1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

36 PHÁP LUẬT về THỎA THUẬN TRỌNG tài THƯƠNG mại

55 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 76,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH KHOA KINH TẾ TIỂU LUẬN THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI Ở VIỆT NAM SVTH MSSV GV.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH

KHOA KINH TẾ

TIỂU LUẬN

THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM

VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỎA

THUẬN TRỌNG TÀI Ở VIỆT NAM

XXX, 20201

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH

KHOA KINH TẾ

TIỂU LUẬN

THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM

VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỎA

THUẬN TRỌNG TÀI Ở VIỆT NAM

XXX, 20201

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên với tình cảm sâu sắc và chân thành nhất, cho phép em được bày tỏlòng biết ơn đến tất cả các cá nhân và tổ chức đã tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ emtrong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài này Trong suốt thời gian từ khi bắtđầu học tập tại trường đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ củaquý Thầy Cô và bạn bè

Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý Thầy Cô ở Khoa Kinh tếTrường đại học Trà Vinh đã truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trongsuốt thời gian học tập tại trường Nhờ có những lời hướng dẫn, dạy bảo của các thầy

cô nên đề tài nghiên cứu của em mới có thể hoàn thiện tốt đẹp

Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn thầy/cô – người đã trực tiếp giúp đỡ,quan tâm, hướng dẫn em hoàn thành tốt bài báo cáo này trong thời gian qua

Bài báo cáo thực tập thực hiện trong khoảng thời gian gần 3 tuần Bước đầu đivào thực tế của em còn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ nên không tránh khỏi nhữngthiếu sót , em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy Cô

để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn đồng thời có điều kiện

bổ sung, nâng cao ý thức của mình

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC

Contents

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ii

MỤC LỤC 3

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Mục tiêu nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Kết cấu của đề tài 3

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI 4

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 4

1.1.1 Khái niệm trọng tài thương mại 4

1.1.2 Đặc điểm trọng tài thương mại 5

1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 8

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của thỏa thuận trọng tài 8

1.2.2 Ý nghĩa của thỏa thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại 12

CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG THỎA THUẬN TRỌNG TÀI TRÊN THỰC TẾ Ở VIỆT NAM 14

Trang 6

2.1 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỎA THUẬN

TRỌNG TÀI 14

2.1.1 Quy định về khái niệm thỏa thuận trọng tài 15

2.1.2 Quy định về hình thức thỏa thuận trọng tài 17

2.1.3 Quy định về quan hệ giữa hiệu lực của điều khoản trọng tài với hiệu lực của hợp đồng liên quan 19

2.1.4 Quy định về thoả thuận trọng tài vô hiệu 21

2.1.5 Quy định về nguyên tắc thẩm quyền của thẩm quyền 26

2.1.6 Quy định về thoả thuân trọng tài không thực hiện được hoặc không thể thực hiện được 27

2.1.7 Quy định về luật điều chỉnh đối với thỏa thuận trọng tài 30

2.2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI Ở VIỆT NAM 30

2.2.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật về thỏa thuận trọng tài ở Việt Nam thông qua một số vụ việc điển hình 30

2.2.2 Một số đánh giá và bài học kinh nghiệm từ thực tiễn áp dụng các quy định của thỏa thuận trọng tài 37

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI Ở VIỆT NAM 42

3.1 LỰA CHỌN HÌNH THỨC TRỌNG TÀI PHÙ HỢP 42

3.2 THỎA THUẬN TRỌNG TÀI ĐƠN GIẢN VÀ CHÍNH XÁC 42

3.3 SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRỌNG TÀI 42

3.4 LỰA CHỌN ĐỊA ĐIỂM TIẾN HÀNH TRỌNG TÀI 43

3.5 LỰA CHỌN LUẬT ÁP DỤNG CHO NỘI DUNG VỤ TRANH CHẤP 44

3.6 SỬ DỤNG CÁC ĐIỀU KHOẢN TRỌNG TÀI MẪU 44

KẾT LUẬN 46

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quan hệ kinh tế quốc tế cùng với mối quan hệ về chính trị, ngoại giao, vănhóa là những nhân tố quan trọng cấu thành nên bức tranh tổng thể về quan hệquốc tế ở mỗi thời kỳ lịch sử nhất định Nó ra đời và phát triển trên cơ sở phân cônglao động quốc tế, bao gồm một hệ thống đa dạng và phong phú các hoạt động như:thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế, chuyển giao công nghệ Cùng với xu thế toàncầu hóa trong quan hệ quốc tế nói chung, hoạt động kinh tế quốc tế đang đạt đượcbước phát triển mạnh chưa từng thấy mang tính thời đại sâu sắc và sẽ còn tiếp tụcđược bổ sung, phát triển hơn nữa bởi những nhân tố mới trong tương lai Trong bốicảnh đó, các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh tế quốc tế nói chung và cáchoạt động thương mại nói riêng có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp đòi hỏiphải có những phương thức giải quyết nhanh chóng, hiệu quả nhằm bảo đảm chocác hoạt động đó được diễn ra một cách liên tục và thuận tiện

Trong điều kiện hội nhập quốc tế diễn ra hết sức mạnh mẽ, quá trình liêndoanh, liên kết, tự do hợp đồng ngày càng phát sinh nhiều các mâu thuẫn, bất đồng,

sự ra đời của trọng tài trong điều kiện đó như là một hệ quả tất yếu, góp phần quantrọng trong việc đa dạng hóa các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranhchấp Cùng với sự phát triển kinh tế thị trường, mở rộng giao lưu thương mại vớinhiều quốc gia trên thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều cơ hội giao dịchthương mại với các đối tác nước ngoài nên đã làm quen và sử dụng phương thứcgiải quyết tranh chấp bằng trọng tài nhiều hơn trước Nhưng các doanh nghiệp vẫncòn e ngại khi chọn trọng tài thương mại để giải quyết tranh chấp thuộc lĩnh vựcthương mại, một mặt do hiểu biết hạn chế, mặt khác do hệ thống pháp luật về trọngtài thương mại của Việt Nam còn nhiều bất cập Mặc dù vậy, với tốc độ phát triểnnhư hiện nay của kinh tế thị trường, giới luật gia quốc tế và trong nước đều cho rằnggiải quyết tranh chấp thương mại qua Trọng tài thương mại là một phương thức cónhiều ưu điểm, ngày càng ưa chuộng và phát triển Cùng với nền kinh tế thị trường

và quá trình hội nhập ngày càng đi vào chiều sâu, các tranh chấp thương mại đangphát sinh ngày càng nhiều với tính chất phức tạp ngày càng cao Trọng tài làphương thức giải quyết tranh chấp đang được sử dụng để tiết kiệm thời gian và chi

Trang 9

phí cho doanh nghiệp, đồng thời làm giảm sự quá tải về số lượng vụ việc cho hệthống tòa án Tổng thư ký Tòa án Trọng tài Quốc tế (ICC) Jason Fry đã khẳng địnhtrọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp, lựa chọn có nhiều ưu thế, trong đónổi bật là tính nhanh gọn, bí mật và phán quyết của trọng tài có giá trị trung thẩm Ông cũng nhấn mạnh thêm rằng: Đây là con đường mà các doanh nghiệp nướcngoài tin tưởng và các doanh nghiệp Việt Nam cũng nên tin tưởng và lựa chọn.Chính vì vậy mà hoàn thiện hành lang pháp lý về trọng tài thương mại đang đượccoi là một trong những mục tiêu hàng đầu trong nỗ lực tạo điều kiện để phát triểntrọng tài thương mại nói riêng và hỗ trợ có hiệu quả hoạt động kinh doanh thươngmại nói chung ở nước ta.

Thỏa thuận trọng tài là vấn đề then chốt và có vai trò quyết định đối với việc

áp dụng trọng tài như một phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh Nóicách khác, không có thỏa thuận trọng tài thì không có việc giải quyết tranh chấpbằng trọng tài Thỏa thuận trọng tài là yếu tố cơ bản cần thiết, là sợi chỉ đỏ xuyênsuốt toàn bộ hoạt động trọng tài kể từ lúc khởi đầu trọng tài cho đến khi công nhận

và thi hành phán quyết trọng tài Hiệu quả của hoạt động tố tụng trọng tài phụ thuộcmột phần không nhỏ vào thỏa thuận trọng tài Sự cần thiết hoàn thiện các chế địnhpháp lý về thỏa thuận trọng tài do đó cũng là một yêu cầu tất yếu và là hạt nhânquan trọng trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý về Trọng tài thương mại

Thực tiễn pháp luật và áp dụng pháp luật về Trọng tài thương mại ở Việt Namcho thấy, nhiều doanh nghiệp còn chưa đánh giá đúng vai trò của thỏa thuận trọngtài nên trong quá trình soạn thảo, ký kết thỏa thuận trọng tài còn nhiều thiếu sót dẫnđến những tranh chấp không đáng có về thỏa thuận trọng tài Bên cạnh đó, pháp luậthiện hành về thỏa thuận trọng tài còn có nhiều hạn chế, bất cập nên đã gây nhiềucản trở cho hoạt động đưa tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài thương mại và làmgiảm tính hấp dẫn của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại

Đây cũng chính là lý emlựa chọn đề tài "Thực trạng quy định pháp luật việt

Nam về thỏa thuận trọng tài và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về thỏa thuận trọng tài ở Việt Nam" làm đề tài tiểu luận tốt nghiệp.

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu

Từ trước đến nay cũng đã có một số bài báo, bài viết về vấn đề này nhưngcũng chỉ nói chung mà chưa đi sâu nghiên cứu chi tiết pháp luật về trọng tài thươngmại, bản chất thỏa thuận trọng tài cũng như thực trạng về thỏa thuận trọng tàithương mại ở nước ta Trong xu thế hội nhập hiện nay, việc nghiên cứu một cách có

hệ thống về vấn đề này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Những giải phápcủa đề tài hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn thiện các quyđịnh pháp luật về trọng tài của Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Thỏa thuận trọng tài thương mại

Phạm vi nghiên cứu: Luật trọng tài thương mại 2010

4 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu cả hai phương diện lý luận và thực tiễn về pháp luật ViệtNam về thỏa thuận trọng tài thương mại Trước tiên, nghiên cứu về khái quát trọngtài thương mại và thỏa thuận trọng tài thương mại, thực trạng pháp luật về thỏathuận trọng tài thương mại Sau đó tập trung nghiên cứu đưa ra những biện phápnâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật thỏa thuận trọng tài thương mại

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được những yêu cầu và mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quátrình nghiên cứu, đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp tổng hợp, phương phápLuật học so sánh và phương pháp thu thập thông tin để giải quyết những vấn đề mà

đề tài đặt ra

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đềtài gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về trọng tài thương mại và thỏa thuận trọng tài

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụngcác quy định pháp luật về thỏa thuận trọng tài ở Việt Nam

Trang 11

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG

MẠI VÀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI 1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

1.1.1 Khái niệm trọng tài thương mại

Thực tiễn thương mại trên thế giới đã chứng tỏ rằng, trọng tài là một phươngthức hữu hiệu để giải quyết tranh chấp Phương thức này đã xuất hiện từ lâu và ngàycàng phổ biến trong đời sống kinh tế ở khắp nơi trên thế giới Khái niệm trọng tàiđược nghiên cứu dưới rất nhiều bình diện khác nhau trong khoa học pháp lý và hiệnnay cũng có rất nhiều cách tiếp cận về khái niệm này Trọng tài với tư cách là mộtphương thức giải quyết tranh chấp là cách tiếp cận chủ yếu của hệ thống các quyđịnh pháp luật về trọng tài

Theo cuốn "Đại từ điển kinh tế thị trường" thì Trọng tài làm một phương thứcgiải quyết một cách hòa bình các vụ tranh chấp Là chỉ đôi bên đương sự tự nguyệnđem những sự việc, những vấn đề tranh chấp giao cho bên thứ ba có tư cách côngbằng chính trực xét xử, lời phán quyết do người này đưa ra có hiệu lực ràng buộcvới cả hai bên

Theo Luật mẫu của UNCITRAL - một văn bản nhiều nước tiếp nhận khi xâydựng luật trọng tài thì: Trọng tài nghĩa là mọi hình thức trọng tài có hoặc không có

sự giám sát của tổ chức

Theo Hội đồng trọng tài Mỹ (AAA) thì: Trọng tài là cách thức giải quyết tranhchấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một số người khách quan xem xét giảiquyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên tranh chấpphải thi hành

Theo cuốn "Đạo đức và kỹ năng hành nghề luật sư trong nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa" do GS.TS Lê Hồng Hạnh làm chủ biên thì Trọng tài

là phương thức giải quyết tranh chấp theo đó hai hay nhiều bên đưa vụ tranh chấpcủa họ ra trước bên thứ ba trung lập để chủ thể này tiến hành giải quyết tranh chấptheo những thủ tục đặc trưng của quá trình đó

Pháp luật trọng tài Việt Nam cũng có quy định tương tự về khái niệm này:

"Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt

Trang 12

động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự thủ tục doluật này quy định" [34, Khoản 1, Điều 2 Luật TTTM 2010].

Bên cạnh đó, trọng tài với tư cách là một cơ quan giải quyết tranh chấp cũng làcách tiếp cận khá phổ biến, ví dụ như theo từ điển tiếng Việt thì trọng tài là " Ngườiđược cử ra để phân xử, giải quyết những vụ tranh chấp"

Ngoài ra, khái niệm này còn được tiếp cận với tư cách là một chế định phápluật, theo cuốn Danh từ pháp luật lược giải thì trọng tài là "một chế định cử tư nhângiải quyết sự bất hòa cho hai bên nguyên bị trong một vụ tranh chấp"

1.1.2 Đặc điểm trọng tài thương mại

*Trọng tài với tư cách là một cơ quan giải quyết tranh chấp

Trọng tài được hiểu là một cơ quan tài phán, có thẩm quyền giải quyết cáctranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại Ở các nước có nền kinh tế thịtrường, trọng tài được thừa nhận là cơ quan tài phán độc lập tại song song với Tòa

án Pháp luật tôn trọng quyền tự do lựa chọn của các bên, khi có tranh chấp trongthương mại phát sinh, các chủ thể có thể lựa chọn hoặc Tòa án hoặc Trọng tài giảiquyết tranh chấp cho mình Nếu các bên đã có thỏa thuận trọng tài có hiệu lực, đưatranh chấp ra Trọng tài giải quyết mà sau đó các bên lại đưa đơn yêu cầu Tòa án giảiquyết thì Tòa án không được thụ lý và sẽ trả lại đơn kiện và vụ tranh chấp đó sẽ dotrọng tài giải quyết

Trong tương quan so sánh với Tòa án, cơ quan giải quyết tranh chấp thươngmại thuộc hệ thống cơ quan Nhà nước, Trọng tài thương mại có những đặc trưngriêng khác hẳn với Tòa án, cụ thể là:

Một là, với hình thức là một Trung tâm Trọng tài thì trọng tài là một tổ chức

xã hội - nghề nghiệp do các trọng tài viên tự thành lập nên để giải quyết tranh chấpphát sinh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại; còn với hình thức là trọng tài vụviệc (ad- hoc) thì trọng tài là một tổ chức lâm thời do các bên tranh chấp thỏa thuậnthành lập để giải quyết một vụ việc tranh chấp cụ thể Trọng tài không phải là cơquan xét xử của Nhà nước, không do Nhà nước thành lập nên và cũng không hoạtđộng bằng ngân sách Nhà nước Các trọng tài viên không phải là viên chức Nhànước và cũng không hưởng lương từ ngân sách Nhà nước Khi xét xử, trọng tàikhông nhân danh Nhà nước mà nhân danh "quyền lực tư"để ra các phán quyết

Trang 13

Hai là, thẩm quyền giải quyết của trọng tài đối với tranh chấp thương mại cụthể không tự nhiên mà có, không do pháp luật ấn định mà còn phụ thuộc vào sựthỏa thuận của các chủ thể tranh chấp Pháp luật quy định, trọng tài chỉ có thẩmquyền giải quyết vụ tranh chấp khi các bên tranh chấp có thỏa thuận lựa chọn trọngtài giải quyết Nếu không có thỏa thuận trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp về việclựa chọn trọng tài hoặc có nhưng thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì trọng tài không cóthẩm quyền giải quyết Có thể nói, chính các chủ thể tranh chấp với việc lựa chọntrọng tài giải quyết tranh chấp của mình đã trao quyền được xét xử vụ việc chotrọng tài.

Ba là, phán quyết trọng tài vừa có tính tài phán của cơ quan có thẩm quyền xét

xử, vừa thể hiện ý chí, sự thỏa thuận của các bên Tuy nhiên, do trọng tài khôngphải là cơ quan xét xử của Nhà nước như Tòa án nên phán quyết của trọng tàikhông mang tính quyền lực nhà nước Phán quyết của trọng tài có giá trị ràng buộcđối với các bên tranh chấp mà không có giá trị ràng buộc với bên thứ ba Ngay cảkhi một hoặc các bên tranh chấp không tôn trọng phán quyết trọng tài, không tựnguyện thi hành phán quyết thì trọng tài cũng không có cơ quan cưỡng chế củariêng mình để cưỡng chế thi hành Phán quyết trọng tài do các bên đương sự tựnguyện thi hành hoặc nhờ đến sự hỗ trợ của cơ quan Nhà nước để cưỡng chế thihành

Như vậy, với tư cách là một cơ quan tài phán, trọng tài không nằm trong hệthống cơ quan quản lý Nhà nước, tồn tại độc lập, song song với Tòa án và có thẩmquyền giải quyết các tranh chấp khi được các bên lựa chọn

*Trọng tài thương mại với tư cách là một hình thức giải quyết tranh chấpthương mại

Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinhdoanh thương mại, tồn tại song song với các phương thức giải quyết tranh chấpkhác như: thương lượng, hòa giải, tòa án và các phương thức giải quyết tranh chấplựa chọn ADR Trọng tài và các phương thức ADR, nói chung là các phương thứcgiải quyết ngoài tòa án, không cạnh tranh với toàn án mà tòa án, trọng tài ADR làcác phương thức bổ sung lẫn nhau Thực tế, trọng tài không thể phát triển mà không

có sự hợp tác và kiểm soát cuối cùng của tòa án quốc gia Trọng tài đã trở thành

Trang 14

phương thức được sử dụng phổ biến để giải quyết các tranh chấp thương mại quốc

tế Với tính chất là một phương thức giải quyết tranh chấp, trọng tài thương mạiđược hiểu là phương thức, trong đó các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận vớinhau để ủy thác việc giải quyết tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa họ cho trọngtài; và trọng tài, trên cơ sở các tình tiết khách quan của tranh chấp, được quyền đưa

ra quyết định cuối cùng để giải quyết tranh chấp và quyết định này có giá trị bắtbuộc thi hành đối với các bên Tại Việt Nam, trọng tài theo đúng nghĩa là mộtphương thức giải quyết tranh chấp chỉ ra đời từ năm 1993 trên cơ sở Quyết định số204-TTg củ thủ tướng Chính phủ ngày 28/4/1993 về việc thành lập trung tâm trọngtài quốc tế Việt Nam (VIAC)

Với tư cách là một hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt độngkinh doanh thương mại, trọng tài có những đặc trưng cơ bản sau:

Một là, trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bênthứ ba - một Hội đồng trọng tài hoặc một trọng tài viên duy nhất Trọng tài do chínhcác bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp Trọngtài là người hoàn toàn độc lập với các bên, đứng giữa để giải quyết tranh chấp, đưa

ra các phán quyết bắt buộc để bảo vệ quyền và lợi ích của các bên

Hai là, trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua một thủ tục tốtụng chặt chẽ Đối với trọng tài thường trực trong quá trình giải quyết tranh chấp,trọng tài viên và các bên tranh chấp phải tuân thủ đúng trình tự tố tụng mà pháp luậttrọng tài, điều lệ và quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài đó quy định Còn đối vớitrọng tài vụ việc, các bên có thể thỏa thuận thủ tục tố tụng riêng, ngoài ra, các trọngtài viên và các bên cũng phải tuân thủ đúng thủ tục tố tụng trọng tài mà mình đặt ra

Ba là, kết quả của việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài là phán quyết dotrọng tài tuyên đối với các bên đương sự của vụ tranh chấp, phán quyết của trọng tàimang tính chung thẩm, vừa kết hợp yếu tố thỏa thuận (các bên đương sự có thể thỏathuận về trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp, luật áp dụng đối với vụ tranhchấp…), vừa kết hợp yếu tố tài phán (có giá trị bắt buộc đối với các bên)

Trang 15

1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của thỏa thuận trọng tài

Thỏa thuận trọng tài thương mại là thỏa thuận bằng văn bản, theo đó các bên

kí kết nhất trí đưa tất cả hoặc một số tranh chấp đã hoặc sẽ có thể phát sinh từ giaodịch thương mại có khả năng được áp dụng trọng tài ra giải quyết bằng con đườngtrọng tài Bản chất của trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp dựa trên sựthỏa thuận của các bên tranh chấp Điều này khác với việc các bên tranh chấp yêucầu giải quyết tranh chấp tại Tòa án, cơ quan đương nhiên có thẩm quyền xét xử bất

kỳ tranh chấp trong nước nào (chỉ trừ khi các bên có thỏa thuận khác) Trọng tài chỉ

có thẩm quyền xét xử khi các bên tranh chấp có thỏa thuận chọn trọng tài để giảiquyết tranh chấp, điều này đồng nghĩa với việc thỏa thuận trọng tài là điều kiện tiênquyết để tiến hành tố tụng trọng tài

Theo quy định của pháp luật hầu hết các quốc gia trên thế giới, thỏa thuậntrọng tài có những đặc điểm sau:

*Đặc điểm về nội dung của thỏa thuận trọng tài

Nội dung của thỏa thuận trọng tài chính là việc xác định cách thức, trình tự,thủ tục, thẩm quyền và trách nhiệm của các bên liên quan khi cần giải quyết nhữngtranh chấp, bất đồng phát sinh hay liên quan đến hợp đồng chính Việc xác lập nộidung các điều khoản trong thỏa thuận trọng tài đều phụ thuộc vào sự tự nguyện thỏathuận của các bên mà không chịu sự can thiệp của của pháp luật Tuy nhiên, đểtránh những rắc rối mà các bên có thể gặp phải và nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp, pháp luật có quy định một

số điều khoản mang tính cơ bản trong một thỏa thuận trọng tài như: phương thứctrọng tài, tổ chức trọng tài, ngôn ngữ trọng tài, luật áp dụng, địa điểm trọng tài, chiphí trọng tài, cam kết thi hành quyết định trọng tài Ngoài ra, các bên có thể lựachọn thỏa thuận thêm các điều khoản khác nhằm tạo điều kiện cho việc giải quyếttranh chấp hiệu quả nhất

Một thỏa thuận trọng tài chỉ có giá trị pháp lý khi đáp ứng được những yêucầu của pháp luật về nội dung Hầu hết pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều

Trang 16

yêu cầu nội dung của thỏa thuận trọng tài phải rõ ràng, chính xác, có thể dễ dàngxác định thẩm quyền của một Hội đồng trọng tài cụ thể và quy tắc tố tụng nhất định.

*Đặc điểm về hình thức của thỏa thuận trọng tài

Trong hầu hết các trường hợp thỏa thuận trọng tài phải được thể hiện dướihình thức văn bản Điều này đảm bảo cho thỏa thuận trọng tài có giá trị như mộtchứng cứ xác định ý chí của các bên muốn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.Pháp luật của hầu hết các nước đều quy định thỏa thuận trọng tài phải bằng văn bản,tuy nhiên điều khoản trọng tài cũng có thể bằng miệng, nhưng trường hợp này là rấthiếm hoi

Thông thường có hai cách để thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp bằngtrọng tài:

Một là, các bên dự đoán trước và thỏa thuận ngay từ khi bắt đầu quan hệthương mại việc sẽ đưa ra trọng tài giải quyết các tranh chấp phát sinh trong tươnglai Sự thỏa thuận này thường được thể hiện thành một điều khoản trọng tài tronghợp đồng xác lập quan hệ thương mại giữa hai bên Điều khoản này thường nằmcuối hợp đồng sau khi các bên đã thỏa thuận xong các điều khoản chính Điềukhoản trọng tài chỉ mang tính dự liệu, các bên đều không mong muốn tranh chấp sẽxảy ra nên thường ngắn gọn

Hai là, sau khi tranh chấp phát sinh, các bên mới thỏa thuận đưa tranh chấp ragiải quyết bằng trọng tài Thỏa thuận này thường dưới hình thức một văn bản thỏathuận riêng và được coi như gắn liền với hợp đồng chính hay còn gọi là thỏa thuậnđưa các tranh chấp hiện thời ra giải quyết theo phương thức trọng tài, do đó, thỏathuận trọng tài này thường biên soạn đầy đủ, có tính khả thi cao Tuy nhiên, trênthực tế hình thức thỏa thuận trọng tài này thường ít được sử dụng vì sau khi đã xảy

ra tranh chấp thì việc các bên ngồi lại với nhau để thỏa thuận cách thức giải quyếttranh chấp là không dễ dàng, trong trường hợp đó, vụ việc thường được giải quyếttheo con đường Tòa án

*Đặc điểm về mối quan hệ giữa thỏa thuận trọng tài và hợp đồng chính

Dù thỏa thuận trọng tài được thể hiện dưới hình thức một điều khoản nằmtrong hợp đồng chính hay dưới hình thức văn bản riêng đi kèm hợp đồng chính thìthỏa thuận trọng tài thực chất chính là một hợp đồng nhỏ có nội dung khác biệt và

Trang 17

giá trị độc lập với hợp đồng chính Như vậy, ngay cả khi hợp đồng bị thay đổi, hủy

bỏ, bị hết hiệu lực thì thỏa thuận trọng tài vẫn có giá trị

Sở dĩ, ngay cả khi thỏa thuận trọng tài là một điều khoản nằm trong hợp đồngchính thì nó vẫn mang tính độc lập với hợp đồng chính vì thỏa thuận trọng tài có đốitượng pháp lý là xác định thủ tục tố tụng sẽ được áp dụng trong trường hợp có tranhchấp phát sinh giữa các bên, hoàn toàn khác so với đối tượng của hợp đồng chính làxác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong một quan hệ pháp luật nhất định Do

đó, việc pháp luật trọng tài xác định hiệu lực độc lập của thỏa thuận trọng tài làhoàn toàn hợp lý, nó biểu hiện nguyên tắc tôn trọng ý chí của các bên, mà ở đây làtôn trọng sự thỏa thuận về việc lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp của các bên.Tuy nhiên, đối với trường hợp hợp đồng chính bị vô hiệu thì tính độc lập về hiệulực của thỏa thuận trọng tài chỉ là tương đối Việc xác định thỏa thuận trọng tài có

vô hiệu hay không còn phụ thuộc vào nguyên nhân hợp đồng chính bị vô hiệu Nếunguyên nhân dẫn đến hợp đồng chính và thỏa thuận trọng tài vô hiệu là trùng nhauthì khi đó, đương nhiên cả hai cùng vô hiệu, ví dụ như trường hợp thỏa thuận trọngtài tồn tại dưới dạng điều khoản trọng tài trong hợp đồng chính do một bên không

có hoặc không có đủ thẩm quyền ký kết hoặc vi phạm các nguyên tắc tự nguyện khi

kí kết hợp đồng thì cả hợp đồng chính và thỏa thuận trọng tài đều vô hiệu

*Đặc điểm về điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài

Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài có liên quan chặt chẽ đến các điều kiện luậtđịnh về năng lực chủ thể tham gia thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của trọng tài, ýchí tự nguyện của các chủ thể và hình thức của thỏa thuận trọng tài, chỉ khi mộtthỏa thuận trọng tài đáp ứng đủ các điều kiện trên theo luật định thì nó mới có hiệulực

Thứ nhất, điều kiện về hình thức của thỏa thuận trọng tài

Trong các điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, điều kiện về hìnhthức được coi là một điều kiện hết sức cơ bản Hình thức của thỏa thuận trọng tài là

sự thể hiện ra bên ngoài sự thống nhất ý chí của các bên tham gia quan hệ thươngmại Nhìn chung, pháp luật trọng tài của hầu hết các nước trên thế giới đều quy địnhthỏa thuận trọng tài phải được thể hiện dưới dạng văn bản Quy định này đã trởthành một tập quán quốc tế chung bởi chỉ có thể xác lập bằng văn bản mới tạo ra sự

Trang 18

tin tưởng cho các bên, đồng thời là cơ sở ràng buộc trách nhiệm của các bên khiphát sinh tranh chấp Hậu quả pháp lý của việc vi phạm quy định về hình thức thỏathuận trọng tài là một trong những nguyên nhân làm vô hiệu thỏa thuận trọng tàihoặc làm cho phán quyết trọng tài không được công nhận thi hành.

Thứ hai, điều kiện về thẩm quyền của trọng tài

Mặc dù phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có nhiều ưu điểm vàngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế phát triển Tuy vậy, không phảimọi tranh chấp đều có thể giải quyết được bằng trọng tài, ngay cả khi giữa các bêntranh chấp thỏa mãn điều kiện về sự tự nguyện thỏa thuận Đó là khi pháp luật nơidiễn ra trọng tài không cho phép giải quyết loại tranh chấp đó thông qua hình thứctrọng tài Trong thương mại quốc tế, Việt Nam đã tuyên bố bảo lưu đối với Côngước New York 1958 tại quyết định số 453 QĐ/CTN của Chủ tịch nước ngày17/7/1995, không cho phép thỏa thuận trọng tài đối với tất cả các vấn đề liên quanđến trật tự công công cộng Nhìn chung ở một số nước, các vấn đề không được ápdụng trọng tài là: các vấn đề về tình trạng cá nhân (như hộ tịch, năng lực chủ thể, lyhôn hay ly thân ); các hợp đồng ký kết do lừa đảo hoặc vô đạo đức; tranh chấp vềphát minh, nhãn hiệu hàng hóa và bản quyền, luật cạnh tranh, tranh chấp về bảohiểm, tham nhũng, phá sản, tranh chấp về cấm vận, một số tranh chấp về quan hệlao động v.v

Thứ ba, điều kiện về năng lực chủ thể

Có thể nói năng lực chủ thể là vấn đề đầu tiên mà các bên cần quan tâm khitiến hành đàm phán thỏa thuận trọng tài vì nếu một bên không có năng lực chủ thể

sẽ khiến điều khoản này vô hiệu Đối với mỗi loại chủ thể thì nội dung pháp lý điềuchỉnh lại có những quy định khác nhau phù hợp với đặc điểm, tính chất của từngloại chủ thể Chủ thể ở đây gồm ba dạng: cá nhân, pháp nhân và quốc gia (hoặc các

cơ quan nhà nước), đối với mỗi loại chủ thể pháp luật các nước đều có những quyđịnh về cách xác định luật áp dụng riêng Ví dụ như, theo quy định của Bộ luật Dân

sự Việt Nam 2005, năng lực của cá nhân được xác định theo luật quốc tịch, hoặcnếu là người không quốc tịch hoặc người có nhiều quốc tịch thì áp dụng luật nơi cưtrú Đối với pháp nhân, năng lực của pháp nhân được xác định theo luật nơi phápnhân thành lập (trừ trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập và thực hiện giao dịch

Trang 19

tại Việt Nam thì áp dụng pháp luật Việt Nam), tức là áp dụng hệ thuộc luật nơi thựchiện hành vi.

Thứ tư, về điều kiện về ý chí tự nguyện của chủ thể

Thỏa thuận trọng tài là một loại hợp đồng, trong đó ý chí tự nguyện của chủthể đóng vai trò là một nguyên tắc quan trọng trong quá trình xác lập Thỏa thuậntrọng tài sẽ không có giá trị pháp lý nếu nó không phải là kết quả của sự thống nhất

ý chí giữa các chủ thể hay là sự áp đặt ý chí của bất kì cơ quan, tổ chức, cá nhânnào Dựa trên cơ sở thống nhất ý chí, các bên thỏa thuận về các yếu tố liên quan đếnquá trình giải quyết tranh chấp: tổ chức trọng tài, hình thức trọng tài, ngôn ngữ, địađiểm và các nội dung khác phù hợp với lợi ích của các bên

Trong một số trường hợp, thỏa thuận trọng tài được các bên chứng minh rằng

họ bị ép buộc, lừa dối hay nhầm lẫn khi ký thỏa thuận trọng tài và yêu cầu tòa ántrọng tài hoặc tòa án quốc gia tuyên bố hủy thỏa thỏa thuận trọng tài

1.2.2 Ý nghĩa của thỏa thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại

Với những đặc điểm đã trình bày ở trên, trọng tài là yếu tố không thể thiếutrong tố tụng quan trọng này của thỏa thuận trọng tài được thể có thể khẳng địnhthỏa thuận trọng tài thương mại, vai trò hiện ở các phương diện sau:

Thứ nhất, thỏa thuận trọng tài loại trừ thẩm quyền xét xử của Tòa án đối vớitranh chấp Tuy nhiên, điều này không loại trừ sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạtđộng giải quyết tranh chấp của trọng tài khi: có khiếu kiện nại liên quan đến thỏathuận trọng tài vô hiệu, yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, chỉ địnhtrọng tài viên (trong trường hợp trọng tài vụ việc) và khi có căn cứ pháp luật để đềnghị Tòa án hủy quyết định trọng tài

Thứ hai, thỏa thuận trọng tài có tác dụng ràng buộc các bên, bởi nó được xáclập trên cơ sở ý chí tự nguyện và bình đẳng của chính các bên Một khi đã xác lậpthỏa thuận trọng tài thì không bên nào được thoái thác việc giải quyết tranh chấp tạitrọng tài Qua đó, cũng giúp các bên nâng cao ý thức trong việc thực hiện nhữngnghĩa vụ đã cam kết, là một biện pháp tích cực để phòng ngừa các tranh chấp

Thứ ba, thỏa thuận trọng tài là yếu tố quan trọng nhất, luôn được đặt lên hàngđầu từ khi đưa tranh chấp thương mại ra trọng tài cho tới khi phán quyết cuối cùng

Trang 20

được đưa ra Việc xác định thẩm quyền, phạm vi thẩm quyền của Hội đồng trọng tàitrong việc giải quyết tranh chấp phụ thuộc vào các giới hạn đặt ra trong thỏa thuậntrọng tài trọng tài Đặc biệt với những tranh chấp có yếu tố nước ngoài thỏa thuậntrọng tài còn cho phép lựa chọn nơi tiến hành tố tụng trọng tài, luật áp dụng và ngônngữ trọng tài trong điều kiện phù hợp nhất Thỏa thuận trọng tài với nội dung chính

là quyền lựa chọn của các bên về các yếu tố của luật tố tụng trọng tài sao cho phùhợp nhất với mình nên sẽ giúp hình thành những điều kiện tốt nhất để tiến hànhtrọng tài và thi hành quyết định trọng tài

Từ phân tích trên đây, có thể khẳng định rằng, thỏa thuận trọng tài được xem

là vấn đề then chốt và có vai trò quyết định đối với việc áp dụng Trọng tài như mộtphương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh Có thể nói, không có thỏathuận trọng tài thì không có việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Nhưng trênthực tế hiện nay thỏa thuận trọng tài vẫn chưa phát huy được hết vai trò to lớn củamình, vẫn còn nhiều những vướng mắc liên quan tới thỏa thuận trọng tài làm cảntrở quá trình tố tụng trọng tài Vậy, phải làm thế nào để thỏa thuận trọng tài thực sựphát huy được hết vai trò của mình, thực sự trở thành bước khởi đầu hoàn hảo cho

tố tụng trọng tài Câu hỏi trên chỉ có thể được trả lời khi ta nghiên cứu thỏa thuậntrọng tài từ hai góc độ là pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng các quy định phápluật đó tại Việt Nam

Trang 21

CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG THỎA THUẬN TRỌNG TÀI TRÊN THỰC TẾ Ở VIỆT

NAM 2.1 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI

Trọng tài đang dần dần được doanh nghiệp Việt Nam sử dụng trong hoạt độngthương mại Tuy nhiên, do lịch sử cũng như do nhận thức, trọng tài chưa có một vaitrò đúng như nó cần phải có Mấy chục năm qua, do ảnh hưởng của nền kinh tế tậptrung quan liêu bao cấp, các doanh nghiệp đã không quan tâm đến trọng tài Nhiềudoanh nghiệp không phân biệt được sự khác nhau giữa trọng tài kinh tế (Nhà nước)với trọng tài phi chính phủ, không tín nhiệm trọng tài vì thiếu hiệu lực cưỡng chếquyết định trọng tài Điều này đã khiến cho các doanh nghiệp không "mặn mà" vớitrọng tài mà các biểu hiện khá phổ biến là:

- Doanh nghiệp chưa có một thói quen đặt ra câu hỏi là cần lựa chọn trọng tàihay tòa án khi ký kết hợp đồng và tại sao lại như vậy

- Nếu chọn trọng tài, họ cũng chỉ quy định một cách chung chung, khôngchính xác, ví dụ, trong các điều khoản trọng tài họ vừa chọn trọng tài lại vừa chọntòa án; chọn trọng tài tài A để phúc thẩm trọng tài B; chọn trọng tài A nhưng lại quyđịnh dùng quy tắc trọng tài B để áp dụng; ghi tên tổ chức trọng tài hoặc ghi quy tắc

tố tụng không chính xác Những điều khoản trọng tài như vậy rất dễ bị tranh chấp

về tính hiệu lực của nó

- Nếu chọn trọng tài, các bên trong thỏa thuận trọng tài cũng không hiểu biếtlắm về trọng tài Họ không hiểu bản chất của phương thức giải quyết tranh chấpbằng trọng tài hoặc hiểu "mù mờ" về tổ chức trọng tài hoặc quy tắc tố tụng trọng tài

mà họ lựa chọn Sự thỏa thuận chọn trọng tài, chọn quy tắc, chọn địa điểm xét xử vàluật áp dụng lắm khi là do cách quan niệm rằng tranh chấp sẽ không xẩy ra, nếu cóxẩy ra thì sẽ thương lượng

Trang 22

Thực tế cho thấy, một số doanh nghiệp Việt Nam, do không chọn trước trọngtài (hay tòa án) khi có tranh tranh chấp phát sinh trong các vụ kiện có yếu tố nướcngoài, họ không biết quyết định như thế nào Chọn trọng tài thì đã quá muộn vì đốitác không hợp tác, chọn tòa án nước ngoài của đối tác thì vừa sợ, vừa lo Sợ vìkhông biết thủ tục pháp luật, lo vì chi phí Chọn tòa án Việt Nam thì không chắc bản

án của Tòa án ta có được nước ngoài công nhận không Với trường hợp thứ hai nêutrên, khả năng vô hiệu của điều khoản trọng tài sẽ rất cao Một điều khoản trọng tài

bị coi là vô hiệu sẽ dẫn đến hệ quả phức tạp, nhất là việc quyết định trọng tài có thể

bị hủy, vụ tranh chấp sẽ bị kéo dài không cần thiết Với trường hợp nêu trên, sẽ làmcho nhiều doanh nghiệp bị bất ngờ, lúng túng vì trước đó, họ không biết gì hơn vềtrọng tài, về pháp luật họ chọn, quá trình trọng tài hoặc bị kéo dài, hoặc có rủi ro

Sẽ không có trọng tài nếu không có thỏa thuận trọng tài Khác với tòa án, nơiđương nhiên có thẩm quyền xét xử bất kỳ tranh chấp trong nước nào, trọng tài chỉ

có thẩm quyền xét xử các tranh chấp khi các bên tranh chấp (trong nước hoặc cóyếu tố nước ngoài) có thỏa thuận chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp

Mỗi quốc gia khác nhau, do ảnh hưởng của các yếu tố về kinh tế, chính trị,phong tục tập quán cũng như trình độ lập pháp khác nhau mà hệ thống pháp luật củamỗi nước đều mang những nét riêng biệt, ngay cả với những nhưng quy định vềthỏa thuận trọng tài cũng vậy Sự ghi nhận của pháp luật Việt Nam về thỏa thỏathuận trọng tài được thể hiện qua những khía cạnh sau đây

2.1.1 Quy định về khái niệm thỏa thuận trọng tài

Khái niệm thỏa thuận trọng tài được quy định tại Điều 2, Khoản 3 Luật TTTM

2010: "Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh"

Hiểu theo định nghĩa trên thì các tranh chấp không có quan hệ hợp đồng cũng

có thể được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thỏa thuận đưa tranh chấp ragiải quyết tại Trọng tài Do đó, để hạn chế tối đa những rủi ro trong việc áp dụngluật, Luật cần cụ thể hóa việc xác định thẩm quyền của Trọng tài tương thích vớiLuật Mẫu "Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận mà các bên đưa ra Trọng tài mọitranh chấp nhất định phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các bên về quan hệ pháp

lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng …" Công

Trang 23

ước New York 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoàicũng quy định rất rõ về vấn đề này "Mỗi quốc gia thành viên sẽ công nhận một thỏathuận bằng văn bản, theo đó các bên cam kết đưa ra trọng tài xét xử mọi tranh chấp

đã hoặc có thể phát sinh giữa các bên từ một quan hệ pháp lý xác định, dù là quan

hệ hợp đồng hay không, liên quan đến một đối tượng có khả năng giải quyết tranhchấp bằng trọng tài" (Điều II) Luật Trọng tài của hầu hết các nước trên thế giới nhưLuật Trọng tài Anh, Luật Trọng tài Đức, Luật Trọng tài Hàn Quốc, Luật Trọng tàiNga, Luật Trọng tài Nhật Bản …đều quy định các tranh chấp phát sinh từ quan hệhợp đồng hoặc ngoài hợp đồng đều được giải quyết bằng Trọng tài

Sẽ không có trọng tài nếu không có thỏa thuận trọng tài Luật TTTM 2010 đãxác định rất rõ rằng: các tranh chấp được giải quyết bởi trọng tài nếu trước hoặc saukhi tranh chấp các bên có thỏa thuận trọng tài Thỏa thuận trọng tài có thể là mộtđiều khoản của hợp đồng (điều khoản thỏa thuận trọng tài) hoặc được lập thành mộtthỏa thuận riêng

Có thể nói, thỏa thuận trọng tài là hòn đá tảng của quá trình giải quyết tranhchấp thương mại bằng trọng tài, thể hiện sự nhất trí của các bên cùng đưa tranhchấp ra trọng tài để giải quyết Thỏa thuận trọng tài có hiệu lực không chỉ là hìnhthức pháp lý ghi nhận sự thỏa thuận của các bên mà còn là một căn cứ pháp lý đểdựa vào đó bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ hợpđồng Với vị trí, vai trò quan trọng mang tính quyết định đối với phương thức giảiquyết tranh chấp bằng trọng tài, thỏa thuận trọng tài được pháp luật các nước cũngnhư pháp luật quốc tế dành cho một sự quan tâm đặc biệt, thể hiện ở chỗ trong cácđạo luật về trọng tài thường có một chương riêng (thường là chương 2) để quy định

về vấn đề này (Luật trọng tài thương mại quốc tế Liên bang Nga 1993; Luật trọngtài Canada 1986; Luạt tọng tài Đức 1998…)

Tuy nhiên, trong điều kiện của Việt Nam sự hiểu biết pháp luật của các tổchức, cá nhân kinh doanh còn hạn chế, với định nghĩa không rõ ràng như trên thìtranh chấp được giải quyết bằng trọng tài thường chỉ được hiểu theo nghĩa là quan

hệ phát sinh từ hợp đồng Điều này khiến cho thẩm quyền giải quyết tranh chấp củatrọng tài trên thực tế bị thu hẹp, ngoài ra còn gây khó khăn cho việc công nhận vàcho thi hành phán quyết trọng tài

Trang 24

2.1.2 Quy định về hình thức thỏa thuận trọng tài

Hình thức của thỏa thuận trọng tài là sự thể hiện ra bên ngoài sự thống nhất ýchí của các bên tham gia quan hệ thương mại Theo Luật TTTM 2010 thì thỏa thuậntrọng tài phải được lập thành văn bản Thỏa thuận bằng miệng không được chấpnhận Điều này có khác với quan điểm của một vài nước khác thuộc hệ thống luật

án lệ Ví dụ như ở Australia, một thỏa thuận có thể làm bằng miệng Tương tự, theoluật án lệ, một thỏa thuận bằng miệng cũng có thể được thi hành ở Hồng Kông (tuynhiên, khi áp dụng luật trọng tải Hồng Kông năm 1982 thì thỏa thuận trọng tài phảiđược lập thành văn bản) Ở một số nước khác như Đan Mạch, Thụy Điển, thỏathuận trọng tài không nhất thiết phải được lập thành văn bản Tuy nhiên, luật trọngtài của nhiều nước trên thế giới và các công ước quốc tế, chẳng hạn như Điều 7 củaLuật mẫu và Điều 25 Công ước về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa các nước vàcông dân các nước khác, đòi hỏi một thỏa thuận trọng tài phải được lập thành vănbản, duy chỉ có điều nội hàm của khái niệm văn bản được hiểu theo nghĩa rộng, hẹpkhác nhau

Theo Điều 16, Khoản 2 Luật TTTM 2010 thì "Thỏa thuận trọng tài phải đượclập bằng văn bản.” Các thỏa thuận khác cũng được coi là văn bản bao gồm:

Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex,thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;

Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa cácbên;

Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghichép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;

Có hai hình thức tồn tại của thỏa thuận trọng tài được ghi nhận tại

Khoản 1, Điều 16 Luật TTTM 2010 như sau:

Một là, các bên dự đoán trước và thỏa thuận ngay từ khi bắt đầu quan hệthương mại việc sẽ đưa ra trọng tài giải quyết các tranh chấp phát sinh trong tươnglai Sự thỏa thuận này thường được thể hiện thành một điều khoản trọng tài tronghợp đồng xác lập quan hệ thương mại giữa hai bên Điều khoản này thường nằmcuối hợp đồng sau khi các bên đã thỏa thuận xong các điều khoản chính Điều

Trang 25

khoản trọng tài chỉ mang tính dự liệu, chưa chắc chắn hoặc không bao giờ xảy ranên thường ngắn gọn.

Hai là, sau khi tranh chấp phát sinh, các bên mới thỏa thuận đưa tranh chấp ragiải quyết bằng trọng tài Thỏa thuận này thường dưới hình thức một văn bản thỏathuận riêng và được coi như gắn liền với hợp đồng chính hay còn gọi là thỏa thuậnđưa các tranh chấp hiện thời ra giải quyết theo phương thức trọng tài Điều 7.2 củaLuật mẫu cũng quy định về hình thức văn bản của thỏa thuận trọng tài như sau:Thỏa thuận trọng tài phải được lập thành văn bản Thỏa thuận là văn bản nếu

nó nằm trong một văn bản do các bên ký kết hoặc bằng sự trao đổi qua thư từ, telex,điện tín hoặc các hình thức trao đổi viễn thông khác mà ghi nhận thỏa thuận đó hoặctrao đổi về đơn kiện và bản biện hộ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thỏa thuận

do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận Việc dẫn chiếu trong hợp đồng tớimột văn bản ghi nhận điều khoản trọng tài lập nên thỏa thuận trọng tài với điều kiệnhợp đồng này phải là văn bản và sự dẫn chiếu đó là một bộ phận của hợp đồng này.Hiện nay pháp luật trọng tài của nhiều nước đã tiếp nhận Luật mẫu vào trongluật trọng tài của nước mình, đơn cử như Singapore đã tiếp nhận gần như toàn bộLuật mẫu Nhìn vào 2 điều khoản trên chúng ta thấy rằng mặc dù đều quy định hìnhthức thỏa thuận trọng tài là bằng văn bản nhưng nội hàm khái niệm văn bản củaViệt Nam hẹp hơn so với quy định trong Luật mẫu

Trong Luật mẫu thỏa thuận được coi là bằng văn bản nếu nó nằm trong mộtvăn bản được các bên ký kết hoặc bằng sự trao đổi qua thư từ, telex, điện tín hoặccác hình thức trao đổi về đơn kiện và bản biện hộ mà trong đó thể hiện sự tồn tạicủa thỏa thuận do một bên đưa ra và bên kia không phản đối Việc dẫn chiếu tronghợp đồng tới một văn bản ghi nhận điều khoản trọng tài nên Thỏa thuận trọng tàivới điều kiện hợp đồng này phải là văn bản và sự dẫn chiếu đó là một bộ phận củahợp đồng này Luật Trọng tài Anh còn tiến một bước xa trong việc quy định phạm

vi thỏa thuận bằmg văn bản Theo đó, có môt thỏa thuận bằng văn bản khi: thỏathuận được lập bằng văn bản (cho dù nó có được các bên ký hay không); thỏa thuậnđược lập thông qua việc trao đổi các thông tin bằng văn bản hoặc thỏa thuận đượcchứng minh bằng văn bản Thậm chí, trong quá trình tố tụng trọng tài hoặc tố tụng

tư pháp, nếu một thỏa thuận không được xác lập bằng văn bản nhưng được một bên

Trang 26

viện dẫn và bên kia không phủ nhận thì việc trao đổi đó tạo thành một thỏa thuậnbằng văn bản có giá trị pháp lý Trên thực tế, bên cạnh những hình thức văn bản đãđược ghi nhận trong Luật TTTM 2010 còn có các dạng khác cũng được coi là thỏathuận trọng tài được xác lập dưới dạng văn bản như: thỏa thuận được xác lập thôngqua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên như trao đổi về đơn kiện và bản tựbảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thỏa thuận do một bên đưa ra và bên kiakhông phản đối; hay trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thểhiện thỏa thuận trọng tài như các hợp đồng mẫu, các chứng từ, điều lệ công ty vànhững tài liệu khác tương tự Ví dụ tranh chấp về góp vốn, mua cổ phần giữa công

ty và người đăng kí kinh doanh, trong Điều lệ công ty có điều khoản quy định giảiquyết tranh chấp bằng trọng tài là một trong số các phương thức giải quyết tranhchấp, khi đó điều khoản này có thể được coi là một thỏa thuận trọng tài Với việcquan niệm hình thức văn bản theo nghĩa rộng như trong Luật mẫu đã tạo điều kiệncho việc ghi nhận sự thể hiện ý chí của các bên tranh chấp trong việc thỏa thuậnchọn trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp của mình Và cũng với cáchquan niệm như vậy thì quyền và lợi ích của các bên sẽ được bảo vệ một khi tranhchấp xảy ra, vì rằng nếu theo cách quan niệm của nước ta thì có những trường hợpvới cùng một thỏa thuận trọng tài nhưng trọng tài nước ta không có thẩm quyền giảiquyết nhưng trọng tài nước khác lại có thẩm quyền

Như vậy, quy định của Luật TTTM 2010 về hình thức của thỏa thuận trọng tàichưa tương thích với Luật Mẫu và luật trọng tài các nước Điều đáng lưu ý là trườnghợp một bên viện dẫn đến thỏa thuận trọng tài và bên kia không phản đối thì đượccoi là chấp nhận Tuy nhiên, luật TTTM không công nhận trường hợp này, điều nàydẫn đến việc cùng một trường hợp về hình thức thỏa thuận trọng tài nhưng trọng tài

ở các nước khác được quyền giải quyết vụ tranh chấp theo thỏa thuận đó, còn trọngtài ở Việt Nam thì không, do đó đã hạn chế thẩm quyền của trọng tài thương mạicủa chúng ta

2.1.3 Quy định về quan hệ giữa hiệu lực của điều khoản trọng tài với hiệu lực của hợp đồng liên quan

Sự độc lập trong quan hệ giữa điều khoản trọng tài và hợp đồng được quy địnhtại Điều 19 Luật TTTM 2010: "Thoả thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp

Trang 27

đồng Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thểthực hiện được không làm mất hiệu lực của thoả thuận trọng tài."

Đây là nguyên tắc rất quan trọng, đảm bảo mọi tranh chấp phát sinh đều đượcgiải quyết kể cả khi hợp đồng vô hiệu Nguyên tắc này được ghi nhận trong LuậtMẫu và trong hầu hết luật trọng tài các nước Khác với tòa án vốn có thẩm quyềnđương nhiên để giải quyết tranh chấp nếu các bên không có thỏa thuận khác, Trọngtài chỉ có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp nếu được các bên thỏa thuận Tuynhiên, với việc lựa chọn trọng tài, các bên đã loại trừ sự can thiệp của toàn án Do

đó, việc xác định điều khoản trọng tài độc lập với hợp đồng có ý nghĩa, bởi vì đây là

cơ sở duy nhất để Hội đồng Trọng tài được thành lập xem xét và quyết định hợpđồng có hiệu lực hay không

Có thể nói đây là một quy định đặc thù về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài,

dù thỏa thuận trọng tài được thể hiện dưới hình thức một điều khoản nằm trong hợpđồng chính hay dưới hình thức văn bản riêng đi kèm hợp đồng chính thì thỏa thuậntrọng tài thực chất chính là một hợp đồng nhỏ có nội dung khác biệt và giá trị độclập với hợp đồng chính Điều đó có nghĩa, ngay cả khi hợp đồng chính có sự thayđổi nhưng việc giải quyết tranh chấp đã được các bên thỏa thuận bằng phương thứctrọng tài thì sự thay đổi đó cũng không ảnh hưởng đến thỏa thuận trọng tài, vàTrọng tài hoàn toàn có thể giải quyết tranh chấp của các bên khi hợp đồng vô hiệuhoặc các điều khoản khác vô hiệu

Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng pháp luật lại phát sinh một số vấn đề liênquan tới tính độc lập về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài so với hiệu lực của hợpđồng, như sau:

Một là, trường hợp thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận cách thức giải quyếttranh chấp đối với một hợp đồng cụ thể, hợp đồng đó về bản chất là vô hiệu, nhưngthỏa thuận trọng tài lại không vô hiệu, vấn đề đặt ra là các bên tranh chấp có haykhông quyền được yêu cầu trọng tài giải quyết các vấn đề liên quan đến hợp đồng

vô hiệu Nếu trọng tài không có thẩm quyền xem xét vấn đề này khi các bên yêucầu thì việc khẳng định sự tồn tại độc lập của thỏa thuận trọng tài với hiệu lực củahợp đồng đi kèm với nó không có nhiều ý nghĩa Tuy nhiên, nếu các bên khôngđược quyền yêu cầu trọng tài giải quyết mà vẫn giữ nguyên tính hiệu lực của thỏa

Ngày đăng: 24/08/2022, 11:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w