Việc bổ sung điều kiện về năng lực pháp luật có sự tiến bộ nhưng sẽ có khó khăn trong quá trình áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với các giao dịch dân sự nhỏ không được quy định cụ th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ LỚP QUỐC TẾ 46-A1
BÀI THẢO LUẬN NHÓM
MÔN: LUẬT DÂN SỰ
THÀNH VIÊN NHÓM
Trang 2BÀI 1: NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ TRONG XÁC
LẬP GIAO DỊCH:
1 So với Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu lực
của giao dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên.
Các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự giữa Bộ luật Dân sự năm 2005 (căn cứ Điều
122 và Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 2005) và Bộ luật Dân sự năm 2015 (căn cứ Điều 117 và Điều
122 Bộ luật Dân sự năm 2015):
Bộ luật
Bộ luật Dân sự năm 2005 Bộ luật Dân sự năm 2015 Nội dung
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 122: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 117:
- Người tham gia giao dịch có - Chủ thể có năng lực pháp luật năng lực hành vi dân sự dân sự, năng lực hành vi dân sự
phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập
→ Sử dụng từ “người tham gia” ở → Sử dụng thuật ngữ “chủ thể”
đây “người” được hiểu theo nghĩa mang nghĩa khái quát hơn, bao rộng là bao gồm cả chủ thể và pháp gồm các chủ thể của quan hệ pháp
hộ gia đình, tổ hợp tác Sự thay đổi này chỉ mang tính hình thức, không kéo theo sự thay đổi về nội dung
→ Bổ sung yêu cầu “năng lực pháp
→ Chỉ yêu cầu “năng lực hành vi luật dân sự”
vi dân sự phù hợp với giao dịch dân
là tiến bộ và hợp lý bởi mỗi giao
Người tham gia/
dịch đều có nội dung và mục đích
Chủ thể
riêng, phải phù hợp với từng giao dịch cụ thể (tham khảo từ Điều 16 đến Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015)
Việc bổ sung điều kiện về năng lực pháp luật có sự tiến bộ nhưng
sẽ có khó khăn trong quá trình áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với các giao dịch dân sự nhỏ không được quy định cụ thể tại Điều 16 đến Điều 21 về năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân
sự được xác lập (ví dụ: giao dịch mua bán ở cửa hàng tạp hóa, trẻ con chưa có năng lực pháp luật nhưng thực tế vẫn có thể tiến hành giao dịch)
Trang 3TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Trang 4kiện không vi - Mục đích và nội dung của giao - Chủ thể tham gia giao dịch dân
phạm điều cấm. dịch không vi phạm điều cấm của sự hoàn toàn tự nguyện;
pháp luật, không trái đạo đức xã - Mục đích và nội dung của giao
- Người tham gia giao dịch hoàn cấm của luật, không trái đạo đức
→ Quy định điều kiện không quy → Thay đổi thứ tự, đưa điều kiện
phạm điều cấm trước, điều kiện tự tự nguyện lên trước điều kiện
yếu tố tự nguyện hơn yếu tố không
vi phạm điều cấm
- Sử dụng “pháp luật” - Sử dụng “luật”
→ Đảm bảo tính thống nhất trong thực thi pháp luật khi xem xét hiệu lực của giao dịch dân sự, về nguyên tắc giao dịch dân sự là tự
do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận
là Quốc hội, sẽ không bị chi phối bởi các văn bản của các cơ quan nhà nước khác Quy định góp phần khắc phục được tình trạng mâu thuẫn và chồng chéo giữa văn bản luật và dưới luật
- Giao dịch dân sự không có một - Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy trong các điều kiện được quy
Giao dịch dân sự định tại Điều 122 của Bộ luật này định tại Điều 117 của Bộ luật này
luật này có quy định khác
→ Bổ sung trường hợp ngoại lệ.
Bộ luật Dân sự năm 2005 sử dụng những thuật ngữ tối nghĩa, nghĩa hẹp, vẫn đặt sự tự nguyện của chủ thể phía sau điều kiện không vi phạm điều cấm Bộ luật Dân sự năm 2015 đã
thay đổi thuật ngữ sử dụng, mở rộng nghĩa và mở rộng thành phần chủ thể tham gia giao dịch
dân sự Bộ luật Dân sự năm 2015 còn bổ sung những điều kiện mới và trường hợp ngoại lệ tăng
tính rõ ràng và phù hợp hơn với từng giao dịch dân sự nhất định So với Bộ luật dân sự năm
2005, Bộ luật Dân sự 2015 có cách tiếp cận rất mới, nhằm bảo vệ tốt hơn quyền công dân, tạo
điều kiện thuận lợi, thông thoáng hơn, ổn định hơn trong giao lưu dân sự, thúc đẩy sự phát triển
của quan hệ sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế thị trường; hạn chế sự can thiệp của cơ quan
công quyền vào quan hệ dân sự; bảo đảm sự ổn định của giao dịch dân sự, các quan hệ liên
quan và hạn chế sự không thiện chí của các bên trong giao dịch dân sự
2 Đoạn nào của bản án trên cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam?
Theo bản án, “ông Ph J T và bà L T h H là người Việt Nam ở nước ngoài đã nhập quốc tịch
Mỹ thì theo quy định Luật đất đai năm 2003 và Điều 121 của Luật nhà ở năm 2005 thì người
Việt Nam định cư ở nước ngoài đượcquyền sở hữu nhà ở Việt Nam khi thõa mãn các điều kiện
sau: “ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam, người có công
đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt
Trang 5động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước, người được
phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Uỷ ban thường vụ Quốc hội
quy định được sở hữu nhà ở tại Việt Nam” “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không
thuộc diện quy định này đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép từ sáu tháng trở lên
được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ” do đó ông T và bà H không được sở hữu
quyền sử dụng đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt Nam vì vậy các giao dịch
giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004, giấy cam kết
ngày 16/3/2011 bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật và do không tuân thủ quy
định về hình thức theo Điều 117, 123, 129 của Bộ luật dân sự và căn cứ theo Điều 131 của
Bộ luật dân sự thì các đương sự phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau
những gì đã nhận Vì vậy, ông T và bà H không được sở hữu quyền sử dụng đất ở nông thôn
và đất trồng cây lâu năm tại Việt Nam.”
3 Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ đã bị Tòa án tuyên bố vô hiệu?
Dựa vào đoạn: “Ông T và bà H không được sở hữu quyền sử dụng đất ở nông thôn và
đất trồng cây lâu năm tại Việt Nam vì vậy các giao dịch giấy cho nền thổ cư ngày
31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004, giấy cam kết ngày 16/3/2011 bị vô hiệu
do vi phạm điều cấm của pháp luật và do không tuân thủ quy định về hình thức theo Điều
117, 123, 129 của Bộ luật dân sự” và “Vô hiệu giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy
nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004 và giấy cam kết ngày 16/3/2011 mà các bên đã xác lập
do vi phạm điều cấm của pháp luật”, ta có thể thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ đã
bị Tòa án tuyên bố vô hiệu.
4 Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ thể) về căn cứ để Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu ?
Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu là hợp lý Xem xét năng lực pháp luật của chủ thể
trong giao dịch căn cứ theo Bộ luật Dân sự 2015 cụ thể tại điểm a khoản 1 Điều 117 thì
năng lực pháp luật của chủ thể trong giao dịch dân sự bao gồm năng lực pháp luật dân sự,
năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập
- Về năng lực hành vi dân sự của cá nhân: Ông J Ph T, bà L Th H và bà L K Đ đều là người
thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
- Về năng lực pháp luật dân sự: Ông J Ph T và bà L Th H là người Việt định cư ở nước
ngoài đã nhập quốc tịch Mỹ nên năng lực pháp lực dân sự phải căn cứ Điều 121 Luật đất đai
năm 2003 và Điều 126 của Luật nhà ở năm 2005
Điều 121 Luật Đất đai năm 2003:
1 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây thì được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam:
b) Người về đầu tư lâu dài có nhu cầu nhà ở trong thời gian đầu tư tại Việt Nam;
c) Người có công đóng góp với đất nước;
d) Những nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước;
e) Người có nhu cầu về sống ổn định tại Việt Nam;
đ) Các đối tượng khác theo quy định của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Điều 126 Luật Nhà ở năm 2005:
1 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam, người có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
Trang 62 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều này đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ.
Xem xét bản án không có tình tiết nào thể hiện Ông J Ph T và bà L Th H thuộc các trường
hợp được nêu trên căn cứ Điều 121 Luật đất đai năm 2003 và Điều 126 của Luật Nhà ở năm
2005 vì vậy Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu là hợp lí, đúng đắn dựa trên căn cứ pháp lí
đầy đủ, thõa đáng
BÀI 2: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG NHẬN THỨC.
1 Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và từ thời điểm nào ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?
- Theo Bản án: “Năm 2007 ông Hội bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thức được”.
→ Thời điểm ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức được là năm 2007.
- Theo Bản án: “Ngày 10/8/2010 Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà tuyên bố cha chị mất năng lực
hành vi dân sự” và “Tuy nhiên, sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà quyết định tuyên bố ông Đặng Hữu Hội bị mất năng lực hành vi dân sự kể từ ngày
07/5/2010”.
→ Thời điểm ông Hòa bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự là từ ngày 07/05/2010 (tuyên bố vào ngày vào ngày 10/8/2010).
2 Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau khi ông Hội
bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự?
- Theo Bản án, ngày 08/02/2010 giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập và ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự vào ngày 07/05/2010
→ Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước khi ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự.
3 Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội có vô hiệu không? Vì sao?
Trên cơ sở quy định nào?
- Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội bị vô hiệu mặc dù giao dịch đó
(cùng với vợ là bà Hương) được xác lập trước khi ông bị Tòa tuyên bố mất năng lực hành
vi dân sự Ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự từ ngày 07/05/2010 (tuyên bố vào ngày vào ngày 10/8/2010) nhưng trên thực tế ông bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thức được từ năm 2007 Căn cứ Điều 127 Bộ luật Dân sự 2005: “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu” Tại điểm a khoản 1 Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005 “Người tham gia giao dịch
có năng lực hành
vi dân sự” Như vậy, giao dịch được xác lập tại thời điểm ông Hội bị không còn nhận thức
được phù hợp với quy định tại Điều 130 Bộ luật Dân sự năm 2005 “Khi giao dịch dân sự
do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng
lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Toà
án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do
người đại diện của họ xác lập, thực hiện” để chị Ánh - người đại diện, thừa kế quyền và
nghĩa vụ của ông Hội thay ông Hội khởi kiện giao dịch trên và Tòa án đã công nhận phần
giao dịch của ông Hội là không đúng đồng nghĩa vô hiệu
4 Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hoàn cảnh của ông Hội không và Tòa án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà anh/chị biết.
Bản án số 01/2006/DSST ngày 21/02/2006 của Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn tỉnh Yên
Bái có tình tiết tương tự hoàn cảnh của ông Hội Hướng giải quyết của Tòa án: Tuyên bố
GDDS vô hiệu toàn bộ do vi phạm quy định tại Điều 133 Bộ luật Dân sự 2005 (giao dịch vô
hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ hành vi của mình) Ngày 20/01/2004, ông
Cường và bà Bình (vợ ông Cường) ký giấy chuyển nhượng cho anh Thăng (con riêng của bà
Trang 7Bình) một bất động sản (BĐS) Đến ngày 10/08/2005, anh Hưng là con trai ông Cường và bà
Chế (đã ly hôn năm 1979) mới đăng ký việc giám hộ cho ông Cường tại UBND xã Tại Biên
bản giám định pháp y tâm thần số 147/GĐPY ngày 15/12/2005 có kết luận: ông Cường bị mắc
bệnh “Loạn thần do sử dụng rượu” Thời điểm mắc bệnh là trước ngày 1/1/2004 với biểu hiện
của chứng bệnh là mất hoàn toàn khả năng tư duy, khả năng hiểu biết và khả năng điều khiển
hành vi của mình Từ đó, Tòa án xác định: “Ông Cường được coi là mất hoàn toàn năng lực
trách nhiệm, năng lực hành vi dân sự từ thời điểm trước ngày 01/01/2004.” Như vậy, hợp đồng
được xác lập ngày 20/01/2004 nhưng sau ngày này ông mới được Tòa án xác nhận mất năng lực
hành vi dân sự Thêm vào đó, BĐS này được coi là tài sản riêng của ông Cường nên việc bà
Bình tự ý định đoạt BĐS này là trái với qui định của pháp luật về quyền sở hữu Vì vậy, hợp
đồng giao dịch giữa ông Cường, bà Bình và anh Thăng là giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ do vi
phạm Điều 133 Bộ luật Dân sự 2005 Cuối cùng, Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn đã ra quyết
định hủy bỏ hợp đồng giao dịch đã xác lập giữa các bên; yêu cầu anh Hưng (người đại diện cho
ông Cường) và bà Bình phải cùng chịu trách nhiệm hoàn trả lại toàn bộ số tiền từ anh Thăng và
chi phí khi anh Thăng đầu tư xây dựng công trình trên đất
5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp lý khi đưa ra hướng xử lý.
Theo tôi, hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc trên (liên quan đến
giao dịch do ông Hội xác lập) là hợp lý Bởi lẽ khi xác lập giao dịch, ông Hội đã là người
mất năng lực hành vi dân sự Căn cứ Điều 22 Bộ luật Dân sự 2005, người mất năng lực
hành vi dân sự không thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự Việc thực hiện một
giao dịch dân sư phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện Và căn cứ Điều
133 Bộ luật Dân sự 2005 “Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào
đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu
Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.” Do đó, giao dịch của ông Hội bị vô hiệu
Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số 35/2012/
DSPT ngày 10/07/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên và bản án dân sự sơ thẩm số
98/2011/DSST của Tòa án nhân dân tỉnh Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên trong vụ việc trên (liên
quan đến giao dịch do ông Hội xác lập) là hợp lý Vì cả bản án dân sự sơ thẩm và bản án
dân sự phúc thẩm đều không đúng vì:
- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án các cấp phúc thẩm chưa xác minh làm rõ phần diện tích
43,7m2 đất (chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không có trong hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/02/2010) có đăng ký kê khai và có đủ
điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không, nhưng đã công nhận hợp
đồng mua bán nhà gắn liền với quyền sử dụng đất và buộc bà Hương và các thành viên
trong gia đình có trách nhiệm giao lại ngôi nhà gắn liền với 163,7m2 đất là không đúng và
ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự
- Tại thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Hùng bà Trinh thì ông
Hội chưa chết nên chị Đặng Thị Kim Anh không có quyền khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng Tuy nhiên, sau khi Tòa án thành phố Tuy Hoà có Quyết định ông Hội mất năng lực hành vi dân sự kể từ ngày 07/5/2010; ngày 04/12/2010, các con ông Hội đều thống nhất cử bà Ánh là người đại diện cho ông Hội và là người thừa kế quyền nghĩa vụ của ông Hội Do đó, bà Ánh có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 130 Bộ luật Dân sự năm
2005 Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án là không
đúng pháp luật
6 Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó có bị vô hiệu không? Vì sao?
Trang 8- Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó bị vô hiệu Vì căn cứ
theo điểm a khoản 1 Điều 122 Bộ luật Dân sự 2005 và điểm a khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 thì tại
thời điểm giao dịch ông Hội đã bị mất nhận thức từ trước đó và dù
là giao dịch mua bán hay giao dịch tặng thì cũng là giao dịch dân sự nên giao dịch đó bị vô
hiệu
BÀI 3: GIAO DỊCH XÁC LẬP DO CÓ LỪA DỐI
1 Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo Bộ luật Dân sự 2005
và Bộ luật Dân sự 2015.
- Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do - Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do
bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là
- Hành vi cố ý của một bên hoặc của người - Hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch
về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác
2 Đoạn nào của Quyết định số 521 cho thấy thỏa thuận hoán nhượng đã bị tuyên vô hiệu do
có lừa dối?
“Việc anh Vinh và người liên quan (ông Trần Bá Toàn, bà Trần Thị Phú Vân - họ hàng
của anh Vinh) không thông báo cho ông Đô, bà Thu biết tình trạng về nhà, đất mà các bên
thỏa thuận hoán đổi đã có quyết định thu hồi, giải tỏa đền bù (căn nhà đã có quyết định tháo
dở do xây dựng trái phép 1998 nên không được bồi thường giá trị căn nhà; còn thửa đất bị
thu hồi thì không đủ điều kiện để mua nhà tái định cư theo Quyết định số 135/QĐ-UB ngày
21/11/2002) là có sự gian dối Mặt khác, tại bản “Thỏa thuận hoán nhượng” không có chữ kí
ông Đô (chồng bà Thu) và là người cùng bà Thu bán căn nhà số 115/7E, Nguyễn Kiệm,
quận Gò Vấp cho bà Phố (mẹ của anh Vinh) Do vậy, giao dịch “Thỏa thuận hoán nhượng”
giữa anh Vinh và bà Thu vô hiệu nên phải áp dụng Điều 132 Bộ luật Dân sự để giải quyết.”
3 Hướng giải quyết trên đã có tiền lệ chưa? Nếu có tiền lệ, nêu vắn tắt tiền lệ anh/chị biết.
Hướng giải quyết trên đã có tiền lệ:
Quyết định số 30/2003/HĐTP-DS ngày 03/11/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao
Ngày 28/06/2001 Công ty TNHH thuỷ tinh Vĩnh Ký, ký hợp đồng số 01 “chuyển quyền
sử dụng đất” cho Công ty Trang Anh Vĩnh 42.175m2 đất theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh Sông Bé cấp cho Công ty Vĩnh Ký ngày 18/02/1995 bao
gồm 10.000m2 đất xây dựng nhà máy, 32.175m2 là đất sản xuất nông nghiệp
Tháng 09/1995 Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị 247/TTg không cho phép chuyển mục
đích sử dụng đất Năm 1996, Uỷ ban nhân dân tỉnh Sông Bé có Công văn 1426 đề nghị
Công ty Vĩnh Ký thay đổi địa điểm xây dựng nhà máy Công ty Vĩnh Ký đã biết 10.000m2
đất không còn sử dụng được vào mục đích xây dựng nhà máy nhưng khi ký hợp đồng đã
gian dối không thông báo tình trạng sử dụng đất cho công ty Trang Anh Vĩnh
→ Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định:
Huỷ Bản án dân sự phúc thẩm số 314/DSPT ngày 11/12/2002 của Toà Phúc thẩm Toà án
nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và Bản án sơ thẩm số 1148/DSST Ngày
24/07/2002 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đối với vụ án dân sự “Tranh chấp
7
Trang 9hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là Công ty TNHH công nghiệp
may thêu thời trang Trang Anh Vĩnh với bị đơn là Công ty TNHH Thuỷ tinh Vĩnh Ký
4 Hướng giải quyết trên có còn phù hợp với Bộ luật Dân sự năm 2015 không? Vì sao? - Hướng giải quyết trên hoàn toàn phù hợp với Điều 127 Bộ luật Dân sự 2015, vì:
- Anh Nguyễn Thế Vinh (con bà Trần Thị Phố) và những người có liên quan dù hiểu rõ về
tình trạng về nhà, đất tại thời điểm hoán nhượng thì UBND TP HCM đã có Quyết định số
1997/QĐ-UB ngày 10/5/2002 (về việc thu hồi đất và giao đất xây dựng khu đô thị mới) và
Quyết định số 135/QĐ-UB ngày 21/11/2002 (về đền bù, hỗ trợ tái định cư) nhưng vẫn cố ý
không thông báo cho ông Đô, bà Thu Ông Đô, bà Thu không biết tình trạng căn nhà được
hoán nhượng đã có quyết định tháo dỡ do xây dựng trái phép từ năm 1998 nên không được
bồi thường giá trị căn nhà, còn thửa đất bị thu hồi thì không đủ điều kiện để mua nhà tái
định cư theo Quyết định số 135/QĐ-UB ngày 21/11/2002 dẫn đến việc hiểu lệch tính chất
của đối tượng và tiến hành giao dịch hoán nhượng
- Hành vi trên là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu
sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác
lập giao dịch đó Do đó giao dịch trên vẫn bị vô hiệu theo Điều 127 của Bộ luật Dân sự 2015
5 Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, ai được yêu cầu và ai không được yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng có tranh chấp vô hiệu?
- Theo Toà án, dựa trên quy định của Bộ luật Dân sự 1995 và Bộ luật Dân sự 2015 thì bà
Nhấtkhông được yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng có tranh chấp vô hiệu vì bà Nhất
không phảilà một bên trong giao dịch và ông Tài mới là người có quyền yêu cầu Tòa án
tuyên bố hợp đồng có tranh chấp vô hiệu
- Nếu trong trường hợp bà Nhất khởi kiện thì Tòa án phải căn cứ vào quy định tại Điều 28,
Luật hôn nhân gia đình về “Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung” để xác định hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên vô hiệu theo điểm b khoản 1 Điều 122 và
Điều 127 Bộ luật Dân sự
6 Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu
do lừa dối có còn không? Vì sao?
- Theo Tòa án, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối không còn
Vì theo khoản 1 Điều 145 Bộ luật Dân sự 1995 thời hạn yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch
dân sự vô hiệu do lừa dối là một năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập; theo khoản
1 Điều 136 Bộ luật Dân sự 2005 thời hạn yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu
do lừa dối là hai năm, kể từ ngày xác lập; còn Điều 159, Bộ luật Tố tụng dân sự quy định
trong trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu vụ án dân
sự là hai năm, kể từ ngày người có quyền khởi kiện biết được quyền và lợi ích của mình bị
xâm phạm Như vậy, tháng 8/2007 bà Nhất biết ông Dưỡng giả mạo chữ ký bà để nhượng
đất cho ông Tài, nhưng đến 10/12/2010 mới khởi kiện là đã vượt quá thời hạn hai năm nên
quyền khởi kiện của bà Nhất đã hết thời hiệu khởi kiện
7 Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối, Tòa
án có công nhận hợp đồng không? Vì sao?
- Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối, Tòa án
vẫn công nhận hợp đồng Vì theo khoản 1 Điều 137 Bộ luật Dân sự 2005 và khoản 1 Điều
131 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.” Tuy nhiên trong trường hợp này
thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu đã hết Khi đã hết thời hiệu khởi kiện thì giao dịch dân sự sẽ không bị tranh chấp về hiệu lực nữa, chủ thể không còn quyền khởi kiện, bên giả thiết mình có quyền và lợi ích
Trang 10yêu cầu Tòa án can thiệp, bảo vệ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Như vậy giao
dịch dân sựu không bị Tòa án tuyên bố vô hiệu thì quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên
kể từ thời điểm xác lập không chấm dứt, có nghĩa là hợp đồng đã ký kết trong trường hợp
này mặc nhiên vẫn được Tòa án công nhận
8 Câu trả lời cho các câu hỏi trên có khác không nếu áp dụng các quy định tương ứng của
Bộ luật Dân sự 2015 vào tính tiết như trong Quyết định số 210?
- Câu trả lời cho các câu hỏi trên có sự khác biệt nếu áp dụng các quy định tương ứng của
Bộ luật Dân sự 2015 vào tình tiết như trong Quyết định số 210 Vì theo điểm b khoản 1
Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hạn yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu
là 2 năm kể từ khi người bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị lừa dối
Vào lúc giao dịch thì ông Tài không biết ông Dưỡng giả mạo chữ ký cho đến lúc khởi kiện
chưa quá hai năm nên vẫn có thể kiện được
BÀI 4: HẬU QUẢ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU
1 Giao dịch dân sự vô hiệu có làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên không? Nêu cơ
sở pháp lý khi trả lời.
Cơ sở pháp lý: khoản 1, 2 Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015
- Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập
- Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả nhau
những gì đã nhận
- Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả
2 Trên cơ sở Bộ luật Dân sự, khi xác định Hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì Công ty Phú Mỹ có phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện không? Vì sao?
- Căn cứ theo khoản 2 Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015:
Khi giao dịch dân sự trở nên vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn
trả cho nhau những gì đã nhận Vì vậy, khi xác định hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì phải buộc
Công ty Phú Mỹ thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công
việc mà Công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng
3 Hướng giải quyết của Hội đồng thẩm phán về với khối lượng công việc mà Công ty
Orange đã thực hiện như thế nào?
Hướng giải quyết của Hội đồng thẩm phán về với khối lượng công việc mà Công ty
Orange đã thực hiện là: Nếu xác định hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì buộc Công ty Phú Mỹ
phải thanh toán cho công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà
Công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận hợp đồng, còn nếu hợp đồng dịch vụ là hợp
pháp thì buộc công ty Phú Mỹ phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng
với khối lượng công việc mà công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng cùng
với tiền lãi suất do chậm thanh toán theo quy định của pháp luật
4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm phán liên quan tới khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện khi xác định hợp đồng vô hiệu.
Hướng giải quyết của Hội đồng Thẩm phán liên quan tới khối lượng công việc mà Công ty
Orange đã thực hiện khi xác định hợp đồng vô hiệu chưa thực sự hợp lý Căn cứ theo Điều
131 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Trong bản án chưa xác định được rõ là lỗi trong hợp đồng là bên nào sai cũng như không xác định được hợp đồng này vô hiệu hay hợp pháp Tuy nhiêu nếu hợp đồng vô hiệu thì bên phía Công ty Phú Mỹ sẽ không phải trả thêm bất kỳ khoản tiền nào cho Công ty Orange, chỉ hoàn trả những gì Công ty Orange cung cấp cho Công ty Phú Mỹ và ngược lại
9