LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Báo cáo thực tập tốt nghiệp này được thu thập từ nguồn thực tế tại Đơn vị thực tập, trên các sách báo khoa học chuyên ngành (có t.
Tình hình nghiên cứu
Kể từ khi BLHS 2015 có hiệu lực, việc áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS đã trở thành yếu tố then chốt ảnh hưởng đến quyết định hình phạt Đây là vấn đề được quan tâm không chỉ bởi các cơ quan điều tra, truy tố và xét xử mà còn bởi nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu trong lĩnh vực pháp luật hình sự tại Việt Nam, và nó được đề cập phổ biến trong các công trình nghiên cứu, tài liệu chuyên môn.
Đinh Văn Quế, nguyên Chánh Tòa hình sự TAND Tối cao, là tác giả cuốn Bình luận khoa học Bộ luật hình sự và đồng thời là chủ nhiệm đề tài cấp bộ “Thực tiễn áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong công tác xét xử của Tòa án và một số kiến nghị”, một công trình nghiên cứu nhằm hệ thống hóa và phân tích việc áp dụng các quy định tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong xét xử và đưa ra đề xuất cải tiến công tác tư pháp.
Trong bài viết của tác giả Lê Văn Sua đăng trên Tòa án khu vực 1 Quân khu 9, việc áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đức Việt là hoàn toàn có căn cứ pháp luật Bài viết nêu rõ cơ sở pháp lý của việc áp dụng tình tiết tăng nặng này và nhấn mạnh tính phù hợp của quy định này với trường hợp của bị cáo.
Hai bài viết nghiên cứu được coi là nguồn tham khảo quý giá cho đề tài: Nguyễn Minh Đức với bài "Phải áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội đối với phụ nữ có thai để xét xử các bị cáo", đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân số 22 tháng 11 năm 2015; Nguyễn Văn Trượng với bài "Về việc áp dụng một số tình tiết định khung tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự", đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân số 3 tháng 02 năm 2015 của Tòa án quân sự Trung ương Các bài viết và công trình nghiên cứu này là những tài liệu quý giá, giúp cho tác giả luận văn xây dựng và hoàn thiện các ý tưởng khoa học liên quan đến đề tài này.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một cách toàn diện và có hệ thống các vấn đề lý luận và áp dụng pháp luật về các tình tiết tăng nặng TNHS, phân tích và đánh giá đúng thực trạng quy định về tình tiết tăng nặng trong BLHS hiện hành và thực tiễn áp dụng, chỉ ra những vướng mắc trong thực tiễn thi hành, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với các tình tiết tăng nặng TNHS.
Phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đề tài được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp đầy đủ duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để làm rõ bản chất và quy luật của tội phạm trong thực tiễn xã hội Nghiên cứu áp dụng các quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh, gắn với các văn bản pháp luật Việt Nam về tội phạm và hình phạt, nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Các phương pháp nghiên cứu gồm phân tích, tổng hợp, so sánh và thống kê được vận dụng nhằm lý giải các vấn đề lý luận, đánh giá các quy định của pháp luật và nhận diện các vấn đề thực tiễn liên quan Cách tiếp cận đa chiều giúp đề tài nhìn nhận vấn đề ở nhiều góc độ và đáp ứng các mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu, đồng thời cung cấp cơ sở lý thuyết và thực tiễn cho việc cải thiện pháp luật và thực hành tư pháp.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu quy định tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Bộ LuậtHình sự 2015
Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được trình bày thành hai chương chính: Chương 1 nêu lên những vấn đề chung về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, làm rõ khái niệm, cơ sở lý luận và cách áp dụng trong thực tiễn; Chương 2 đi sâu vào Pháp luật về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, phân tích những bất cập hiện hành và đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm tăng cường tính khách quan, công bằng và hiệu lực của hệ thống hình sự.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG TRÁCH NHIÊM HÌNH SỰ
Khái quát chung về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Điều 45 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định rằng quyết định hình phạt của Tòa án không chỉ căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân người phạm, mà còn dựa vào các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự Vì thế, các tình tiết này là căn cứ thiết yếu để Tòa án xem xét khi ấn định mức hình phạt Việc nghiên cứu vai trò của tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết vụ án, đồng thời phản ánh đúng phương châm “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng” trong thực tiễn tố tụng.
Trong hệ thống pháp lý Việt Nam, nguyên tắc “trừng trị kết hợp với giáo dục” được hiện thực hóa thông qua việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội, bảo đảm thực thi hiệu quả hơn Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là các yếu tố hoặc dấu hiệu do pháp luật quy định làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và cần thiết để nâng cao trách nhiệm hình sự nhằm trừng phạt, cải tạo và giáo dục người phạm Sự tăng nặng này thể hiện ở việc người phạm bị xử lý theo tội danh nặng hơn, ở khung hình phạt nghiêm ngặt hơn hoặc ở mức phạt cao hơn so với trường hợp phạm tội ở mức độ cơ bản Nói ngắn gọn, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là những yếu tố được pháp luật quy định để làm tăng trách nhiệm hình sự của người phạm so với trường hợp thông thường.
Có ba loại tình tiết tăng nặng trong hình sự là tình tiết tăng nặng định tội, tình tiết tăng nặng định khung và tình tiết tăng nặng chung, và dù khác nhau về chức năng, chúng đều thể hiện bản chất và ý nghĩa pháp lý của tình tiết tăng nặng hình sự (TNHS) Trong vai trò là tình tiết tăng nặng chung, các tình tiết này có đặc điểm chung là làm tăng mức độ trách nhiệm hình sự, được dùng để xác định mức khung hình phạt và mức án, đồng thời phản ánh tính chất nguy hiểm, sự tái phạm hoặc tính chất đặc biệt của hành vi phạm tội.
Thứ nhất, các tình tiết tăng nặng làm tăng tính nguy hiểm của tội phạm đối với xã hội, vì chúng làm thay đổi mức độ nguy hiểm theo hướng nghiêm trọng hơn tùy từng trường hợp hoặc người phạm tội Đây là những tình tiết tăng nặng phổ biến, được áp dụng cho nhiều loại tội phạm nhằm phản ánh đúng mức độ đe dọa và hậu quả xã hội mà hành vi phạm tội gây ra.
Thứ hai, các tình tiết tăng nặng TNHS có sự ổn định về số lượng và nội dung, tuy nhiên sự ổn định này chỉ mang tính tương đối; trong quá trình phát triển của xã hội, tội phạm mới nảy sinh, tính chất và đặc điểm của tội phạm thay đổi khiến có những tội phạm nguy hiểm hơn, có tội phạm ít nguy hiểm hơn và nhiều loại tội phạm gia tăng về mức độ phổ biến và sự xảo quyệt Vì vậy, từ góc độ lập pháp, tình tiết tăng nặng TNHS phải được điều chỉnh cho phù hợp nhằm bảo đảm xử lý nghiêm minh tội phạm; có những tình tiết mới được đưa vào, có những tình tiết bỏ đi, có trường hợp từ tình tiết tăng nặng chung chuyển thành tăng nặng định khung, và có tình tiết tăng nặng định khung được chuyển thành tình tiết tăng nặng định tội.
Chỉ những tình tiết tăng nặng TNHS được quy định trong BLHS mới có thể được áp dụng để tăng hình phạt cho người phạm tội; việc xác định đúng các tình tiết này là cơ sở để phân hóa trách nhiệm hình sự, cá thể hóa hình phạt và là căn cứ pháp lý quan trọng trong quá trình truy tố, xét xử Không được suy diễn hoặc coi các tình tiết ngoài BLHS là tình tiết tăng nặng TNHS; đây là đặc điểm khác biệt căn bản so với tình tiết giảm nhẹ và thể hiện các nguyên tắc pháp chế, bình đẳng, nhân đạo và bảo vệ quyền con người Nhiều Tòa án từng mắc sai lầm khi cho rằng hành vi vi phạm pháp luật khác chưa cấu thành tội phạm hoặc chưa có chứng cứ phạm tội khác có thể là tình tiết tăng nặng, dẫn đến lượng hình không đúng và trái với nguyên tắc của Luật hình sự Việt Nam Thứ năm, tình tiết tăng nặng TNHS trong một vụ án chỉ làm thay đổi mức độ TNHS đối với người phạm tội trong vụ án đó và chỉ trong phạm vi một cấu thành, không làm thay đổi tính chất của tội phạm; chúng làm thay đổi mức độ nguy hiểm chứ không làm thay đổi tính chất nguy hiểm Tuy nhiên, nếu một tình tiết được quy định là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì nó đã làm thay đổi tính chất nguy hiểm của tội phạm, và không còn là tình tiết tăng nặng TNHS nữa Tóm lại, các tình tiết tăng nặng TNHS phản ánh mức độ nguy hiểm xã hội cao hơn của tội phạm và của người phạm tội, đồng thời thể hiện nhu cầu cải tạo giáo dục bằng biện pháp nghiêm khắc hơn; chúng được hình thành từ thực tiễn đánh giá bản chất tội phạm và áp dụng pháp luật, mang tính khách quan như các tình tiết giảm nhẹ Khi có thêm tình tiết tăng nặng, mức hình phạt phải tương xứng với tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi để đảm bảo sự công bằng và nghiêm minh của pháp luật.
Cơ sở lý luận về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
1.2.1 Phân loại tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
* Phân loại căn cứ vào ý nghĩa pháp lý của các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Căn cứ vào tiêu ch này, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được phân loại thành:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cấu thành tội phạm nặng hơn cùng loại (tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định tội);
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định khung;
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung.
* Tình tiết tăng nặng định tội
Tình tiết tăng nặng định tội là các yếu tố làm thay đổi tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm theo hướng tăng lên đáng kể, khiến tội phạm bị xử lý ở tội danh nặng hơn Đây là hình thức tăng nặng trách nhiệm hình sự trong định tội; nếu thiếu tình tiết này (hoặc nếu pháp luật không quy định đó là tình tiết tăng nặng) thì hành vi có thể cấu thành một tội danh cùng loại nhưng ở mức độ nhẹ hơn Tình tiết tăng nặng chỉ đóng vai trò tăng cường mức độ nguy hiểm và làm thay đổi tính chất, mức độ của tội phạm Tuy nhiên, các tội phạm mang tính chất đặc biệt đòi hỏi phải tách thành các điều luật và tội danh riêng dù cùng một loại tội có bản chất tương tự, nhằm bảo vệ những yếu tố đặc biệt được pháp luật coi trọng.
*Tình tiết tăng nặng định khung
Tình tiết tăng nặng định khung hình phạt là yếu tố làm tăng đáng kể mức độ nguy hiểm xã hội của tội phạm, nhưng vẫn thuộc phạm vi của cùng một tội danh, nên trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp này được thể hiện bằng chế tài ở khung hình phạt cao hơn khung cơ bản Thực hiện nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, tránh quyết định hình phạt một cách tùy tiện, hình phạt được phân thành các khung nhất định với độ biến thiên nhỏ hơn biến thiên của cả tội danh Khoảng cách giữa mức cao nhất và mức thấp nhất của hình phạt đối với tội danh ấy càng lớn, các nhà làm luật càng chia ra thành nhiều khung hình phạt Tương ứng với đó, tình tiết tăng nặng nào biểu hiện cho tính nguy hiểm xã hội lớn hơn sẽ được sử dụng làm căn cứ xác định khung hình phạt cao hơn.
Trong pháp luật hình sự Việt Nam, có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm định khung được sử dụng phổ biến ở nhiều nhóm tội khác nhau, như phạm tội có tổ chức, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm nguy hiểm và phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 cũng quy định các tình tiết tăng nặng này là yếu tố định khung cho nhiều tội danh như giết người, hiếp dâm, cướp tài sản; tuy vậy, một số tình tiết tăng nặng chỉ áp dụng cho một nhóm tội do tính đặc thù của nó chỉ xuất hiện trong nhóm tội đó, ví dụ tình tiết nhiều người phạm tội đối với một người, biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội trong nhóm tội phạm tình dục, và tội trộm cắp tài sản Thậm chí còn có các tình tiết tăng nặng được thiết kế chỉ áp dụng cho một tội riêng biệt, như tình tiết trả thù người khiếu nại, tố cáo khi xâm phạm quyền khiếu nại.
* Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là các yếu tố làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm so với các trường hợp khác, từ đó làm tăng hình phạt đối với người phạm tội trong khung hình phạt của từng tội phạm cụ thể Ý nghĩa pháp lý của những tình tiết này là nhằm đảm bảo cá thể hóa hình phạt một cách chính xác và triệt để, phù hợp với mức độ nguy hiểm và hoàn cảnh phạm tội.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự ở Việt Nam mang tính đa dạng và phong phú, được xác định bởi nhà làm luật dựa trên nhiều yếu tố như mục tiêu đấu tranh phòng chống tội phạm và tình hình kinh tế - xã hội Hiện nay, các tình tiết này được quy định tại Điều 48 của Bộ luật hình sự Việt Nam, gồm 14 tình tiết khác nhau như phạm tội có tổ chức, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, phạm tội có tính chất côn đồ, phạm tội vì động cơ đê hèn và cố tình thực hiện tội phạm đến cùng.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các loại tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có tính loại trừ lẫn nhau trong việc áp dụng và được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên: trước hết là tình tiết tăng nặng định tội, tiếp theo là tình tiết tăng nặng định khung, và cuối cùng là tình tiết tăng nặng chung.
Phân loại tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự giúp định hướng nghiên cứu các tình tiết tăng nặng, từ đó xây dựng các tội phạm và các cấu thành tăng nặng phù hợp Dựa trên giá trị pháp lý của từng loại tình tiết, chủ thể áp dụng pháp luật hình sự có thể định tội, xác định khung hình phạt và cá thể hóa hình phạt một cách chính xác, đồng thời đảm bảo sự nhất quán trong việc áp dụng pháp luật Việc này nâng cao tính hệ thống của luật hình sự và cung cấp căn cứ đánh giá mức độ nguy hiểm, từ đó thúc đẩy hiệu quả xử lý các vụ án hình sự và bảo vệ quyền lợi của xã hội.
Phân loại căn cứ vào tính chất của tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho thấy những tình tiết này làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và nhấn mạnh yêu cầu cải tạo, giáo dục người phạm tội Tuy nhiên, các tình tiết tăng nặng có sự khác biệt về tính chất: có yếu tố thuộc mặt khách quan của tội phạm, có yếu tố thuộc mặt chủ quan, có yếu tố thuộc chủ thể và có yếu tố thuộc khách thể của tội phạm Trên cơ sở các tiêu chí phân loại theo tính chất của tình tiết tăng nặng, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được phân loại thành các nhóm dựa trên đặc trưng của từng khía cạnh này.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc mặt khách quan của tội phạm.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc mặt chủ quan của tội phạm.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc chủ thể của tội phạm.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc khách thể của tội phạm.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc mặt khách quan của tội phạm thể hiện qua những dấu hiệu như hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả, được nhận diện khi thực hiện hành vi phạm tội và gắn với công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn phạm tội, thời gian và hoàn cảnh phạm tội Những dấu hiệu thuộc mặt khách quan ở mức độ khác nhau quyết định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, từ đó ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Dấu hiệu hành vi nguy hiểm được quy định trong mọi cấu thành tội phạm với nghĩa là dấu hiệu định tội, còn dấu hiệu hậu quả—chỉ bắt buộc đối với những tội phạm có cấu thành vật chất Tuy nhiên, việc xác định dấu hiệu hậu quả luôn đóng vai trò quan trọng vì hậu quả là yếu tố cơ bản xác định tính chất và mức độ nguy hại cho xã hội của tội phạm; trong cùng một hoàn cảnh phạm tội, hậu quả càng lớn thì mức độ và tính chất nguy hiểm càng cao và do đó hình phạt càng nghiêm khắc Hành vi phạm tội và hậu quả phải có mối quan hệ nhân-quả: nếu không có mối quan hệ này thì hậu quả không phải do hành vi nguy hiểm gây ra, và trong nhiều trường hợp, nếu hậu quả là dấu hiệu định tội thì có thể không phát sinh tội phạm; hoặc trong trường hợp hậu quả là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì cũng không được dùng để tăng nặng đối với người phạm tội Như vậy, dấu hiệu hậu quả có thể được dùng như dấu hiệu tăng nặng trách nhiệm hình sự, phổ biến nhất là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định khung và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung: gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
Trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm, những dấu hiệu như phương thức thực hiện, công cụ và phương tiện phạm tội, thời gian, địa điểm và hoàn cảnh phạm tội không phải là dấu hiệu định tội hay dấu hiệu tăng nặng trách nhiệm hình sự định tội; tuy nhiên, chúng có thể trở thành căn cứ để xác định tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định khung và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung, như hành hung để tẩu thoát, xúi giục người chưa thành niên phạm tội, hoặc thể hiện hành vi xảo quyệt, hung hãn nhằm che giấu tội phạm, dùng thủ đoạn tàn ác hoặc dùng phương tiện có nguy cơ gây hại cho nhiều người Bên cạnh đó, lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội, hoặc phạm tội có tổ chức, cũng là những yếu tố được xem xét khi xác định mức độ trách nhiệm hình sự.
Những dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm đóng vai trò ảnh hưởng đáng kể đến quá trình xác định hình phạt và mức độ trách nhiệm hình sự của người phạm tội Việc đánh giá các yếu tố khách quan như hành vi, hậu quả, tính chất nguy hiểm của hành vi và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm giúp cơ quan tố tụng ấn định mức hình phạt phù hợp và mức độ chịu trách nhiệm hình sự cụ thể Do đó, nhận diện đầy đủ các dấu hiệu khách quan là nền tảng để áp dụng pháp luật một cách nhất quán và công bằng trong xử lý vụ án hình sự.
* Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc về chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật hình sự Bên cạnh hai điều kiện về tuổi và năng lực trách nghiệm hình sự, một số cấu thành tội phạm còn quy định thêm các dấu hiệu để xác định chủ thể, như chức vụ, giới tính, nghề nghiệp hoặc quan hệ gia đình, được gọi là chủ thể đặc biệt của tội phạm Dấu hiệu của chủ thể đặc biệt có thể là dấu hiệu định tội hoặc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định khung hoặc chung, ví dụ lợi dụng chức vụ, quyền hạn là tình tiết tăng nặng Nhân thân người phạm tội là căn cứ để xem xét quyết định hình phạt; các đặc điểm nhân thân có thể trở thành tình tiết tăng nặng, nhằm phản ánh mức độ gia tăng biện pháp cải tạo, giáo dục và cảm hóa, từ đó xác định mức hình phạt xứng đáng với tội phạm đã thực hiện Các tình tiết về nhân thân thường bao gồm tính chất côn đồ, phạm tội nhiều lần, tái phạm và tái phạm nguy hiểm.
Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ nhưng bị hành vi phạm tội xâm hại; dựa vào khách thể, ta nhận diện hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ thể phạm tội thực hiện và đây là cơ sở chung để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm Tuy nhiên, không thể chỉ dựa vào khách thể để xác định mức độ trách nhiệm hình sự cụ thể của người phạm tội, bởi mọi cấu thành tội phạm đều có dấu hiệu liên quan đến khách thể Các bộ phận cấu thành của khách thể có ảnh hưởng khác nhau đến mức độ chịu trách nhiệm hình sự, trong đó đối tượng tác động của tội phạm là một trong các căn cứ tăng nặng trách nhiệm hình sự và có thể được xem như một tình tiết tăng nặng như đã nêu ở trên.
1.2.2 Ý nghĩa và vai trò của tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Việc xem xét và cân nhắc để áp dụng chính xác các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong vụ án hình sự cụ thể và đối với từng người phạm tội là cách đảm bảo sự phù hợp giữa mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và mức hình phạt của khung hình phạt tương ứng với từng tội danh trong pháp luật hình sự Đồng thời, để giải quyết toàn diện vụ án, các yếu tố này còn phải phù hợp với các yếu tố khác của vụ án như địa điểm phạm tội, hoàn cảnh phạm tội, thời gian phạm tội, không gian phạm tội, công cụ và phương tiện phạm tội, tính chất của hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội.
PHÁP LUẬT VỀ TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG TRÁCH NHIÊM HÌNH SỰ, BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Quy định về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam
Tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định 15 tình tiết bị coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bao gồm:
* Phạm tội có tổ chức
Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm (điểm a khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015).
“Phạm tội có tổ chức, là trường hợp nhiều người cố ý cùng bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau, vạch ra kế hoạch để thực hiện một tội phạm, dưới sự điều khiển thống nhất của người cầm đầu Phạm tội có tổ chức, là một hình thức đồng phạm, có sự phân công, sắp đặt vai trò của những người tham gia Trong đó mỗi người thực hiện một hoặc một số hành vi và phải chịu sự điều khiển của người cầm đầu 1 Phạm tội có tổ chức khác với hành vi tổ chức tội phạm, ví dụ như: tổ chức tảo hôn (Điều 183), tổ chức đánh bạc (Điều 322) … Phạm tội có tổ chức là nói đến quy mô, tính chất của tội phạm, còn khái niệm “tổ chức” trong các tội phạm cụ thể chính là hành vi phạm tội.
Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm đòi hỏi từ hai người trở lên tham gia, có sự câu kết chặt chẽ, có sự phân công trách nhiệm và có thể có những người giữ vai trò khác nhau như người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức Trong khi đó, tổ chức tội phạm là hành vi phạm tội và chỉ cần một nhóm người có sự liên kết, phối hợp với nhau để thực hiện hành vi phạm tội.
01 người cũng có thể thực hiện hành vi phạm tội.
* Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là hành vi một đối tượng cố ý phạm tội từ 5 lần trở lên, bất kể đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa Theo Bộ luật hình sự năm 2015, tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” được quy định là yếu tố tăng nặng nhằm thể hiện tính lặp lại có tổ chức và chuyên môn trong hành vi phạm tội, từ đó tác động đến mức hình phạt và cách xử lý của cơ quan có thẩm quyền.
Trong luật hình sự Việt Nam, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thường được quy định tại nhiều điều luật và có thể thuộc về nhân thân người phạm tội hoặc là các yếu tố khác làm tăng mức độ nghiêm trọng của hành vi Tình tiết định khung tăng nặng đóng vai trò định khung mức hình phạt và ảnh hưởng trực tiếp đến cách áp dụng hình phạt trong vụ án Nghiên cứu của Trần Thị Hương (2016), dựa trên thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang, làm sáng tỏ cách các tình tiết tăng nặng về nhân thân và các tình tiết tăng nặng được quy định trong văn bản pháp luật được vận dụng như thế nào trong thực tiễn Kết quả cho thấy sự đa dạng của các điều luật về tình tiết tăng nặng và sự tương tác giữa chúng, đồng thời gợi ý nhu cầu hoàn thiện cơ sở pháp lý nhằm bảo đảm công bằng và tính dự báo của hệ thống hình sự.
Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp được hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006.
Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp và phạm tội nhiều lần đều có đặc điểm chung là hành vi phạm tội được thực hiện nhiều lần (từ hai lần trở lên), nhưng chúng khác nhau ở động cơ và cách người phạm sống dựa vào tội phạm Phạm tội nhiều lần là người phạm không xem việc phạm tội là phương tiện kiếm sống và chỉ tái phạm một loại tội ở nhiều lần, còn phạm tội có tính chất chuyên nghiệp có thể chỉ phạm một loại tội nhưng thực hiện nhiều vụ và nhiều lần khác nhau, và hành vi phạm tội đó trở thành nguồn sống thường xuyên cho người phạm.
* Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội
Khái niệm người có chức vụ theo khoản 2 Điều 352 Bộ luật hình sự năm 2015 được xác định từ nhiều căn cứ khác nhau, gồm bổ nhiệm, bầu cử, ký hợp đồng hoặc các hình thức khác Như vậy, người có chức vụ có thể được hiểu ngắn gọn là người được giao thực hiện công vụ một cách hợp pháp và có quyền hạn nhất định khi thực hiện công vụ đó.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội là hình thức tội phạm do người có chức vụ thực hiện, và hành vi phạm tội đó phải liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của họ Do đó, người có chức vụ chỉ trở thành chủ thể của tội phạm khi họ lợi dụng chức vụ được giao để phạm tội Ngược lại, nếu hành vi phạm tội không liên quan đến chức vụ, quyền hạn thì dù họ có chức vụ, quyền hạn cũng không được xem là có tình tiết tăng nặng này.
* Phạm tội có tính chất côn đồ
Theo từ điển Tiếng Việt: “Côn đồ” là danh từ để chỉ kẻ chuyên gây sự, hành hung.
Công văn số 38/NCPL ngày 06/01/1976 và tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Tòa án nhân dân năm 1995 giải thích về “có tính chất côn đồ”.
Phạm tội có tính chất côn đồ là loại tội phạm đặc trưng thể hiện qua hành vi hung hãn và sự coi thường người khác, đồng thời thể hiện sự coi thường pháp luật và các quy tắc trong đời sống xã hội Đây là hình thức phạm tội cho thấy người phạm thiếu tôn trọng pháp luật và các chuẩn mực xã hội, từ đó gây ảnh hưởng tiêu cực đến an toàn và trật tự của cộng đồng.
* Phạm tội vì động cơ đê hèn
Phạm tội với động cơ đê hèn là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và quyền tự do của công dân, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý và bị thúc đẩy bởi các động lực mang tính xấu xa, đê tiện như sự bội bạc, hèn nhát, ích kỷ và phản trắc; động cơ phạm tội trong trường hợp này thường là trả thù nhằm thỏa mãn sự ghen tuông, đố kỵ hoặc để tránh né trách nhiệm mà bản thân phải gánh chịu, ví dụ giết vợ hoặc giết chồng để có thể lấy vợ hoặc chồng mới, hoặc chiếm đoạt người mà nạn nhân đang quan hệ.
Việc xác định động cơ đê hèn của người phạm tội phải căn cứ vào hành vi phạm tội mà họ thực hiện, vì động cơ phạm tội là yếu tố thuộc mặt chủ quan của cấu thành tội phạm Do đó, nếu người phạm tội không thừa nhận động cơ phạm tội của mình, việc xem xét các tình tiết khách quan của vụ án, mối quan hệ gia đình và xã hội giữa người phạm tội với bị hại và những người thân của bị hại sẽ khó khăn và khó đi đến kết luận chính xác Vì vậy, rất khó xác định được liệu người phạm tội có thực hiện hành vi phạm tội với động cơ đê hèn hay không.
* Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng
Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng là hành vi của người phạm tội có ý thức quyết tâm thực hiện tội phạm nhằm đạt được mục đích của mình, bất chấp sự can ngăn, ngăn chặn của người khác và các cản trở khác trong quá trình phạm tội Người cố tình thực hiện tội phạm đến cùng có thể chưa đạt được mục đích hoặc chưa gây ra hậu quả nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tình tiết này.
Mức độ quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng càng cao thì mức tăng nặng hình phạt đối với người phạm tội càng nhiều và ngược lại.
*Phạm tội 02 lần trở lên
Phạm tội 02 lần trở lên là tình trạng người phạm đã từng phạm cùng một tội ít nhất một lần trước đó và hiện chưa bị xét xử Khái niệm này mô tả hiện tượng tái phạm, nhấn mạnh sự lặp lại của hành vi phạm tội đối với cùng một tội danh Việc nhận diện các trường hợp phạm tội 02 lần trở lên giúp cơ quan chức năng đánh giá mức độ rủi ro và có căn cứ áp dụng biện pháp ngăn ngừa, xử lý phù hợp trong quá trình tố tụng hình sự.
Phạm tội hai lần trở lên là người phạm tội có nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội nhưng các hành vi đó chỉ cấu thành một tội duy nhất, xâm phạm đến cùng một khách thể trực tiếp và chưa bị truy tố, xét xử Ngược lại, nếu nhiều lần phạm tội mà mỗi lần lại cấu thành các tội khác nhau thì không thuộc trường hợp phạm tội hai lần trở lên mà là phạm nhiều tội.
* Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm
Tái phạm là tình trạng một người đã bị kết án và chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội Theo Khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự năm 2015, tái phạm có thể là phạm tội do cố ý hoặc là phạm tội rất nghiêm trọng, và cũng có thể là tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.
Người phạm tội bị coi là tái phạm khi có đủ hai điều kiện sau:
Thực tiễn áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam
2.2.1 Thực tiễn áp dụng các tình tiết tắng nặng trách nhiệm hình sự
Trong thời gian gần đây, Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Bắc Ninh đã nghiên cứu, áp dụng một cách chính xác và đầy đủ các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, từ đó đóng vai trò then chốt trong việc định tội danh, định khung hình phạt và quyết định tội của vụ án Kết quả này được thể hiện qua các vụ án điển hình cho thấy việc áp dụng đúng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự làm sáng tỏ tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, từ đó xác lập mức hình phạt tương ứng và đảm bảo tính công bằng trong xét xử tại Bắc Ninh.
`Vụ án thứ nhất: Áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên (Bản án số: /2020/HS-ST Ngày 12/02/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình) 2
2 https://congbobanan.toaan.gov.vn/
Trong khoảng thời gian từ tháng 6/2019 đến giữa tháng 7/2019, nội dung vụ án cho biết các chủ xe ô tô tại thành phố Ninh Bình khi xuống xe không khóa cửa đã tạo điều kiện cho Nguyễn Văn Công, Nguyễn Văn Nam và Phạm Đức Phương lén lút mở cửa xe và trộm cắp tài sản bên trong.
Vào khoảng 12h ngày 15/7/2019 tại số 78, đường Hai Bà Trưng, TP Ninh Bình, Nguyễn Văn Công và Nguyễn Văn Nam đã trộm cắp từ xe ô tô của anh Ngô Chí Quang, gồm tiền mặt và điện thoại có tổng giá trị 224.063.678 đồng.
Khoảng 8h ngày 2/6/2019 tại số 33 đường Nguyễn Đăng Đạo, phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn Công và Phạm Đức Phương đã trộm cắp từ xe ô tô của chị Dương Thị Minh, chiếm đoạt 10.000.000 đồng.
Khoảng 12h ngày 07/6/2019, trước cửa quán Cà phê US COFFEE ở số 26, đường Ngô Tất Tố, phường Võ Cường, thành phố Ninh Bình, Nguyễn Văn Công và Phạm Đức Phương bị cáo buộc trộm cắp trên xe ô tô của chị Lê Thị Nhung với số tiền 4.000.000 đồng.
Khoảng 11 giờ ngày 19/6/2019, trước cửa quán mỹ phẩm Ohui Who Sum tại số 96 đường Huyền Quang, phường Ninh Xá, thành phố Ninh Bình, Nguyễn Văn Công đã trộm cắp số tiền 17.000.000 đồng trong xe ô tô của chị Nguyễn Thị Thúy Hằng.
Như vậy tổng số Công trộm cắp 04 vụ được 255.063.678đ; Nam trộm cắp 01 vụ được 224.063.678đ; Phương trộm cắp 02 vụ được 14.000.000đ.
Theo nội dung vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình đã áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Công và bị cáo Phương, đây là quyết định phù hợp với diễn biến vụ án; bản án này không có kháng cáo, kháng nghị và đã có hiệu lực pháp luật.
Vụ án thứ hai: Áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm
(Bản án số: /2019/HS-ST Ngày: 28/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh) 3
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25/4/2019, tại nhà Nguyễn Thị Phượng và Nguyễn Phụ Long, lực lượng Công an bắt quả tang Nguyễn Thị Phượng có hành vi bán trái phép chất ma túy Theo nội dung vụ án, Phượng đã bán 0,0864 gram ma túy heroin cho Nguyễn Đình Chương và bán cho đối tượng tự khai là Lê Minh Hiếu.
3 https://congbobanan.toaan.gov.vn/
Trong quá trình bắt giữ Phượng và khám xét tại nhà Phượng, lực lượng chức năng đã thu giữ 0,0759 gam ma túy Heroine và phát hiện Nguyễn Phụ Long có hành vi tàng trữ trái phép 1.199,4651 gam ma túy Methamphetamine và 61,37 gam ma túy Heroine.
Xem xét nhân thân bị cáo Phượng cho thấy nhiều lần bị kết án về các tội trộm cắp tài sản, đánh bạc và tàng trữ trái phép chất ma túy, đã chấp hành án nhưng sau khi về địa phương lại không chịu khó làm ăn mà tiếp tục phạm tội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật Tại Bản án số 17/HSST ngày 19/3/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xử phạt bị cáo 42 tháng tù và 7.000.000 đồng về tội đánh bạc; bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 7/3/2018, chấp hành xong án phí tháng 5 năm 2016 Tính đến ngày phạm tội, bị cáo chưa được xóa án tích Do đó lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự như bản án sơ thẩm áp dụng là hoàn toàn chính xác.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được nêu trên, quá trình áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại các Tòa án nhân dân vẫn còn gặp phải một số hạn chế và thiếu sót Những hạn chế nổi bật tập trung ở sự thiếu nhất quán trong nhận thức và áp dụng các tình tiết tăng nặng giữa các vụ án, sự chồng chéo giữa các tiêu chí và thiếu sự thống kê, đánh giá mức độ tăng nặng, dẫn đến phán quyết thiếu đồng bộ Ngoài ra, trình độ, nhận thức và năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ tố tụng về các tình tiết tăng nặng còn chưa đồng bộ, gây sai lệch trong việc cân nhắc mức hình phạt Việc thiếu hướng dẫn cụ thể và sự thiếu thống nhất giữa các Tòa án nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện cũng là một thiếu sót đáng kể Vì vậy, cần có hướng dẫn chi tiết, quy chuẩn đánh giá, tăng cường đào tạo và chuẩn hóa quy trình áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự để bảo đảm tính chính xác, công bằng và phù hợp với quy định của pháp luật.
Đầu tiên, việc xác định tình tiết không chính xác có thể dẫn đến hai hệ quả: không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và lại áp dụng nhầm sang tình tiết định khung tăng nặng Sự sai lệch này làm giảm tính đúng đắn của bản án và có thể làm lệch mức hình phạt Cần phân tích kỹ các yếu tố, phân biệt rõ ràng giữa tình tiết tăng nặng và tình tiết định khung tăng nặng để áp dụng đúng quy định pháp luật hình sự và phản ánh đúng mức độ nguy hiểm của hành vi Quá trình rà soát xác định tình tiết nên là bước then chốt nhằm đảm bảo công bằng, tăng cường tính nhất quán trong áp dụng pháp luật và tối ưu hóa hiệu quả xử lý hình sự.
Trong Bản án hình sự sơ thẩm số 103/2017/HSST ngày 16/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai xét xử bị cáo Nguyễn Quốc Tuấn về tội Đánh bạc theo điểm c khoản 2 Điều 248 Bộ luật hình sự, với tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm” Theo hồ sơ vụ án, tại Bản án số 57/2013/HSST ngày 22/4/2013, Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai xử bị cáo Tuấn 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; đến ngày 11/6/2014 bị cáo có hành vi trộm cắp 02 con gà trị giá 480.000 đồng, nên tại Bản án số 125/2014/HSST ngày 09/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai xử 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản đã xác định Bản án số 57 nêu trên là tình tiết định tội của hành vi phạm tội ngày 11/6/2014, không coi đó là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Đến ngày 05/01/2017 bị cáo phạm tội mới.
Theo nguồn tin từ trang https://congbobanan.toaan.gov.vn/, lần phạm tội này được xem là thuộc trường hợp “Tái phạm” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, chứ không thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” để áp dụng điểm c khoản 2 Điều 248 Bộ luật hình sự như Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng.
Thứ hai, Áp dụng thiếu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Vụ án xảy ra ngày 17/4/2019 khi Thường bị bắt quả tang về hành vi bán giấy khám sức khỏe giả; kết quả điều tra cho thấy Lê Thị Tỵ và Hà Lương Thường nhiều lần mua giấy tờ giả từ Bệnh viện Bạch Mai để bán kiếm lời, gồm các loại giấy tờ như giấy khám sức khỏe, giấy ra viện, giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm và giấy chứng nhận nằm viện Tỵ đã giao dịch 230 giấy tờ giả, Thường giao dịch 218 giấy tờ giả; cả hai bị cho là có nhân thân xấu và Thường thuộc trường hợp tái phạm Bản án sơ thẩm áp dụng các điểm từ Điều 341, Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự để xử phạt Lê Thị Tỵ 45 tháng tù và Hà Lương Thường 38 tháng tù; tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang kháng nghị, đề nghị sửa bản án sơ thẩm, bổ sung tình tiết phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự và tăng hình phạt đối với cả hai bị cáo.