì không thể yêu cầu công nhận mình là tác giả đối với ý tưởng đó Trong trường hợp này, các ý tưởng sáng tạo đã được hình thành là của họa sĩ Lê Linh và trên các ấn phẩm phát hành đều thể hiện họa sĩ Lê Linh là tác giả
Về việc bà Phan Thị Mỹ Hạnh và Công ty Phan Thị đã tự lấy ý tưởng của ông Linh trước đó để viết thêm những tập truyện khác không hỏi ý của tác giả là hành vi vi phạm pháp luật, bên cạnh đó nguyên ý tưởng ban đầu về các nhân vật là của ông Linh
Vì thế, bà Hạnh sẽ không được xem là đồng tác giả của bộ truyện tranh này
Trang 9d) Công ty Phan Thị có quyền gì đối với tác phẩm này?
Theo nhóm, từ những nghiên cứu tranh chấp quyền tác giả trong vụ việc Truyện tranh Thần Đồng Đất Việt, căn cứ Điều 37, Điều 38 và Điều 39 Luật SHTT, Công ty Phan Thị được công nhận là chủ sở hữu quyền tác giả
Do đó, Công ty Phan Thị hoàn toàn có quyền nhân thân và quyền tài sản được quy định tại Điều 19 và khoản 1 Điều 20 LSHTT bao gồm đặt tên cho tác phẩm; Công bố tác phẩm; Làm tác phẩm phái sinh…với tác phẩm là bộ truyện tranh “Thần Đồng Đất Việt”
e) Việc công ty Phan Thị cho xuất bản bộ truyện từ tập 79 trở đi có phù hợp với quy định pháp luật không?
Trong trường hợp này, Công ty Phan Thị đã cho xuất bản bộ truyện “Thần Đồng Đất Việt” từ tập 79 trở đi có hình thức thể hiện của các nhân vật khác so với hình thức thể hiện đã được đăng ký tại Cục Bản quyền tác giả mà không có sự đồng ý của họa sĩ
Lê Linh Điều này không phù hợp với quy định pháp luật
Bởi vì, theo khoản 8 Điều 4 Luật SHTT quy định: “Tác phẩm phái sinh là tác
phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn” Công ty Phan Thị cho rằng có hoạt động làm tác
phẩm phái sinh nhưng không nêu được đó là hoạt động nào trong các hoạt động dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải hay tuyển chọn nên không có cơ sở xem đây là hoạt động làm tác phẩm phái sinh
Ngoài ra, mặc dù Công ty Phan Thị là chủ sở hữu được quyền làm tác phẩm phái sinh nhưng không được thay đổi hình thức thể hiện gốc đã được đăng ký ở cục bản quyền khi không có sự đồng ý của ông Linh Hành vi làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả là hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định tại khoản 7 Điều 28 LSHTT Ông Lê Phong Linh là tác giả của tác phẩm có quyền bảo vệ
sự toàn vẹn của tác phẩm
Từ những lý do trên, việc công ty Phan Thị cho xuất bản bộ truyện từ tập 79 trở đi không phù hợp với quy định của pháp luật
2 Nghiên cứu Bản án số 213/2014/DS-ST của Tòa án nhân dân quận Tân Bình ngày 14/8/2014 và trả lời các câu hỏi sau:
a) Ai là tác giả tác phẩm “Hình thức thể hiện tranh tết dân gian”? Tác phẩm này
có được bảo hộ quyền tác giả không? Vì sao?
Ông Lộc là tác giả tác phẩm “Hình thức thể hiện tranh tết dân gian”, các cụm hình ảnh này có nguồn gốc từ văn hóa dân gian được ông thể hiện theo phong cách riêng để
7
Trang 10hình thành nên tác phẩm của mình Ông Lộc đã đăng ký bảo hộ tác phẩm này tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đã được Cục bản quyền cấp Giấy chứng nhận đăng
ký bản quyền số 169/2013/QTG ngày 07/01/2013
Tác phẩm này được bảo hộ quyền tác giả Vì: tại khoản 1 Điều 13 Luật SHTT quy định về điều kiện bảo hộ quyền tác giả: cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm Nhà nước đã ghi nhận quyền tác giả của người sáng tạo ra sản phẩm là ông Lộc, khi đó các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả là ông Lộc sẽ được pháp luật bảo vệ, các chủ thể khác nếu như có hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm “Hình thức thể hiện tranh tết dân gian” sẽ bị
xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật
b) Từng “cụm hình ảnh” trong tác phẩm “Hình thức thể hiện tranh tết dân gian”
có được bảo hộ quyền tác giả không? Vì sao?
Từng “cụm hình ảnh” trong tác phẩm “Hình thức thể hiện tranh tết dân gian” không được bảo hộ quyền tác giả, vì:
Thứ nhất, xét nguồn gốc của các cụm hình ảnh được thể hiện trong tác phẩm của
ông Nguyễn Văn Lộc là những hình ảnh đã được lưu truyền trong văn hóa dân gian từ lâu đời (hình ảnh múa lân, ông địa, liễn chúc tết, ông đồ viết chữ ) các tác giả chỉ thay đổi một số đường nét và sắp xếp theo một bố cục và hình thức thể hiện để tạo nên tác phẩm riêng của mình Do đó, quyền tác giả của các hình ảnh riêng rẽ đã được lưu truyền lâu đời trong văn hóa dân gian không thể xác định là của ai
Thứ hai, quyền tác giả đối với tác phẩm ở đây được xác định chính là bố cục sắp
xếp, hình thức thể hiện trong một tổng thể thống nhất không thể tách rời ra theo từng
bộ phận để xác định quyền tác giả Mặt khác, ông Nguyễn Văn Lộc cũng trình bày, theo trình tự đăng ký quyền tác giả nếu muốn bảo hộ cho từng cụm hình ảnh ông phải lập từng hồ sơ tương ứng với từng cụm hình ảnh (ở đây là 05 cụm hình ảnh tương ứng với 05 hồ sơ) để đăng ký quyền tác giả Điều này sẽ mất nhiều thời gian nên ông đã gộp chung cả 05 cụm hình vào trong một tác phẩm để đăng ký quyền tác giả Từ đó có thế nhận thấy, quyền tác giả của ông Nguyễn Văn Lộc đối với từng cụm hình riêng rẽ chưa được xác lập
Do đó, quyền tác giả của ông Lộc đối với từng “cụm hình ảnh” trong tác phẩm
“Hình thức thể hiện tranh tết dân gian” sẽ không được bảo hộ quyền tác giả
c) Hành vi của bị đơn có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của nguyên đơn không? Nêu cơ sở pháp lý.
Hành vi của bị đơn không xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của nguyên đơn Vì:
Thứ nhất, căn cứ chứng cứ do ông Lộc cung cấp hình ảnh đã được trang trí tại
showroom của công ty Mặt Trời Mọc tại 18 Cộng Hòa, phường 4, quận Tân Bình, Hội