1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

3 PHÁP LUẬT về ưu đãi THUẾ

57 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 155,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Contents MỤC LỤC i DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii MỞ ĐẦU 1 1 Lý do chọn đề tài 1 2 Mục tiêu nghiên cứu 1 3 Phạm vi nghiên cứu 2 4 Phương pháp nghiên cứu 2 5 Kết cấu đề tài 2 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN V.

Trang 1

MỤC LỤC

Contents

MỤC LỤC i

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu đề tài 2

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI THUẾ 3

1.1 Khái niệm về ưu đãi thuế 3

1.2 Các hình thức ưu đãi thuế 3

1.3 Vai trò của việc áp dụng ưu đãi thuế 4

1.4 Hiệu quả của ưu đãi thuế từ các công trình đã được công bố 6

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI VỀ THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 7

2.1 Tổng quan về chính sách ưu đãi thuế tại Việt Nam 7

2.1.1 Chính sách ưu đãi thuế ở Việt Nam 7

2.1.2 Các hình thức ưu đãi thuế ở Việt Nam và điều kiện được hưởng ưu đãi 10

2.2 Thực trạng chính sách ưu đãi thuế tại chi cục thuế quân Hải Châu 16

2.2.1 Ưu đãi thuế thu nhâp doanh nghiệp 16

2.2.2 Ưu đãi thuế giá trị gia tăng 22

2.2.2.5.Về trách nhiệm của Chi cục Thuế Hải Châu trong khấu trừ, hoàn thuế 36

1

Trang 2

2.5 Đánh giá chung về chính sách ưu đãi thuế ở tại chi cụ thuế quận Hải Châu

43

2.5.1 Về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 43

2.5.2 Về ưu đãi thuế giá trị gia tăng 45

CHƯƠNG 3 KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI THUẾ TẠI CHI CỤ THUẾ QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 48

3.1 Giải pháp về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 48

3.1.1 Về chính sách ưu đãi thuế TNDN 48

3.1.2 Đảm bảo tính thống nhất về nội dung ưu đãi thuế TNDN trong các văn bản pháp luật có liên quan 49

3.2 Giải pháp về ưu đãi thuế giá trị gia tăng 49

3.2.1.Kiểm tra khấu trừ thuế giá trị gia tăng 49

3.2.2 Kiểm tra khâu hoàn thuế giá trị gia tăng 51

KẾT LUẬN 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

2

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

3

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ưu đãi thuế được áp dụng khá phổ biến với nhiều hình thức khác nhau ở các nướcphát triển và đang phát triển nhằm khuyến khích đầu tư trong nước cũng như thu hút vốnđầu tư nước ngoài (Zee, Stotsky & Ley, 2005) Việc áp dụng rộng rãi và đa dạng chínhsách thuế cùng với các chính sách khuyến khích đầu tư khác đã góp phần tạo nên nhữngthành tựu phát triển kinh tế ở các nước công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan vàSingapore (James, 2013) Tuy nhiên, những năm gần đây, quan điểm về hiệu quả củachính sách ưu đãi thuế còn rất khác nhau Chính sách ưu đãi thuế được đánh giá hiệu quảtrong một số trường hợp nhưng ở một giác độ khác chính sách này cũng đặt ra nhiều vấn

đề như làm giảm thu ngân sách, gây méo mó trong phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế

và làm phức tạp hệ thống chính sách thuế (Fletcher, 2002) Lập luận về hiệu quả củachính sách ưu đãi thuế đối với khuyến khích đầu tư cũng rất khác nhau và chưa có sựthống nhất cuối cùng (Tanzi và Zee, 2000) Một số nhà nghiên cứu ủng hộ quan điểm chorằng chính sách ưu đãi thuế có hiệu quả đối với khuyến khích đầu tư trong khi một sốchuyên gia khác cho rằng ưu đãi thuế kéo theo chi phí (làm giảm nguồn thu ngân sách)

và có ít tác dụng thu hút đầu tư Trong những năm gần đây, một số lập luận cho rằng việc

áp dụng chính sách ưu đãi thuế còn nhằm một số mục tiêu xã hội như thúc đẩy bình đẳnggiới Một số công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng do những tác động khác nhau của thuếđối với nam giới và nữ giới nên chính sách thuế thường không trung lập về giới và vì thếtrong một số trường hợp, chính sách ưu đãi thuế có thể được sử dụng như một công cụ đểthúc đẩy bình đẳng giới

Trong ba thập kỷ vừa qua, tương tự như nhiều quốc gia đang phát triển khác, cùngvới việc thực hiện các chính sách cải cách kinh tế, Việt Nam đã áp dụng nhiều hình thức

ưu đãi thuế như giảm thuế suất phổ thông, ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế, miễnthuế nhập khẩu,… để khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu, tạo việc làm,… Do

đó mà tác giả đã chọn đề tài “Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về ưu đãi về thuế tại chi cụ thuế quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu này là phân tích chính sách ưu đãi thuế tại ViệtNam Trong đó, nghiên cứu này hướng tới các mục tiêu cụ thể sau:

Khái quát cơ sở lý thuyết chính sách ưu đãi thuế tại Việt Nam

Phân tích chính sách ưu đãi thuế tại chị cục thuế quận Hải Châu

Nêu lên những vấn đề còn hạn chế và kiến nghị về chính sách thuế

Trang 5

3 Phạm vi nghiên cứu

Do thời gian có hạn nên tác giả nghiên cứu các quy định pháp luật về ưu đãi thuếtại Việt Nam thông qua pháp luật Việt Nam về ưu đãi thuế TNDN (Luật Thuế TNDN,Luật Quản lý thuế, Luật đầu tư và các văn bản hướng dẫn thi hành ) Nghiên cứu cụ thểtại chi cục thuế quận Hải Châu

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, tác giả sử dụng kết hợp nhiều phươngpháp nghiên cứu trong đó chủ yếu là các phương pháp như: phương pháp duy vật biệnchứng, phương pháp phân tích, phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp, phươngpháp so sánh, phương pháp định tính, định lượng… Các phương pháp nghiên cứu trong

đề tài được thực hiện trên nền tảng của phương pháp duy vật biện chứng; trên cơ sở cácquan điểm, đường lối chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam

5 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luân, tài liệu tham khảo đề tài được chia thành 3 chươngnhư sau:

Chương 1 Cơ sở ly luận về chính sách ưu đãi thuế

Chương 2 Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về ưu đãi về thuế tại chi cụcthuế quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Chương 3 Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế tại chi cục thuếquận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Trang 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI THUẾ

1.1 Khái niệm về ưu đãi thuế

Ưu đãi thuế có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Trong đó, có thểđịnh nghĩa ưu đãi thuế là các quy định pháp luật cho phép giảm gánh nặng thuế của nhàđầu tư để khuyến khích các nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư theo những cách thứcmong muốn nhất định (UNCTAD, 2000) Nghiên cứu của Keen (2005) định nghĩa ưu đãithuế là việc áp dụng các chính sách thuế khác với các quy định chung nhằm tạo ra sự ưuđãi cho một số đối tượng người nộp thuế cụ thể Theo đó, các quy định chính sách thuếkhi được áp dụng chung cho mọi đối tượng người nộp thuế thì không được coi là ưu đãithuế Trong Báo cáo này, thuật ngữ “ưu đãi thuế” hàm ý các quy định đặc thù, ưu đãi hơntrong hệ thống pháp luật thuế của Việt Nam áp dụng cho đối tượng người nộp thuế đápứng được các điều kiện đề ra

1.2 Các hình thức ưu đãi thuế

Có thể phân loại các chính sách ưu đãi về thuê thành hai nhóm như sau:

Thứ nhất, Các hình thức ưu đãi thuế trực tiếp

Áp dụng thuế suất ưu đãi: Với hình thức này, Chính phủ có thể giảm mức thuế suấtthuế thu nhập DN tạm thời hoặc vĩnh viễn cho một số hoạt động cụ thể để khuyến khíchphát triển một số lĩnh vực nhất định và các chi phí về số thu minh bạch hơn

Tuy nhiên, việc phân định và quản lý lợi nhuận nào đạt tiêu chuẩn được hưởng mứcthuế suất thấp thường rất khó khăn và thường tạo cơ hội tránh thuế do các DN phải chịuthuế suất cao đã chuyển lợi nhuận sang các DN chịu thuế thấp hơn qua phương thứcchuyển giá

Ưu đãi về thời gian miễn thuế và giảm thuế: Đây là hình thức ưu đãi thuế phổ biếnnhất Hình thức này đơn giản, dễ thực hiện đối với DN và cơ quan thuế, tuy nhiên, nếuthời kỳ ưu đãi kéo dài - sẽ tăng áp lực cho thu ngân sách

Ngược lại, nếu thời gian ưu đãi ngắn - chỉ thu hút được các dự án ngắn hạn và dễgây nên tình trạng chuyển vốn sang đầu tư ở một nước khác để hưởng thời kỳ ưu đãi thuếmới Mặt khác, áp dụng hình thức này có thể gây ra hiện tượng trốn thuế (các công tymới sẽ được thành lập để hưởng thời kỳ ưu đãi thuế mới thay vì mở rộng đầu tư)

Giảm trừ nghĩa vụ thuế phải nộp qua chiết khấu đầu tư và tín dụng thuế so vớimiễn thuế kỳ hạn: Khấu trừ thuế với chi phí đầu tư là hình thức ưu đãi thông qua việcquy định cho phép DN thực hiện đầu tư được khấu trừ bổ sung một tỷ lệ nhất định tínhtrên giá trị đầu tư vào chi phí trước khi tính thuế hoặc vào số thuế phải nộp nhằm giảmnghĩa vụ thuế phải thực hiện với nhà nước

Trang 7

Tín dụng thuế thường được sử dụng khi Chính phủ muốn thúc đẩy DN đầu tư vàomột ngành nghề hay một số lĩnh vực nhất định Hai hình thức này là một công cụ tốt hơnmiễn thuế kỳ hạn khi cần đẩy mạnh các hình thức đầu tư, đồng thời tạo ra sự minh bạchhơn và dễ kiểm soát hơn.

Cho phép tính chi phí cao hơn qua hình thức như khấu hao nhanh - hình thức ưu đãithuế bằng cách cho phép DN được trích khấu hao tài sản cố định vào chi phí sản xuất hợp

lý được tính trừ cao hơn mức khấu hao cho phép theo lịch trình thông thường

Hiệu quả của biện pháp này là số thuế phải nộp được trì hoãn đẩy lùi về những kỳnộp thuế sau nhằm tạo điều kiện cho DN có thêm nguồn vốn để đẩy nhanh tốc độ thaythế tài sản vốn

Giảm gánh nặng lỗ: Lỗ của DN có thể được phân bổ khấu trừ vào các năm tiếp theo

để giảm thu nhập tính thuế - giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) mà các DNphải nộp

Hình thức này được xem như là hình thức hỗ trợ vốn cho các DN và có lợi chonhững dự án lớn đầu tư vào sản xuất Tuy nhiên, nó cũng gây ra những gánh nặng vềquản lý và nếu không có quy định đúng đắn về khấu hao có thể dẫn đến giảm hiệu quảcủa hình thức ưu đãi này

Thứ hai, Chính sách ưu đãi thuế gián tiếp

Chính phủ sử dụng các hình thức chủ yếu là miễn giảm thuế nhập khẩu và thuế giátrị gia tăng (GTGT) Các nước sử dụng hình thức miễn giảm thuế nhập khẩu và thuếGTGT và trong một số trường hợp cả thuế tiêu thụ đặc biệt cho các nhà đầu tư đượckhuyến khích trong việc nhập khẩu máy móc hoặc các nhà xuất khẩu đều hưởng thuếsuất 0%, theo đó được hưởng chế độ hoàn thuế GTGT

Việc áp dụng chính sách ưu đãi có thể được quy định trong luật thuế hoăc ở trongcác luật khác liên quan đến hoạt động của DN Tại nhiều quốc gia chính sách miễn giảmthuế được thực hiện cho các DN hoạt động ở các khu kinh tế đặc biệt như đặc khu kinh

tế, khu chế xuất hay khu công nghệ cao… Mỗi hình thức ưu đãi thuế đều có ưu và nhượcđiểm Việc lựa chọn hình thức nào là tùy thuộc vào thực tế mỗi quốc gia và mỗi thời kỳphát triển

1.3 Vai trò của việc áp dụng ưu đãi thuế

Do tính luân chuyển vốn quốc tế ngày càng tăng cùng với quá trình toàn cầu hóanên quyết định đầu tư cũng trở nên nhạy cảm hơn với chính sách thuế Trong một sốtrường hợp, việc áp dụng chính sách ưu đãi thuế được lý giải bởi lý do kinh tế Theo đó,

ưu đãi thuế áp dụng đối với các dự án đầu tư được kỳ vọng tạo ra ngoại ứng tích cực đối

Trang 8

với toàn bộ nền kinh tế như ngành công nghệ cao hay nghiên cứu khoa học Tuy nhiên,chi phí tiềm tàng của chính sách ưu đãi thuế cũng cần phải được tính đến khi đánh giá lợiích của chính sách này Chi phí này không chỉ là số giảm thu ngân sách mà còn là tácđộng tiêu cực (gây méo mó) đến quá trình phân bổ nguồn lực và làm cho hệ thống thuếtrở nên phức tạp hơn Việc đánh giá chi phí của áp dụng ưu đãi thuế thường dễ thực hiệnhơn là đánh giá lợi ích do ưu đãi thuế mang lại Lợi ích của ưu đãi thuế thường được đềcập đến bao gồm: tạo thêm việc làm, phát triển kinh tế, thúc đẩy chuyển giao công nghệ

và tạo ra hiệu ứng lan tỏa song việc lượng hóa các lợi ích này là không đơn giản (James,2013) Phân tích chi phí và lợi ích của ưu đãi thuế được khái quát như sau:

Áp dụng ưu đãi thuế có tác dụng thu hút dòng vốn đầu tư, góp phần thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế và giảm tỷ lệ thất nghiệp Hiện cũng đã có một số bằng chứng thựcnghiệm ủng hộ các quan điểm này Sau khi phân tích về tác động của thuế đối với dòngvốn đầu tư trực tiếp vào và ra khỏi Liên minh châu Âu, Gropp và Kostial (2000) đã kếtluận rằng tăng thuế suất có tác động tiêu cực đối với dòng vốn vào và khuyến khích dòngvốn ra Ưu đãi thuế có thể được sử dụng để nâng cao khả năng cạnh tranh của các dự ánđầu tư trong nước và vì vậy có tác dụng thu hút dòng vốn đầu tư, cả vốn đầu tư trực tiếplẫn vốn đầu tư gián tiếp;

Một quốc gia có thể sử dụng ưu đãi thuế để định hướng đầu tư vào địa bàn hoặclĩnh vực mà chính phủ mong muốn thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Các địa bàn vàlĩnh vực này được kỳ vọng tạo ra ngoại ứng tích cực đối với toàn bộ nền kinh tế(D’Amuri và Marenzi, 2005) Ưu đãi thuế đối với các dự án đầu tư tại các địa bàn kémphát triển rõ ràng mang lại ngoại ứng tích cực thông qua việc thu hẹp bất bình đẳng vềphân phối thu nhập Ưu đãi thuế trong trường hợp này được lý giải bởi lập luận rằngcông nghệ và tri thức là một loại hàng hóa công cộng và có tác động lan tỏa đối với cảnền kinh tế nhờ gia tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển

Ngoài ra, cũng có những lập luận cho rằng ưu đãi thuế là cần thiết để bù đắp chonhững hạn chế trong môi trường đầu tư của quốc gia nhận vốn như sự tụt hậu về kết cấu

hạ tầng hay sự hạn chế về khung khổ pháp lý (Holland và Vann, 1998) Điều này cũng lýgiải tại sao ưu đãi thuế được áp dụng khá phổ biến ở các nước đang phát triển hơn là ởcác nước phát triển Ưu đãi thuế cao đối với các dự án đầu tư tại các khu kinh tế và cácđịa bàn kém phát triển sẽ có tác dụng bù đắp cho sự bất lợi về vị trí địa lý, sự hạn chế về

cơ sở vật chất và qua đó nâng cao hiệu quả của cả khu vực

Trang 9

1.4 Hiệu quả của ưu đãi thuế từ các công trình đã được công bố

Có nhiều nghiên cứu thực chứng điều tra hiệu quả của ưu đãi thuế đối với khuyếnkhích đầu tư trực tiếp nước ngoài Tuy nhiên, đánh giá về hiệu quả của ưu đãi thuế vẫncòn nhiều ý kiến khác nhau Một số nghiên cứu ủng hộ quan điểm cho rằng ưu đãi thuế làhiệu quả trong khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài nhưng cũng có quan điểm chorằng tác động của ưu đãi thuế không tương xứng với chi phí của chính sách này Nhữngkết quả nghiên cứu thực chứng về hiệu quả của ưu đãi thuế được khái quát như sau:Gropp và Kostial (2000) đã nghiên cứu tác động của thuế đối dòng vốn vào và dòngvốn ra ở Liên minh châu Âu Các tác giả đã kết luận rằng thuế suất có tác động ngượcchiều đối với dòng vốn vào và có tác động thuận chiều đối với dòng vốn ra Nghiên cứu

đã chỉ ra rằng nếu tăng thuế suất theo luật định thêm 10 điểm phần trăm thì dòng vốn vàogiảm 0,3 điểm phần trăm GDP và dòng vốn ra tăng 0,2 điểm phần trăm GDP

Benassy-Quere, Fontagne & Labreche-Revil (2003) phân tích độ nhạy của FDI sovới sự khác nhau về thuế suất ở 11 quốc gia OECD trong giai đoạn 1984 đến 2000 Cáctác giả đã phát hiện ra rằng sự phân biệt về thuế suất tác động đến mức độ huy động vốnFDI và độ co giãn của thuế suất theo luật định là 4,22 điểm phần trăm Điều đó có nghĩa

là nếu quốc gia tiếp nhận đầu tư tăng thêm 1 phần trăm thuế suất so với mức thuế suất ởquốc gia có vốn đầu tư thì dòng vốn FDI thu hút vào giảm 4,22 điểm phần trăm

Altshuler, Grubert và Newlon (1998) đã nghiên cứu độ nhạy so với thuế suất củaquyết định đầu tư của các công ty đa quốc gia Hoa Kỳ vào năm 1984 và 1992 Các tácgiả đã phát hiện ra rằng độ co giãn thực tế về vốn so với lợi nhuận sau thuế là 1,7% năm

1984 và 3,2% năm 1992 Độ co giãn tăng từ 1,7 lên 3,2 cho thấy vốn đầu tư ra nướcngoài của các công ty đa quốc gia Hoa Kỳ đã có độ nhạy cao hơn so với sự khác biệt vềthuế ở các quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư

Một số nghiên cứu khác lập luận rằng ưu đãi thuế có ít vai trò đối với thu hút vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài Sau khi nghiên cứu các hệ thống thuế ở các quốc gia đangphát triển, nơi áp dụng khá phổ biến chính sách ưu đãi thuế, Tanzi và Zee (2000) đã kếtluận rằng hiệu quả của chính sách ưu đãi thuế đối với đầu tư là chưa rõ ràng bởi vì quyếtđịnh đầu tư vào một quốc gia tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó ưu đãi thuế chỉ là mộttrong các yếu tố có vai trò không lớn Ngoài ra, cũng có lập luận cho rằng ưu đãi thuế chỉ

có ý nghĩa bổ trợ cho các yêu tố khác mà nhà đầu tư lựa chọn quyết định đầu tư vì mụctiêu lợi nhuận (Heady, 2002) Các yếu tố này có thể bao gồm tiếp cận nguyên liệu và chấtlượng lao động với mức giá có tính cạnh tranh

Trang 10

Kết quả điều tra của UNIDO (2011a) về hiệu quả của các yếu tố ảnh hưởng đếnđầu tư cũng cho thấy ổn định kinh tế, ổn định chính trị, chi phí nguyên liệu, thị trườngnội địa, chi phí lao động, tính minh bạch của khung pháp lý tại quốc gia tiếp nhận đầu tưđược đánh giá cao hơn ưu đãi thuế Đặc biệt, kết quả nghiên cứu của UNIDO (2011a) gợi

ý rằng ưu đãi thuế

Nhìn từ giác độ xã hội, hiệu quả của chính sách ưu đãi thuế có thể có tác độngkhác nhau đến lợi ích của các chủ thể khác nhau trong xã hội như nhóm cá nhân có thunhập thấp, nam giới và nữ giới Khi dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng lên có thểtạo ra nhiều việc làm hơn nhưng chưa chắc nam giới và nữ giới được hưởng lợi nhưnhau Trong khi đó, chính sách thuế suất ưu đãi thuế thu nhập cá nhân tác động trực tiếpđến giảm thu ngân sách, qua đó làm giảm khả năng chi ngân sách, theo đó đối tượng bịtác động nhiều nhất là phụ nữ và trẻ em Nếu phụ nữ không có khả năng tiếp cận dịch vụ

y tế, giáo dục hay cơ hội việc làm do cắt giảm chi ngân sách thì cuộc sống của họ bị ảnhhưởng (Christian Aid, 2014) Bãi bỏ chính sách miễn thuế trong chính sách thuế TNDN

và TNCN có thể thúc đẩy bình đẳng giữa nam giới và nữ giới về gánh nặng thuế vì sẽkhuyến khích nữ giới tham gia kinh doanh, trở thành cổ đông hoặc chủ sở hữu nhà ở chothuê và được hưởng chính sách giảm trừ (GIZ, 2011)

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI VỀ THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ

NẴNG 2.1 Tổng quan về chính sách ưu đãi thuế tại Việt Nam

2.1.1 Chính sách ưu đãi thuế ở Việt Nam

Cùng với quá trình cải cách thuế, hệ thống chính sách ưu đãi thuế của Việt Namcũng đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung Từ khi thực hiện đổi mới, nhằm khuyếnkhích đầu tư và trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của nhiều quốc gia đang phát triển,Việt Nam đã xây dựng và áp dụng nhiều hình thức ưu đãi thuế khác nhau Các hình thức

ưu đãi thuế ở Việt Nam hiện nay bao gồm ưu đãi về thuế suất thuế TNDN, ưu đãi về thờigian miễn thuế, giảm thuế (miễn giảm thuế có thời hạn), miễn thuế gián thu (nhất là thuếnhập khẩu) và áp dụng khấu hao nhanh

Trước năm 2004, chính sách ưu đãi thuế ở Việt Nam có sự phân biệt đối xử giữađầu tư trong nước với đầu tư nước ngoài Thời gian này, sự phân biệt đối xử thể hiện rõnét trong chính sách thuế TNDN và thuế nhập khẩu Theo đó, đầu tư nước ngoài đã đượchưởng các mức ưu đãi cao hơn so với các nhà đầu tư trong nước Ngoài các luật thuế, cácchính sách ưu đãi thuế còn được quy định tại nhiều luật khác như Luật đầu tư trực tiếp

Trang 11

nước ngoài (1987) , Luật khuyến khích đầu tư trong nước và các văn bản hướng dẫn thihành.

Trong giai đoạn này, thuế suất phổ thông thuế TNDN đối với doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài là 25% trong khi đối với doanh nghiệp trong nước là 32% Thuế suất

ưu đãi áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 20%, 15% và 10%,trong khi đối với doanh nghiệp trong nước là 25%, 20% và 15% Doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài được hưởng thời hạn miễn giảm dài hơn, cụ thể là miễn thuế TNDNtối đa 4 năm và giảm 50% thuế TNDN trong 4 năm tiếp theo (trường hợp dự án cần đặcbiệt khuyến khích có thể áp dụng thời hạn 8 năm) Bên cạnh đó, các nhà đầu tư nướcngoài sử dụng thu nhập được phân bổ để tái đầu tư thì được hoàn thuế TNDN đã nộp đốivới phần thu nhập được sử dụng để tái đầu tư Trong giai đoạn này, cả doanh nghiệp cóvốn đầu tư trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều được miễn thuếnhập khẩu đối với máy móc thiết bị được nhập khẩu để hình thành tài sản cố định Tuynhiên, trong một số trường hợp, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoai được hưởngnhiều hơn doanh nghiệp trong nước Chỉ có doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mớiđược hưởng ưu đãi miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu và phụ tùng cho dự án đầu

tư tại địa bàn đặc biệt khuyến khích đầu tư Một loại hình ưu đãi về thuế gián thu khácđược áp dụng đối với cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài trong giaiđoạn này là chính sách giảm thuế TTĐB từ cuối thập niên 1990 để khuyến khích pháttriển công nghiệp ô tô trong nước Theo đó, thuế suất thuế TTĐB đối với xe ô tô lắp ráptrong nước chỉ bằng ½ mức thuế suất thuế TTĐB đối vơi xe ô tô nhập khẩu

Vào đầu thập niên 2000, nhiều giải pháp khác nhau đã được thực hiện để hình thànhmột hệ thống chính sách ưu đãi thuế bình đẳng, không phân biệt đối xử Sự phân biệt vềmức độ ưu đãi thuế giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài từng bước được bãi bỏ.Bước đi đầu tiên trong việc loại bỏ sự phân biệt về ưu đãi thuế là việc ban hành Luật thuếTNDN năm 2003 Theo Luật thuế TNDN năm 2003, ưu đãi thuế TNDN được áp dụngnhư nhau đối với doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài Trên thực tế,Luật thuế TNDN năm 2003 đã thống nhất áp dụng mức ưu đãi cao nhất trong Luật thuếTNDN năm 1997, Luật khuyến khích đầu tư trong nước (1998) và Luật đầu tư trực tiếpnước ngoài (1996) Luật này cũng đã bãi bỏ thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài trước

đó áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Đồng thời, năm 2005, Quốchội Việt Nam đã thông qua Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều của Luật thuế TTĐB, trong đó có quy định bãi bỏ phân biệt đối xử giữadoanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài Theo đó, từ năm 2006, mọi sự

Trang 12

phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài đã hoàn toàn

bị bãi bỏ Theo quy định pháp luật thuế hiện hành, doanh nghiệp trong nước và doanhnghiệp nước ngoài được đối xử như nhau cả về điều kiện cũng như mức độ ưu đãi thuế

* Mục tiêu và cơ sở pháp lý của chính sách ưu đãi thuế tại Việt Nam

Ưu đãi thuế là một trong những nội dung quan trọng trong chính sách thuế của ViệtNam Hầu hết các sắc thuế của Việt Nam đều có quy định về ưu đãi thuế, kể cả thuế trựcthu (thuế TNDN, thuế TNCN) và thuế gián thu (thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuếGTGT, thuế TTĐB) Mục tiêu của chính sách ưu đãi thuế là khuyến khích đầu tư vào địabàn hoặc lĩnh vực mà Chính phủ định hướng hoạt động đầu tư Do Việt Nam đang trongquá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường nên môi trường đầu tư vẫn còn nhiềuhạn chế như kết cấu hạ tầng kém phát triển, thiếu đồng bộ về khuôn khổ pháp lý Mặc dù

đã đạt nhiều kết quả quan trọng, song năm 2015 Việt Nam vẫn đang được Diễn đàn Kinh

tế Thế giới (WEF) xếp thứ 56 về năng lực cạnh tranh toàn cầu Chất lượng giáo dục vàđào tạo, trình độ công nghệ, trình độ phát triển thị trường tài chính của Việt Nam đang ở

vị trí thấp hơn nhiều quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Phi-lip-pin (WEF,2016) Do đó, việc ban hành và áp dụng chính sách ưu đãi thuế là cần thiết để bù đắpnhững hạn chế nêu trên, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam mong muốn thu hút đầu tưtrực tiếp nước ngoài

Tại Việt Nam, chính sách ưu đãi thuế được áp dụng nhằm khuyến khích đầu tư theolĩnh vực, địa bàn và theo quy mô dự án đầu tư Các lĩnh vực được hưởng ưu đãi khánhiều, trong đó có các lĩnh vực như giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, công nghệ cao, bảo

vệ môi trường, khoa học và công nghệ, phát triển kết cấu hạ tầng và công nghệ thông tin.Trước đây, chính sách ưu đãi thuế còn được áp dụng để khuyến khích sản xuất hàng xuấtkhẩu và khuyến khích tỷ lệ nội địa hóa tại Việt Nam Tuy nhiên, Việt Nam đã bãi bỏ cácchính sách này vào giữa thập niên 2000 theo cam kết khi gia nhập WTO Địa bàn haylĩnh vực được hưởng ưu đãi đầu tư hiện được quy định tại pháp luật về đầu tư Cụ thể,Luật đầu tư (2014) đã quy định 13 nhóm lĩnh vực và 2 loại địa bàn khuyến khích đầu tư

và giao cho Chính phủ quy định cụ thể các lĩnh vực và địa bàn được hưởng ưu đãi thuế(Điều 16) Đến luật Đầu tư năm 2020 bắt đầu có hiệu lực thì các lĩnh vực được hưởng ưuđãi đầu tư chỉ còn 10 lĩnh vực (Khoản 1 điều 16) và 2 loại địa bàn khuyến khích đầu tư.Ngoài ra, theo Luật đầu tư (2020), mức độ ưu đãi về thuế cụ thể sẽ được quy định trongpháp luật thuế Tại Việt Nam, việc xây dựng Luật đầu tư và các văn bản hướng dẫn do Bộ

Kế hoạch và Đầu tư chủ trì trong khi đó việc chủ trì xây dựng dự thảo các luật thuế vàcác văn bản hướng dẫn là do Bộ Tài chính

Trang 13

2.1.2 Các hình thức ưu đãi thuế ở Việt Nam và điều kiện được hưởng ưu đãi

2.3.1 Các hình thức ưu đãi thuế ở Việt Nam

Các hình thức ưu đãi thuế ở Việt Nam gồm ưu đãi về thuế suất thuế TNDN, ưu đãi

về thời gian miễn thuế, giảm thuế, miễn thuế gián thu (thuế GTGT và thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu) Nhìn chung, chính sách ưu đãi thuế của Việt Nam cơ bản tương tự nhưcác nước ASEAN (Thomsen, 2004) Trong số các hình thức ưu đãi, ưu đãi về thuế suất vàmiễn giảm thuế có thời hạn trong về thuế TNDN là phổ biến nhất Phân tích dưới đây sẽkhái quát quá trình phát triển cũng như các thuộc tính của các hình thức ưu đãi về thuếđang được áp dụng ở Việt Nam

Như đã trình bày ở trên, trước 31/12/2003, doanh nghiệp trong nước và doanhnghiệp nước ngoài được điều chỉnh bởi hai chính sách thuế TNDN khác nhau Từ01/01/2004, chính sách thuế TNDN được áp dụng thống nhất cho cả doanh nghiệp trongnước và doanh nghiệp nước ngoài Mức thuế suất phổ thông áp dụng chung là 28% thay

vì hai mức thuế suất 32% đối với doanh nghiệp trong nước và 25% đối với doanh nghiệpnước ngoài Những chính sách ưu đãi thuế TNDN trái với nguyên tắc “không phân biệtđối xử” của WTO, như các hình thức ưu đãi để khuyến khích nội địa hóa hay hỗ trợ xuấtkhẩu, cũng đã được bãi bỏ hoàn toàn Năm 2008, mức thuế suất phổ thông thuế TNDNđược giảm xuống 25% Năm 2013, thuế suất phổ thông được giảm xuống 22% từ01/01/2014 và tiếp tục giảm xuống 20% từ 01/01/2016 Mục tiêu của Chính phủ ViệtNam khi giảm thuế suất phổ thông thuế TNDN là nhằm tăng tính cạnh tranh của môitrường đầu tư trong nước

Năm 2014, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luậtthuế , theo đó, chính sách ưu đãi thuế TNDN đã có một số thay đổi về điều kiện và mức

ưu đãi Một số lĩnh vực (như công nghiệp hỗ trợ) được bổ sung vào diện được hưởng ưu

Trang 14

đãi Ưu đãi về thuế suất thuế TNDN có thể được áp dụng lên tới 15 năm đối với các dự

án có quy mô lớn có “năng lực cạnh tranh quốc tế” và có thu nhập từ 20.000 tỷ đồng/nămtrở lên (tương đương khoảng 950 triệu đô la Mỹ), kể từ năm đầu tiên có phát sinh thunhập Ngoài ra, các dự án đầu tư mới trong lĩnh vực công nghiệp ưu tiên cũng đượchưởng ưu đãi thuế TNDN Theo Chính phủ Việt Nam, mục tiêu của chính sách này làkhuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiệnđại hóa

Theo quy định hiện hành, ưu đãi thuế TNDN ở Việt Nam bao gồm các hình thứcsau:

• Ưu đãi về thuế suất thuế TNDN: Dự án đầu tư thuộc diện ưu đãi được áp dụngthuế suất 20% (từ 2016 là 17%), 15% hoặc 10%, tùy theo tiêu chí, như dự án tạo nhiềuviệc làm, dự án đầu tư tại địa bàn, lĩnh vực khuyến khích đầu tư Thuế suất ưu đãi được

áp dụng trong thời gian 10 năm hoặc 15 năm, kể từ khi bắt đầu thực hiện dự án đầu tư và

có thể được gia hạn trong một số trường hợp Một số dự án có thể được hưởng thuế suất

ưu đãi thuế TNDN suốt đời dự án, ví dụ như dự án đầu tư trong lĩnh vực xã hội hóa (y tế,giáo dục) có thể được áp dụng mức thuế suất 10% suốt đời dự án

• Ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế (Miễn giảm thuế có thời hạn): là hìnhthức miễn thuế từ khi doanh nghiệp có lợi nhuận hoặc giảm 50% mức thuế suất được ápdụng Tuy nhiên, nếu sau 3 năm kể từ khi bắt đầu hoạt động mà doanh nghiệp không cólợi nhuận thì thời gian hưởng ưu đãi tính từ năm thứ tư, kể từ khi doanh nghiệp bắt đầuhoạt động Miễn giảm thuế có thời hạn được áp dụng căn cứ vào điều kiện được hưởng

ưu đãi, theo đó, mức ưu đãi có thể áp dụng cao nhất là miễn thuế 4 năm và giảm 50% sốthuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo

• Khấu hao nhanh: Doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả kinh tế cao được khấu haonhanh đối với tài sản cố định nhưng tối đa không quá 2 lần mức khấu hao thông thường.Khi thực hiện trích khấu hao nhanh, doanh nghiệp phải đảm bảo kinh doanh có lãi

• Chuyển lỗ: Doanh nghiệp có lỗ được chuyển lỗ sang năm sau Thời gian đượcchuyển lỗ không quá 5 năm kể từ năm tiếp theo năm phát sinh lỗ

• Các trường hợp giảm thuế khác: i) Doanh nghiệp sản xuất, xây dựng, vận tải sửdụng nhiều lao động nữ được giảm thuế TNDN bằng số chi thêm cho lao động nữ ; ii)Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là người dân tộc thiểu số được giảm thuế TNDNbằng số chi thêm cho lao động là người dân tộc thiểu số; iii) Thu nhập từ việc thực hiệnhợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, thu nhập từ bán sản phẩm sảnxuất thử nghiệm và thu nhập từ sản xuất sản phẩm làm ra từ công nghệ mới, thu nhập từ

Trang 15

việc thực hiện hợp đồng dịch vụ kỹ thuật đối với lĩnh vực nông nghiệp và đào tạo nghềcho người khuyết tật.

Ngoài ra, doanh nghiệp được trích tối đa 10% thu nhập tính thuế hàng năm để thànhlập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp Quy định này được Chínhphủ Việt Nam áp dụng nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển côngnghệ của doanh nghiệp

TNCN: Thuế TNCN được áp dụng từ năm 1990 khi Pháp lệnh thuế thu nhập đốivới người có thu nhập cao được Quốc hội thông qua Năm 2007, Luật thuế TNCN đượcQuốc hội thông qua và được sửa đổi bổ sung vào năm 2012 và năm 2014 Luật thuếTNCN đã có những điều chỉnh chính sách quan trọng đối với thu nhập cá nhân tại ViệtNam Cụ thể là: giảm mức thuế suất cao nhất từ 40% xuống 35% đồng thời giảm mứcthuế suất thấp nhất từ 10% xuống 5% và mở rộng cơ sở thuế đối với thu nhập từ đầu tưvốn, thu nhập từ chuyển nhượng vốn và cho phép giảm trừ gia cảnh đối với người nộpthuế và người phụ thuộc Sự phân biệt đối xử về thuế TNCN đối với người Việt Nam vàngười nước ngoài cũng hoàn toàn được bãi bỏ Tỷ trọng thu ngân sách từ thuế TNCN có

xu hướng tăng lên song vẫn còn khá khiêm tốn Năm 2014, thu ngân sách từ thuế TNCNchiếm 5,44% tổng thu ngân sách, tương đương 1,18% GDP (BTC, 2016)

Theo Luật thuế TNCN, một số loại thu nhập được miễn thuế, bao gồm: i) Thu nhập

từ lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng, lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ; ii) Thu nhập từ bồithường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ; iii) Tiền lương hưu do Quỹ bảo hiểm

xã hội chi trả theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội (hoặc tiền lương hưu do nướcngoài chi trả theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội (hoặc tiền lương hưu do nước ngoàichi trả); iv) Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa các thành viên trong gia đình;v) Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa các thành viên trong gia đình;vi) Tiền lương hưu nhận được hàng tháng từ Quỹ hưu trí tự nguyện; vii) Thu nhập từ tiềnlương, tiền công của thuyển viên là người Việt Nam nhận được do làm việc cho các hãngtàu nước ngoài hoặc các hãng tàu Việt Nam vận tải quốc tế Ngoài ra, chính sách thuếTNCN có quy định giảm 50% nghĩa vụ thuế đối với cá nhân làm việc trong khu kinh tếnhằm khuyến khích phát triển các khu kinh tế

b) Thuế gián thu (thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu)

Thuế GTGT: Thuế GTGT được áp dụng từ 01/01/1999 Thuế GTGT hiện là sắcthuế có số thu lớn nhất trong hệ thống thuế của Việt Nam Năm 2014, thu ngân sách từthuế GTGT chiếm khoảng 27,9% tổng thu ngân sách, tương đương 6.07% GDP Ban đầu,chính sách thuế GTGT tại Việt Nam có 4 mức thuế suất: 0% đối với hàng hóa, dịch vụ

Trang 16

xuất khẩu, 5% đối với hàng hóa, dịch vụ thiết yếu (nước, phân bón, thuốc chữa bệnh,thiết bị giao dục); 20% đối với một số hàng hóa và dịch vụ đặc biệt (hàng hóa xa xỉ); và10% đối với hầu hết các loại hàng hóa và dịch vụ khác Tuy nhiên, mức thuế suất 20% đãđược bãi bỏ từ 01/01/2004 Theo chính sách thuế GTGT hiện hành, hàng hóa nhập khẩu

và hàng hóa sản xuất trong nước cùng chịu mức thuế suất như nhau Hàng hóa dịch vụxuất khẩu được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tương tự như các nước khác áp dụng thuếGTGT

Theo quy định hiện hành, có 25 loại hàng hóa, dịch vụ không thuộc đối tượng chịuthuế GTGT, ví dụ: một số sản phẩm nông nghiệp; dịch vụ tài chính phái sinh và dịch vụtín dụng; một số dịch vụ bảo hiểm; dịch vụ y tế; dạy học, dạy nghề; in, xuất bản, pháthành báo, tạp chí và một số loại sách; một số dịch vụ văn hóa, nghệ thuật, thể thao; dịch

vụ vận tải công cộng; chuyển giao công nghệ và dịch vụ phần mềm; một số sản phẩmxuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến như dầu thô, đá, cát, sỏi Năm 2009, Việt Nam áp dụng chính sách giảm 50% thuế suất thuế GTGT đối với một sốloại hàng hóa, dịch vụ trong thời gian một năm nhằm đối phó với tác động của khủnghoàng kinh tế toàn cầu

Thuế TTĐB: Tại Việt Nam, thuế TTĐB được áp dụng đối với hàng hóa và dịch vụtheo quy định tại Luật thuế TTĐB áp dụng từ năm 1990 Hiện nay, có 10 loại hàng hóa,dịch vụ chịu thuế TTĐB, bao gồm thuốc lá, rượu, bia, ô-tô dưới 24 chỗ ngồi, xe máyphân khối lớn, tàu bay, du thuyền , xăng dầu, điều hòa độ công suất từ 90.000 BTU trởxuống, kinh doanh vũ trường, mát-xa, karaoke, kinh doanh casino Có 10 mức thuế suấtthuế TTĐB từ 7% đến 70% Mức thuế suất cao nhất là 70% áp dụng đối với thuốc lá36.Mức thuế suất thấp nhất là 7% áp dụng đối với xăng sinh học E10 Năm 2014, thu ngânsách từ thuế TTĐB chiếm 8,3% tổng thu ngân sách, tương đương 1,8% GDP (BTC,2016)

Trước đây, chính sách ưu đãi thuế TTĐB áp dụng đối với một số hàng hóa sản xuấttrong nước, trong đó ô-tô và thuốc lá được ưu đãi về thuế suất nhằm khuyến khích sảnxuất trong nước thay cho hàng nhập khẩu Trước năm 2003, các nhà sản xuất trong nướcđược áp dụng mức thuế suất bằng 1/2 mức thuế suất trong biểu thuế suất thuế TTĐB (ápdụng đối với ô tô nhập khẩu) Chính sách này là nhằm hỗ trợ ngành công nghiệp ô tôtrong giai đoạn đầu và khuyến khích nội địa hóa Thuốc lá điếu có đầu lọc nhập khẩuchịu mức thuế suất 65% trong khi thuốc lá điếu có đầu lọc sản xuất trong nước có mứcthuế suất 45% Mọi hình thức ưu đãi thuế đối với sản xuất trong nước đã bị bãi bỏ từ năm

Trang 17

2005 Hiện hành, thuế TTĐB được áp dụng bình đẳng cả đối với hàng hóa sản xuất trongnước và hàng hóa nhập khẩu nhằm đáp ứng các điều kiện gia nhập WTO.

Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một trongnhững sắc thuế đầu tiên áp dụng tại Việt Nam Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàngmậu dịch được áp dụng từ năm 1988 khi Việt bắt đầu thực hiện chuyển đổi nền kinh tế.Năm 1991, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được Quốc hội thông qua, thay thế Luậtthuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch (1988), sau đó luật này được sửa đổi, bổsung năm 1993 và năm 2005 Tháng 3 năm 2016, Quốc hội đã thông qua Luật thuế xuấtkhẩu, thuế nhập khẩu thay thế Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005 Luật thuếxuất khẩu, thuế nhập khẩu (2016) quy định khá nhiều các trường hợp miễn thuế như: i)hàng hóa nhập khẩu để thực hiện các dự án đầu tư thuộc ngành nghề ưu đãi; ii) máy móc,thiết bị, phương tiện vận tải chuyên dùng và vật tư xây dựng để hình thành tài sản cốđịnh của một số dự án mà trong nước chưa sản xuất được; iii) nguyên liệu, phụ tùng, linhkiện, hàng mẫu, máy móc, thiết bị nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu Trường hợp dự

án đầu tư thực hiện tại địa bàn đặc biệt khuyến khích đầu tư thì doanh nghiệp cũng đượcmiễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu, thiết bị, linh kiện trong thời gian năm kể từ khibắt đầu thực hiện dự án

Trước năm 2012, Việt Nam đã áp dụng chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích xuấtkhẩu Theo đó, cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu được hoàn lại thuế nhập khẩu đã nộp đốivới nguyên liệu đầu vào nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu Chính sách cho phépdoanh nghiệp xuất khẩu nợ thuế cũng được áp dụng từ năm 1993 nhằm tạo thuận lợi chohàng hóa xuất khẩu Ban đầu, chính sách này cho phép doanh nghiệp được nợ thuế trong

90 ngày, sau đó thời gian cho nợ thuế được tăng lên 275 ngày Tuy nhiên, chính sách nàycũng đã bị bãi bỏ năm 2012 theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củaLuật quản lý thuế Thay vào đó, hiện nay, nguyên liệu, linh kiện, phụ tùng nhập khẩu đểsản xuất hàng xuất khẩu được miễn thuế nhập khẩu

2.3.2 Phạm vi và điều kiện áp dụng chính sách ưu đãi thuế ở Việt Nam

Chính sách ưu đãi thuế hiện hành áp dụng theo địa bàn và theo lĩnh vực Tiêu chí ápdụng ưu đãi được quy định trong Luật đầu tư (2020) và các văn bản hướng dẫn củaChính phủ Hiện nay, các dự án đầu tư đáp ứng một trong các điều kiện sau thì đượchưởng ưu đãi thuế :

• Đầu tư trong lĩnh vực và ngành nghề được hưởng ưu đãi đầu tư hoặc đặc biệt ưuđãi đầu tư (Danh mục ưu đãi và Danh mục đặc biệt ưu đãi) Lĩnh vực ưu đãi và đặc biệt

ưu đãi đầu tư bao gồm: hoạt động công nghệ cao; nghiên cứu khoa học và phát triển công

Trang 18

nghệ; sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; sảnxuất sản phẩm tạo ra tối thiểu 30% giá trị gia tăng; sản phẩm tiết kiệm năng lượng; sảnxuất phụ kiện, linh kiện điện tử, cụm chi tiết điện tử, sản phẩm cơ khí, máy phục vụ chosản xuất nông nghiệp, ô tô, phụ tùng ô tô, đóng tàu, trồng trọt, chế biến sản phẩm nôngnghiệp,…

• Đầu tư tại địa bàn trong danh mục các địa bàn khuyến khích đầu tư bao gồm địabàn địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xãhội đặc biệt khó khăn; khu công nghiệp; khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;

• Đầu tư vào các dự án sản xuất lớn với tổng vốn đầu tư từ 6 nghìn tỷ đồng trở lên

và đáp ứng các điều kiện sau: (i) Doanh thu tối thiểu 10 nghìn tỷ đồng/năm trong 3 nămđầu, sau năm thứ nhất đi vào hoạt động; (ii) sử dụng ít nhất 3.000 lao động toàn thời giantối thiểu 3 năm sau năm thứ nhất đi vào hoạt động

• Dự án đầu tư tại vùng nông thôn sử dụng từ 500 lao động trở lên (không bao gồmlao động làm việc không trọn thời gian và lao động có hợp đồng lao động dưới 12 tháng);

• Doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tổ chức khoahọc và công nghệ theo quy định của luật công nghệ cao, luật khoa học và công nghệ

• Dự án đầu tư tại vùng nông thôn sử dụng từ 500 lao động trở lên (không bao gồmlao động làm việc không trọn thời gian và lao động có hợp đồng lao động dưới 12 tháng);

• Doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tổ chức khoahọc và công nghệ theo quy định của luật công nghệ cao, luật khoa học và công nghệ.Mức ưu đãi thực tế được xác định trên cơ sở doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí ưuđãi Dự án đầu tư tại khu vực thuộc Danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội khókhăn và đầu tư vào lĩnh vực thuộc Danh mục đặc biệt ưu đãi đầu tư thì được hưởng mức

ưu đãi cao nhất Các dự án lớn cũng được hưởng ưu đãi đầu tư tương tự như dự án đầu tưvào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn Dự án đầu tư trong lĩnh vựckhuyến khích đầu tư và tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn được hưởng ưuđãi tương tự như dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

Dự án đầu tư được hưởng nhiều mức ưu đãi thì được áp dụng mức ưu đãi cao nhất

Theo Luật đầu tư (2020), nếu dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, cơquan cấp Giấy chứng nhận đầu tư sẽ ghi hình thức ưu đãi đầu tư trên Giấy chứng nhậnđăng ký đầu tư Nếu dự án đầu tư thuộc diện không phải cấp Giấy chứng nhận đầu tư,nhà đầu tư được hưởng ưu đãi nếu đáp ứng đủ điều kiện ưu đãi đầu tư mà không phải xincấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Trong trường hợp này, nhà đầu tư tự xác định hình

Trang 19

thức ưu đãi và thực hiện các thủ tục để được hưởng ưu đãi với cơ quan thuế, cơ quan tàichính hay cơ quan hải quan theo các điều kiện ưu đãi đầu tư.

Ngoài ra, chính sách ưu đãi thuế TNDN nêu trên chỉ áp dụng đối với doanh nghiệptuân thủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ và nộp thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp.Doanh nghiệp phải hạch toán riêng thu nhập từ hoạt động được hưởng ưu đãi và thu nhập

từ hoạt động không được hưởng ưu đãi, nếu không sẽ xác định theo tỷ lệ doanh thu từhoạt động được hưởng ưu đãi trên tổng doanh thu của doanh nghiệp Mặt khác, ưu đãithuế TNDN không áp dụng đối với thu nhập từ hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thácdầu khí và các tài nguyên quý hiếm khác; thu nhập từ kinh doanh casio và trò chơi cóthưởng

2.2 Thực trạng chính sách ưu đãi thuế tại chi cục thuế quân Hải Châu

2.2.1 Ưu đãi thuế thu nhâp doanh nghiệp

2.2.1.1 Về chủ thể được hưởng ưu đãi và diện ưu đãi

Nghị định 124/2008/NĐ-CP quy định chi tiết về thuế TNDN đã cụ thể hóa về ưuđãi thuế, tuy nhiên Nghị định này mới tập trung ưu đãi đối với những dự án, doanhnghiệp có liên quan đến ngành, lĩnh vực đầu tư và địa bàn đầu tư trong khi đó chưa chútrọng đến quy mô vốn, doanh thu của doanh nghiệp Các doanh nghiệp tại quận Hải Châuđều là những doanh nghiệp vừa và nhỏ với số vốn đầu tư không quá lớn, ngành nghề sảnxuất đều là những ngành nghề thông thường nên có rất ít các doanh nghiệp được hưởng

sự ưu đãi Nếu chấp hành nghiêm chỉnh Luật thuế thì chi phí tuân thủ của các doanhnghiệp này đều ở mức cao Ngoài ra cũng do những quy định tại Luật thuế TNDN năm

2008 không rõ ràng khi quy định về chủ thể ưu đãi thuế TNDN khiến cho khá nhiềudoanh nghiệp còn nhầm lẫn trong việc áp dụng

Luật thuế TNDN năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành không nêu rõ thếnào là doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư, những doanh nghiệp này có đặc điểm

và cần những thủ tục như thế nào để được hưởng ưu đãi thuế Chỉ đến khi áp dụng vàothực tế, phát sinh vấn đề thì mới thấy được sự bất cập này của các văn bản luật Ở vụ ántrên, sau khi bản án phúc thẩm có hiệu lực, DNTN Quỳnh Hương đã gửi công văn lên BộTài chính và Tổng Cục thuế Từ những chính sách không rõ ràng về chủ thể và diện ưuđãi thuế TNDN, khi đưa vào áp dụng sẽ gây khó khăn cho cả doanh nghiệp và cán bộthuế, chỉ đến khi có vướng mắc thì mới có công văn hay văn bản điều chỉnh nhằm tạođiều kiện cho doanh nghiệp

Vấn đề trên đã được sửa đổi gần như hoàn toàn trong Luật thuế TNDN số32/2013/QH13 và trong Nghị định 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 quy định chi tiết

Trang 20

và hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN Theo khoản 7 Điều 1 Luật thuế TNDN số32/2013/QH13 quy định:

Điều 13 được sửa đổi, bổ sung như sau: Điều 13 Ưu đãi về thuế suất

1 Áp dụng thuế suất 10% trong thời gian mười lăm năm đối với:

a) Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới tại địa bàn có điềukiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao;

b)Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới, bao gồm: nghiên cứukhoa học và phát triển công nghệ; ứng dụng công nghệ cao thuộc danh mục công nghệcao được ưu tiên đầu tư phát triển theo quy định của Luật Công nghệ cao; ươm tạo côngnghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; đầu tư mạo hiểm cho phát triển côngnghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển theo quy định củaLuật Công nghệ cao; đầu tư xây dựng - kinh doanh cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươmtạo doanh nghiệp công nghệ cao; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng củaNhà nước theo quy định của pháp luật; sản xuất sản phẩm phần mềm; sản xuất vật liệucomposit, các loại vật liệu xây dựng nhẹ, vật liệu quý hiếm; sản xuất năng lượng tái tạo,năng lượng sạch, năng lượng từ việc tiêu hủy chất thải; phát triển công nghệ sinh học;bảo vệ môi trường;

c) Thu nhập của doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụngcông nghệ cao theo quy định của Luật Công nghệ cao;

d) Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực sảnxuất (trừ dự án sản xuất mặt hàng thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, dự án khai tháckhoáng sản) đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

- Dự án có quy mô vốn đầu tư tối thiểu sáu nghìn tỷ đồng, thực hiện giải ngânkhông quá ba năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đầu tư và có tổng doanh thu tốithiểu đạt mười nghìn tỷ đồng/năm, chậm nhất sau ba năm kể từ năm có doanh thu;

- Dự án có quy mô vốn đầu tư tối thiểu sáu nghìn tỷ đồng, thực hiện giải ngânkhông quá ba năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đầu tư và sử dụng trên ba nghìnlao động [28, Điều 1, khoản 7 luật Thuế TNDN 2013] Theo quy định của Luật thuếTNDN số 32/2013/QH13 thì được hưởng ưu đãi không còn là “doanh nghiệp được thànhlập mới từ dự án đầu tư” với những điều kiện kèm theo nữa mà đã là thu nhập của doanhnghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới với những điều kiện đi kèm Với những quy địnhnày thì diện được hưởng ưu đãi đã thu hẹp lại hơn rất nhiều cùng với đó các nhà làm luậtcũng đã chú trọng hơn đến nguồn vốn của doanh nghiệp Tuy nhiên, với những điều kiện

Trang 21

hưởng ưu đãi như vậy, thì trên thực tế địa bàn thành phố Hải Dương số lượng doanhnghiệp được hưởng ưu đãi sẽ gần như không có, bởi những doanh nghiệp này đều lànhững doanh nghiệp vừa và nhỏ, số vốn đầu tư không quá lớn Đây cũng là điểm mànhững doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và địa bàn những thành phố có tìnhhình kinh tế xã hội tương tự đều bị hạn chế về ưu đãi thuế.

Những quy định mới tại Luật thuế TNDN năm 2013 và những văn bản hướng dẫnkèm theo đã phần nào tháo gỡ được những thắc mắc và khó khăn cho doanh nghiệp,tránh được sự nhầm lẫn Đặc biệt theo quy định tại Luật thuế TNDN số 32/2013/QH13,Nghị định 218/2013/NĐ-CP, Thông tư 78/2014/TT-BTC, Thông tư 119/2014/TT-BTC thìnhững lần sửa đổi này các nhà làm luật đã chú trọng đến ưu đãi đối với dự án đầu tư mởrộng Tuy nhiên những vướng mắc ban đầu vẫn còn chưa rõ ràng như:

Theo quy định trong Luật thuế số 32/2013/QH2013 thì chủ thể và diện được hưởng

ưu đãi là “Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới”; vậy phải hiểu

“doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới” như thế nào? Nếu theo quy định này có thể

có 2 cách hiểu như sau:

Doanh nghiệp đã thành lập và tiếp tục đầu tư thực hiện một dự án mới;

Doanh nghiệp được thành lập từ một dự án đầu tư mới

Theo Thông tư 78/2014/TT-BTC và Thông tư 119/2014/TT-BTC thì có thể hiểu đây

là doanh nghiệp được thành lập từ một dự án đầu tư mới, như vậy không thay đổi nhiều

so với Luật thuế TNDN năm 2008 Nhưng điểm này vẫn dễ gây hiểu lầm cho các doanhnghiệp giống như vụ án đã nêu ở trên Và trên thực tế hoạt động, kể từ khi Luật thuếTNDN số 32/2013/QH13 có hiệu lực, Chi cục thuế thành phố Hải Dương đã nhận đượckhá nhiều công văn thắc mắc của các doanh nghiệp trên địa bàn hỏi về vấn đề diện ưu đãithuế TNDN

2.2.2.2 Về ưu đãi thuế suất

Thuế suất thuế TNDN được quy định tại Điều 10 Luật thuế TNDN năm 2008 là25% Trong những trường hợp được ưu đãi, doanh nghiệp có thể được hưởng mức thuếsuất thấp hơn Cụ thể quy định tại Điều 15 Nghị định 124/2008/NĐ-CP hướng dẫn chitiết thi hành Luật thuế TNDN năm 2008:

Điều 15 Thuế suất ưu đãi

1 Thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm áp dụng đối với: a) Doanh nghiệpthành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

Trang 22

quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này, khu kinh tế, khu công nghệ caođược thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ;

b) Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực:

- Công nghệ cao theo quy định của pháp luật; nghiên cứu khoa học và phát triểncông nghệ;

- Đầu tư phát triển nhà máy nước, nhà máy điện, hệ thống cấp thoát nước; cầu,đường bộ, đường sắt; cảng hàng không, cảng biển, cảng sông; sân bay, nhà ga và côngtrình cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định;

- Sản xuất sản phẩm phần mềm

2 Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực quy định tại điểm bkhoản 1 Điều này có quy mô lớn, công nghệ cao hoặc mới cần đặc biệt thu hút đầu tư, thìthời gian áp dụng thuế suất ưu đãi có thể kéo dài nhưng tổng thời gian áp dụng thuế suất10% không quá 30 năm Thủ tướng Chính phủ quyết định việc kéo dài thêm thời gian ápdụng thuế suất ưu đãi 10% quy định tại khoản này theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tàichính

3 Thuế suất 10% trong suốt thời gian hoạt động áp dụng đối với phần thu nhập củadoanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thểthao và môi trường (sau đây gọi chung là lĩnh vực xã hội hóa)

Danh mục các hoạt động trong lĩnh vực xã hội hoá quy định tại khoản này do Thủtướng Chính phủ quy định

4 Thuế suất ưu đãi 20% áp dụng trong thời gian 10 năm đối với doanh nghiệpthành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn quy địnhtại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này

5 Thuế suất ưu đãi 20% áp dụng trong suốt thời gian hoạt động đối với hợp tác xãdịch vụ nông nghiệp và quỹ tín dụng nhân dân

Đối với hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, quỹ tín dụng nhân dân sau khi hết thời hạn

áp dụng mức thuế suất 10% quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thì chuyển sang ápdụng mức thuế suất 20%

6 Thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi quy định tại Điều này được tính liên tục từnăm đầu tiên doanh nghiệp có doanh thu từ hoạt động được hưởng ưu đãi thuế [ Điều 15thuế thu nhập doanh nghiêp 2008]

Có 02 mức thuế suất ưu đãi được quy định trong luật là 10% và 20% So với cácnước trong khu vực mức thuế suất áp dụng như vậy là khá cao

Trang 23

Từ khi Luật thuế TNDN số 32/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày01/01/2014, thuế suất thuế TNDN áp dụng chung là 22%; đối với những doanh nghiệp códoanh thu chưa đến 20 tỷ thì áp dụng mức thuế suất là 20%, nhưng mức thuế suất ưu đãivẫn giữ nguyên ở mức 10% và 20% Từ mức thuế suất 22% và 20% mà xuống áp dụngmức thuế suất 20% thì không có sự thay đổi đáng kể, không khuyến khích được doanhnghiệp đầu tư phát triển sản xuất và kinh doanh.

Trước những yêu cầu của thực tiễn, việc áp dụng ưu đãi thuế suất thuế TNDN theoquy định tại Luật thuế TNDN năm 2008 vẫn còn dàn trải nhưng cũng chưa thể hiện đượchết các ngành nghề cần thiết theo yêu cầu của xã hội Chính vì vậy sự ra đời của Luậtthuế TNDN số 32/2013/QH13 đã khắc phục được những nhược điểm trên

2.2.1.3 Về thời gian hưởng ưu đãi thuế TNDN và thời gian miễn thuế, giảm thuế

Miễn thuế, giảm thuế là việc cơ quan quản lý thuế quyết định cho chủ thể nộp thuếđược hưởng những ưu đãi về thuế theo quy định của pháp luật Miễn thuế là ưu đãi màtheo đó, chủ thể nộp thuế được miễn trừ nghĩa vụ nộp tiền thuế Giảm thuế là ưu đãi màtheo đó, chủ thể nộp thuế được miễn trừ một phần nghĩa vụ nộp tiền thuế

Luật thuế TNDN năm 2008 và Luật thuế TNDN số 32/2013/QH13 đều có quy định

về thời gian hưởng mức thuế suất ưu đãi 10%, 20% đối với từng trường hợp cụ thể Điểmđáng lưu ý là tại Luật thuế TNDN số 32/2013/QH13 thì những trường hợp được hưởng

ưu đãi đã có phần cụ thể và mở rộng hơn với những tiêu chí rõ ràng về vốn đầu tư

Theo quy định tại khoản 5 Điều 16 Nghị định 218/2013/NĐ-CP:

5 Doanh nghiệp có dự án đầu tư phát triển dự án đầu tư đang hoạt động thuộc lĩnhvực, địa bàn ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Nghị định này mởrộng quy mô sản xuất, nâng cao công suất, đổi mới công nghệ sản xuất nếu đáp ứng mộttrong ba tiêu chí quy định tại Khoản này thì được lựa chọn hưởng ưu đãi thuế theo dự ánđang hoạt động cho thời gian còn lại (nếu có) hoặc được miễn thuế, giảm thuế đối vớiphần thu nhập tăng thêm do đầu tư mở rộng mang lại Thời gian miễn thuế, giảm thuế đốivới thu nhập tăng thêm do đầu tư mở rộng quy định tại Khoản này bằng với thời gianmiễn thuế, giảm thuế áp dụng đối với dự án đầu tư mới trên cùng địa bàn, lĩnh vực ưu đãithuế thu nhập doanh nghiệp

Dự án đầu tư mở rộng quy định tại Khoản này phải đáp ứng một trong các tiêu chísau:

- Nguyên giá tài sản cố định tăng thêm khi dự án đầu tư hoàn thành đi vào hoạtđộng đạt tối thiểu từ 20 tỷ đồng đối với dự án đầu tư mở rộng thuộc lĩnh vực hưởng ưuđãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Nghị định này hoặc từ 10 tỷ đồng đối

Trang 24

với các dự án đầu tư mở rộng thực hiện tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khókhăn hoặc đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp;

- Tỷ trọng nguyên giá tài sản cố định tăng thêm đạt tối thiểu từ 20% so với tổngnguyên giá tài sản cố định trước khi đầu tư;

- Công suất thiết kế tăng thêm tối thiểu từ 20% so với công suất thiết kế trước khiđầu tư

So với Luật thuế TNDN năm 2008 thì Luật thuế TNDN số 32/2013/QH13 không có

gì thay đổi về thời gian được miễn thuế giảm thuế, vẫn áp dụng mức tối đa được miễnthuế là 04 năm và giảm 50% trong 09 năm tiếp theo nhưng đã có sự mở rộng hơn về điềukiện được miễn, giảm thuế và đã có những quy định cụ thể đối với doanh nghiệp có dự

án đầu tư phát triển mở rộng

2.2.1.4 Vấn đề về giảm thuế đối với một số trường hợp khác

Theo Điều 17 Nghị định 124/2008/NĐ-CP quy định về các trường hợp giảm thuếkhác:

1 Doanh nghiệp sản xuất, xây dựng, vận tải sử dụng nhiều lao động nữ được giảmthuế thu nhập doanh nghiệp bằng số chi thêm cho lao động nữ, gồm:

a) Chi đào tạo lại nghề;

b) Chi phí tiền lương và phụ cấp (nếu có) cho cô giáo dạy ở nhà trẻ, mẫu giáo dodoanh nghiệp tổ chức và quản lý;

c) Chi khám sức khoẻ thêm trong năm;

d) Chi bồi dưỡng cho lao động nữ sau khi sinh con Căn cứ quy định của pháp luật

về lao động, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định

cụ thể mức chi bồi dưỡng quy định tại khoản này;

đ) Lương, phụ cấp trả cho thời gian lao động nữ được nghỉ sau khi sinh con, nghỉcho con bú theo chế độ nhưng vẫn làm việc

2 Doanh nghiệp sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số được giảm thuế thunhập doanh nghiệp bằng số chi thêm cho lao động là người dân tộc thiểu số để đào tạonghề, tiền hỗ trợ về nhà ở, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người dân tộc thiểu sốtrong trường hợp chưa được Nhà nước hỗ trợ theo chế độ quy định

Quy định chưa nêu rõ về số lượng lao động nữ, từ bao nhiêu trở lên là nhiều và điềukiện sử dụng lao động nữ như thế nào thì sẽ được giảm thuế

Vướng mắc trên đã được tháo gỡ theo quy định tại Điều 17 Nghị định218/2013/NĐ-CP, trong đó đã nêu rõ số lượng lao động nữ mà doanh nghiệp sử dụng vàđiều kiện bắt buộc để được hưởng giảm thuế TNDN Hơn nữa theo quy định tại các văn

Trang 25

bản luật mới, các nhà làm luật đã chú trọng đến doanh nghiệp thực hiện chuyển giaocông nghệ thuộc lĩnh vực ưu tiên.

2.2.2 Ưu đãi thuế giá trị gia tăng

2.2.2.1.Về đối tượng và các trường hợp được khấu trừ thuế giá trị gia tăng

Thứ nhất, về đối tượng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng: Theo qui định khấu trừ

thuế giá trị gia tăng chỉ được áp dụng đối với CSKD nộp thuế giá trị gia tăng theophương pháp khấu trừ Nếu như tại Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 qui định “Phươngpháp khấu trừ thuế áp dụng đối với CSKD thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn,chứng từ theo qui định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ và đăng kí nộp thuếtheo phương pháp khấu trừ thuế” (Khoản 2 Điều 10) thì Luật sửa đổi, bổ sung thuế giátrị gia tăng năm 2013 qui định: “Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với CSKD thựchiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo qui định của pháp luật về kế toán, hoáđơn, chứng từ bao gồm: a) CSKD có doanh thu hàng năm từ bán hàng hoá, cung ứngdịch vụ từ một tỉ đồng trở lên, trừ hộ, cá nhân kinh doanh; b) CSKD đăng kí tự nguyện

áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, trừ hộ, cá nhân kinh doanh” (khoản 2 Điều 10) Nhưvậy, kể từ ngày 1/1/2014 để được áp dụng phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng thìCSKD phải thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ và đáp ứng điều kiện vềngưỡng doanh thu Thực tiễn áp dụng qui định này đã phát sinh nhiều bất cập đối với DNkinh doanh trên địa bàn quận Hải Châu nói riêng và cả nước nói chung

Một là, do văn bản hướng dẫn ban hành chưa kịp thời, thiếu tính đồng bộ nên khi

thực hiện người nộp thuế và cơ quan thuế lúng túng Cụ thể: Luật sửa đổi, bổ sung thuếgiá trị gia tăng số 31/2013/QH13 ban hành ngày 19/6/2013 nhưng đến thời điểm có hiệulực (01/01/2014) thì không có hướng dẫn của Bộ Tài chính Để “chữa cháy”, ngày18/12/2013 Bộ Tài chính ban hành công văn số 17557/BTC-TCT V/v triển khai thực hiệnmột số qui định có hiệu lực từ ngày 1/1/2014 tại Luật sửa đổi bổ sung thuế giá trị gia tăngnăm 2013, hướng dẫn: ngưỡng doanh thu hàng năm từ một tỉ đồng trở lên để được ápdụng phương pháp khấu trừ thuế là tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra chịuthuế giá trị gia tăng trên Tờ khai thuế giá trị gia tăng tháng của kỳ khai thuế từ tháng12/2012 đến hết tháng 11/2013 Tuy nhiên, hướng dẫn này chỉ phù hợp đối với DN khaithuế giá trị gia tăng theo tháng, DN khai thuế giá trị gia tăng theo quý không xác địnhđược Ngày 27/12/2013, Bộ Tài chính ban hành công văn số 18128/BTC-TCT V/v triểnkhai thực hiện một số qui định có hiệu lực từ 01/01/2014 tại Luật sửa đổi bổ sung thuếgiá trị gia tăng 2013 hướng dẫn xác định doanh thu để được áp dụng phương pháp khấu

Trang 26

trừ đối với DN khai thuế giá trị gia tăng theo quý là doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán

ra chịu thuế giá trị gia tăng trên Tờ khai thuế giá trị gia tăng của kỳ tính thuế các tháng

10, 11, 12/2012, 6 tháng đầu năm 2013 và trên Tờ khai thuế giá trị gia tăng của kỳ tínhthuế quý 3/2013 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chínhhướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày18/12/2013 của Chính phủ qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuếgiá trị gia tăng qui định" Doanh thu hàng năm từ một tỉ đồng trở lên làm căn cứ xác địnhCSKD nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ theo hướng dẫn tại điểm akhoản 1 Điều này là doanh thu bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng

và được xác định như sau: a) Doanh thu hàng năm do CSKD tự xác định căn cứ vào tổngcộng chỉ tiêu “Tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra chịu thuế giá trị gia tăng”trên Tờ khai thuế giá trị gia tăng tháng của kỳ tính thuế từ tháng 11 năm trước đến hết kỳtính thuế tháng 10 năm hiện tại trước năm xác định phương pháp tính thuế giá trị gia tănghoặc trên Tờ khai thuế giá trị gia tăng quý của kỳ tính thuế từ quý 4 năm trước đến hết kỳtính thuế quý 3 năm hiện tại trước năm xác định phương pháp tính thuế giá trị gia tăng.Thời gian áp dụng ổn định phương pháp tính thuế là 2 năm liên tục" (Khoản 2b Điều 12)

Hai là, qui định về phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với DN thành lập (từ

ngày 1/1/2014 ) đã gây ra nhiều khó khăn trong hoạt động SXKD của các DN trên địabàn quận Hải Châu Cụ thể: Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với "DN, HTX mớithành lập có thực hiện đầu tư, mua sắm tài sản cố định, máy móc, thiết bị có giá trị từ 1 tỉđồng trở lên ghi trên hoá đơn mua tài sản cố định, máy móc, thiết bị, kể cả hoá đơn muatài sản cố định, máy móc, thiết bị trước khi thành lập (không bao gồm ô tô chở người từ 9chỗ ngồi trở xuống của CSKD không hoạt động vận tải, du lịch, khách sạn)” (Khoản 3cĐiều 12 Thông tư 219/2013/TT-BTC) Phần lớn DN trên địa bàn quận hoạt động tronglĩnh vực thương mại, dịch vụ là chính nên tài sản đầu tư ban đầu thường rất thấp, do vậy

để có tài sản đầu tư ban đầu từ một tỉ đồng trở lên là điều “bất khả thi” Nhiều DN dokhông được áp dụng phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng nên sau khi nhận đượcgiấy phép đăng kí kinh doanh buộc phải hủy bỏ hợp đồng mua bán, tạm ngừng hoạt độnghoặc giải thể DN…

Đến ngày 25/8/2014 Bộ Tài chính ban hành Thông tư 119/2014/TT-BTC sửa đổi,

bổ sung một số điều của Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013, Thông tư số111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013, Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013,Thông tư số 08/2013/TT-BTC ngày 10/01/2013, Thông tư số 85/2011/TT-BTC ngày17/6/2011,Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 và Thông tư số 78/2014/TT-

Trang 27

BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính để cải cách, đơn giản các thủ tục hành chính vềthuế, trong đó sửa đổi bổ sung khoản 3c Điều 12 của Thông tư 219/2013/TT-BTC nhưsau: “DN, HTX mới thành lập có thực hiện đầu tư, mua sắm, nhận góp vốn bằng tài sản

cố định, máy móc, thiết bị, công cụ, dụng cụ hoặc có hợp đồng thuê địa điểm kinhdoanh” Qui định này đã phần nào tháo gỡ khó khăn cho DN mới thành lập do không bắtbuộc phải đầu tư tài sản từ một tỉ đồng trở lên Tuy nhiên, với qui định “CSKD hướngdẫn tại điểm b, c khoản này phải gửi Thông báo về việc áp dụng phương pháp tính thuếgiá trị gia tăng tới cơ quan thuế quản lý trực tiếp… Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngàynhận được Thông báo về việc áp dụng phương pháp khấu trừ, cơ quan thuế phải có vănbản thông báo cho DN, HTX, CSKD biết việc chấp thuận hay không chấp thuận Thôngbáo về việc áp dụng phương pháp khấu trừ thuế” (khoản 3 Điều 3 Thông tư 119/2014/TT-BTC) là chưa phù hợp với thực tế Bởi lẽ cơ quan thuế khi trả lời chấp thuận hay khôngchấp thuận thì đều không có căn cứ do các hồ sơ tài liệu đều được lưu giữ tại CSKD Mặtkhác với qui định này thì chỉ cần DN mua sắm công cụ, dụng cụ với giá trị nào cũngđược áp dụng phương pháp khấu trừ thuế nên Thông báo chấp thuận hay không chấpthuận của cơ quan thuế là “thừa” và tăng thời gian trong thực hiện thủ tục hành chính củangười nộp thuế

Với mục đích đơn giản hoá cách tính thuế đối với người nộp thuế có quy mô nhỏ,siêu nhỏ cũng như hạn chế tính trạng một số ít DN lợi dụng cơ chế thông thoáng trongviệc thành lập DN để thành lập DN chỉ nhằm mua bán hoá đơn, lợi dụng hoá đơn khống

để khấu trừ, hoàn thuế làm ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh, gây thất thu chongân sách nhà nước Luật sửa đổi, bổ sung thuế giá trị gia tăng năm 2013 qui định cơ chếngưỡng đăng kí nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ và phương pháp trựctiếp trên giá trị gia tăng để khắc phục những vướng mắc hiện hành Tuy nhiên, trong giaiđoạn đầu thực hiện đã ảnh hưởng lớn hoạt động kinh doanh của các DN mới thành lập cóquy mô vừa và nhỏ, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà DN này phải đối mặt vớinhiều khó khăn như không tiếp cận được nguồn vốn vay, chi phí đầu vào lớn, sản phẩmtiêu thụ chậm, hàng tồn kho cao dẫn đến quy mô sản xuất bị thu hẹp, nhiều DN buộc phảingừng hoạt động hoặc phá sản, giải thể Do vậy, chính sách thuế nói chung và Luật thuếgiá trị gia tăng nói riêng cần tạo điều kiện thuận lợi để các DN kinh doanh chân chính có

cơ hội tồn tại và phát triển

Trang 28

Thứ hai, về điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng: Luật sửa đổi, bổ sung thuế giá

trị gia tăng năm 2013 qui định CSKD tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấutrừ phải đáp ứng đồng thời hai điều kiện như sau:

Điều kiện 1: Có hoá đơn giá trị gia tăng hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mua vàohoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế giá trị giatăng thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổchức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinhdoanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam

Điều kiện 2: Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụmua vào (bao gồm cả hàng hoá nhập khẩu) từ hai mươi triệu đồng trở lên, trừ trường hợptổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồngtheo giá đã có thuế giá trị gia tăng

Hóa đơn, chứng từ nộp thuế được xem là căn cứ pháp lý quan trọng trong quá trìnhvận hành của thuế giá trị gia tăng Trong điều kiện thực hiện thuế giá trị gia tăng, hóa đơnchứng từ là căn cứ xác định số thuế giá trị gia tăng được khấu trừ hay được hoàn lại trong

kỳ Chính vì vậy, đòi hỏi các DN phải thực hiện chế độ hóa đơn, chứng từ nghiêm chỉnhkhông chỉ ở khâu mua hàng mà còn khâu bán hàng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyềnlợi của DN và nguồn thu của ngân sách nhà nước Trong quá trình kiểm soát ở các khâulập hóa đơn hay tiếp nhận hóa đơn đều có ý nghĩa quan trọng trong việc tính số thuế phảinộp nói riêng và quản lý nguồn thu thuế nói chung

Từ tháng 1/2012 tất cả các DN phải thực hiện đặt in, tự in hóa đơn và thông báophát hành hóa đơn gửi đến cơ quan thuế thì mới được xem là sử dụng hợp pháp Chuyển

từ hình thức bán hóa hóa đơn sang hình thức DN đặt in, tự in hóa đơn, cơ quan thuế đãtrao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của người nộp thuế đối với hóa đơn mà họ sửdụng nhằm hạn chế việc sử dụng hóa đơn bất hợp pháp Tuy nhiên trong thực tế, tìnhtrạng DN thành lập và bỏ kinh doanh mang theo hóa đơn vẫn diễn ra ngày càng nghiêmtrọng Trong năm 2020, Chi cục Thuế quận Hải Châu có 162 DN bỏ trốn mang theo27.144 số hóa đơn, chiếm tỉ lệ cao nhất ( 35,6%) trong số các DN bỏ kinh doanh mangtheo hóa đơn ở thành phố Đà Nẵng (76.332 số)

Bảng 2.1 Thống kê các “Thông báo DN bỏ kinh doanh và mang theo hóa đơn” năm

2020 tại thành phố Đà Nẵng.

STT cơ quan thuế ban hành thông Số DN Số DN bỏ Số hóa

Ngày đăng: 22/08/2022, 15:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w