43 NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Bộ Tài chính HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LUẬT Họ và tên tác giả Pháp luật về cho vay tín chấp của ngân hàng thương mại KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP (hoặc CHUY.
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LUẬT -
Họ và tên tác giả
Pháp luật về cho vay tín chấp của ngân hàng thương mại
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP (hoặc CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP)
Hà Nội, tháng 5 năm 2021
Trang 2HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LUẬT -
Họ và tên tác giả
Pháp luật về cho vay tín chấp của ngân hàng thương mại
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài chuyên đề thực được
thu thập từ nguồn thực tế trên các sách báo khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy
đủ và theo đúng qui định);
Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của nhà trường vàpháp luật
Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)
Trang 4MỤC LỤC
Contents
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một xu thế thời đại và diễn ra mạnh mẽ trênnhiều lĩnh vực Theo đó, song song với việc vươn ra thị trường thế giới, Việt Namcũng phải mở cửa thị trường trong nước, trong đó có lĩnh vực tài chính - ngân hàng.Trong bối cảnh chung đó, các NHTM Việt Nam phải chủ động nhận thức và sẵn sàngtham gia vào quá trình hội nhập và cạnh tranh vì khi đó thị trường trong nước khôngcòn mức bảo hộ cao như trước, các ngân hàng sẽ phải cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu
và cạnh tranh ngay tại sân nhà Các ngân hàng cưng chiều khách hàng của mình hơn,chấp nhận rủi ro ở mức độ cao hơn, và điển hình đó là cho vay tín chấp - một loại hìnhcho vay không có tài sản bảo đảm mà dựa vào uy tín của khách hàng
Hoạt động cho vay tín chấp từ các tổ chức tín dụng đã góp phần quan trọng trongviệc giúp một bộ phận được tiếp cận vốn góp phần chuyển tải vốn tín dụng nhanhchóng, thuận tiện đến người dân
Việc thực hiện về pháp luật cho vay trên cơ sở tín chấp đòi hỏi các tổ chức kýnhận ủy thác 1 phần trong quy trình cho vay phải đáp ứng mục tiêu định sẵn Tuynhiên, trong quá trình thực hiện do nguyên nhân khách quan, chủ quan mà một số quyđịnh pháp luật về cho vay chưa thực hiện được hoặc thực hiện không nghiêm, với tỷ lệ
nợ quá hạn, nợ xấu phải xử lý có chiều hướng gia tăng, khó giải quyết do đó các quyđịnh của pháp luật về lĩnh vực tín chấp cho vay cần phải được nghiên cứu, rà soát đểchỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới của đất nước trong giai đoạn hiệnnay
Từ những lý do trên tác giả đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về cho vay tín chấp của ngân hàng thương mại” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu chung
Phân tích cơ sở lý luận hoạt động vay tín chấp, trên cơ sở đó phân tích thực tếhoạt động cho vay tín chấp của ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật.Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về lĩnh vực cho vay tín chấp tại ngân hàngthương mại
Trang 7- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về cho vay tín chấp tại ngân hàngthương mại.
- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện cho vay tín chấp của ngân hàngthương mại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động cho vay tín chấp của các ngân hàng thương mại
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phương pháp điều tra số liệu,phương pháp thống kê mô tả và phương pháp so sánh các số liệu trên quan điểm củangân hàng về cho vay tín chấp căn cứ trên cơ sở hoạt động thực tiễn của ngân hàng
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các chữ viết tắt, và danh mục tài liệutham khảo, nội dung chính của đề tài được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về cho vay tín chấp của ngân hàng thương mại
Chương 2 Pháp luật về cho vay tín chấp của ngân hàng thương mại
Chương 3 Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về cho vay tín chấp của ngânhàng thương mại
Trang 8CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TÍN CHẤP CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TÍN CHẤP CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm cho vay tín chấp của tổ chức tín dụng
Để hiểu đúng bản chất của cho vay tín chấp của tổ chức tín dụng, trước hết cầnlàm rõ khái niệm cho vay của tổ chức tín dụng
Theo Từ điển quảtnh ngân hàng, cho vay được định nghĩa là “quyền của mộtngười gọi là người cho vay hay chủ nợ bắt buộc một người khác gọi là người đi vayhay con nợ phải trả một số tiền hay một tài sản nhất định hay thực hiện một dịch vụnào đó” Cũng trong tác phẩm này, các tác giả còn đưa ra một định nghĩa khác, theo đócho vay là “hợp đồng theo đó một người có vốn - người cho vay, giao quyền sử dụngvốn này cho một tác nhân kinh tế khác - người đi vay, với điều kiện nộp một khoản lãi;hợp đồng cho vay cũng ấn định những kỳ hạn trả và một vài thể thức riêng của việccho vay”
Cho vay là hiện tượng kinh tế khách quan, xuất hiện khi trong xã hội loài người
có tình trạng tạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn Khái niệm cho vay, theo nghĩa chungnhất được hiểu là việc một người thoả thuận để cho người khác được quyền sử dụngtài sản của mình (vật cùng loại) trong một thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả,dựa trên cơ sở sự tín nhiệm của mình đối với người đó Hoạt động cho vay (nói chung)bao gồm các yếu tố cấu thành cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về chủ thể, việc cho vay bao giờ cũng có hai bên tham gia, bao gồmbên vay và bên cho vay Bên cho vay là người có tài sản chưa dùng đến, muốn chongười khác sử dụng để thoả mãn một số lợi ích của mình, có thể là lợi ích vật chấthoặc tinh thần Còn bên vay chính là người đang cần sử dụng loại tài sản đó để thoảmãn nhu cầu về kinh doanh hoặc tiêu dùng
Thứ hai, hình thức pháp lí của việc cho vay chính là hợp đồng tín dụng tài sản.Hợp đồng này được các bên xác lập và thực hiện trên nguyên tắc tự do và thống nhất
về ý chí, nguyên tắc tự định đoạt…
Thứ ba, sự kiện cho vay phát sinh bởi hai hành vi căn bản là hành vi ứng trước
và hành vi hoàn trả một số tiền (hay tài sản) nhất định là các vật cùng loại Hành vi
Trang 9ứng trước tài sản do người cho vay thực hiện, còn hành vi hoàn trả được thực hiện bởingười vay sau đó một khoảng thời gian theo sự thoả thuận giữa hai bên
Thứ tư, việc cho vay bao giờ cũng dựa trên sự tín nhiệm giữa người cho vay đốivới người đi vay về khả năng hoàn trả tiền vay
Ngoài những dấu chung của quan hệ cho vay, hoạt động cho vay của tổ chức tíndụng còn thể hiện những dấu hiệu có tính đặc thù như sau:
Một là, việc cho vay của tổ chức tín dụng là hoạt động nghề nghiệp kinh doanhmang tính chức năng Mặc dù theo pháp luật Việt Nam hiện hành, các tổ chức kháckhông phải là tổ chức tín dụng cũng có thể thực hiện việc cho vay đối với khách hàngnhư một hoạt động kinh doanh nhưng hoạt động cho vay của các tổ chức này hoàntoàn không phải là nghề nghiệp mang tính chức năng như đối với các tổ chức tín dụng.Hai là, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng không chỉ là một nghề kinh doanh
mà hơn nữa còn là một nghề nghiệp kinh doanh có điều kiện Điều này thể hiện ở chỗhoạt động cho vay chuyên nghiệp của tổ chức tín dụng phải thoả mãn một số điều kiệnnhất định như phải có vốn pháp định; phải được Ngân hàng nhà nước cấp giấy phéphoạt động ngân hàng trước khi tiến hành việc đăng kí kinh doanh theo luật định
Ba là, ngoài việc tuân thủ các quy định chung của pháp luật về hợp đồng, hoạtđộng cho vay của tổ chức tín dụng còn chịu sự điều chỉnh, chi phối của các đạo luật vềngân hàng, thậm chí kể cả các tập quán thương mại về ngân hàng Đặc điểm này bị chiphối bởi tính chất đặc thù trong nghề nghiệp kinh doanh của các tổ chức tín dụng nhưtính rủi ro cao và sự ảnh hưởng mang tính chất dây chuyền đối với nhiều lợi ích khácnhau trong xã hội
Ngoài ra, trong pháp luật Việt Nam, nhà làm luật cũng đưa ra một định nghĩa vềcho vay như sau:
“Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giaocho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời giannhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, cho vay của tổ chức tín dụng đối vớikhách hàng là phương thức cung cấp vốn thông dụng nhất để phát triển kinh tế và thỏa
mã nhu cầu tiêu dùng trong xã hội Thực tế cho thấy, có hai phương thức cho vay cơbản dựa trên tiêu chí bảo đảm nghĩa vụ trả nợ, đó là cho vay có bảo đảm bằng tài sản
và không có bảo đảm bằng tài sản (trong đó có hình thức cho vay tín chấp)
Trang 10Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ trả nợtiền vay được bảo đảm bằng tài sản của bên vay hoặc của người thứ ba Để xác lập vàthực hiện việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản, giữa tổ chức tín dụng và khách hàngvay (hoặc có thể liên quan đến người thứ ba trong trường hợp bảo đảm tiền vay bằngbiện pháp bảo lãnh) phải kí kết cả hai loại hợp đồng, bao gồm hợp đồng tín dụng vàhợp đồng bảo đảm tiền vay (hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh).Tuy nhiên, do pháp luật cho phép các bên có thể thoả thuận lập hợp đồng chung nêntrong trường hợp này các thoả thuận về bảo đảm tiền vay được xem là bộ phận hợpthành của hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản
Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụhoàn trả tiền vay không được bảo đảm bằng các tài sản của khách hàng vay hoặc củangười thứ ba Để thực hiện việc cho vay theo hình thức này, thông thường các bên chỉcần giao kết một hợp đồng duy nhất là hợp đồng tín dụng Trong trường hợp tổ chứctín dụng cho vay có bảo lãnh bằng tín chấp thì mặc dù khoản vay này không thể xem
là khoản vay có bảo đảm bằng tài sản nhưng người bảo lãnh bằng tín chấp vẫn phảixác lập văn bản cam kết bảo lãnh bằng uy tín của mình và gửi cho tổ chức tín dụng đểkhách hàng vay có thể được tổ chức tín dụng chấp nhận cho vay
Từ kết quả phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm về cho vay tín chấp của tổchức tín dụng như sau:
Cho vay tín chấp là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay cam kết giao chokhách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhấtđịnh theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi, dựa trên cơ sở sự bảo đảm bằng uy tíncủa bên vay hoặc của bên thứ ba mà không phải bảo đảm bằng tài sản
Từ định nghĩa trên đây, ngoài những đặc điểm chung của hoạt động cho vaythông thường, cho vay tín chấp có những đặc điểm riêng sau đây:
Thứ nhất, về điều kiện cho vay tín chấp: Trong hợp đồng cho vay tín chấp, bênvay hoặc bên thứ ba không phải thế chấp các tài sản làm vật bảo đảm cho nghĩa vụ trả
nợ tiền vay Thông thường, trong quan hệ cho vay tín chấp, điều duy nhất mà bên vaycần làm để ngân hàng có thể tin tưởng và quyết định cho vay tín chấp, đó là bên vaychứng minh được các khoản thu nhập hợp pháp, các hoạt động và nơi cư trú hợp phápcủa mình Vì thế, cho vay tín chấp còn được gọi là những khoản vay không cần thế
Trang 11chấp, nhưng thực tế người cho vay vẫn có cơ sở, niềm tin để quyết định cho vay màkhông phải lo lắng quá nhiều về các rủi ro có thể phát sinh từ việc cho vay
Thứ hai, về cơ sở, căn cứ cho vay tín chấp Trong phương thức cho vay này, bêncho vay không đòi hỏi hay yêu cầu bên vay phải thế chấp bằng tài sản nhưng căn cứ đểcho vay chính là việc bên cho vay cần đánh giá về mức độ tín nhiệm của mình đối vớibên vay Việc đánh giá mức độ tín nhiệm này thường được thực hiện thông qua mộttiêu chí rất cơ bản là “điểm tín dụng” Căn cứ vào mức “điểm tín dụng” của từngkhách hàng, bên cho vay sẽ quyết định việc cho vay hay không và mức vốn cho vay làbao nhiêu để đảm bảo sự an toàn về vốn cho mình
Thứ ba, về thủ tục cho vay tín chấp Trong phương thức cho vay này, mặc dù cácbên không cần phải ký kết một hợp đồng bảo đảm tiền vay (giao dịch bảo đảm) nhưtrong phương thức cho vay có bảo đảm bằng tài sản nhưng về mặt thủ tục, bên cho vayluôn đòi hỏi khách hàng vay phải thực hiện một số thủ tục cần thiết như: cung cấp cácthông tin về mức thu nhập hàng tháng, các hoạt động chính có thể tạo ra thu nhập, địađiểm kinh doanh hoặc nơi cư trú hợp pháp…
Thứ tư, về mức lãi suất thực tế mà bên vay phải trả, các khoản cho vay tín chấpthường có mức lãi suất cao hơn các khoản cho vay có bảo đảm bằng tài sản Lý do đểcác TCTD đưa ra mức lãi suất này là vì, họ cho rằng các khoản cho vay tín chấpthường có nguy cơ rủi ro cao hơn so với các khoản cho vay có bảo đảm bằng tài sản,
vì vậy bên cho vay lập luận rằng họ cần tính lãi cao hơn để bù đắp lại các rủi ro này.Ngoài ra, các khoản cho vay tín chấp đôi khi hay bị đi kèm theo một khoản phí nào đó(ngoài lãi cho vay) Nếu người vay không tìm hiểu kỹ, rất có thể họ bị ràng buộc vớinhững điều khoản bất lợi do phải trả cho TCTD những khoản “phí ẩn” như phí tư vấn,phí thu hồ sơ, phí thẩm định… Thậm chí, nếu như một TCTD nào đó đưa ra lời đềnghị với mức lãi suất cực thấp cho khách hàng vay thì cũng cần phải lưu ý rằng, đằngsau một mức lãi suất hấp dẫn có thể là vô số các khoản phụ phí khác, khiến cho khoảnlãi thực tế sẽ cao hơn nhiều
1.1.2 Phân loại cho vay tín chấp của tổ chức tín dụng
Về lý thuyết, cho vay tín chấp cũng có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khácnhau Việc đa dạng hóa các hình thức cho vay tín chấp cũng là để đáp ứng các nhu cầurất đa dạng của khách hàng
Trang 12Một cách khái quát, có thể phân loại cho vay tín chấp dựa vào một số tiêu chí cơbản sau đây:
Thứ nhất, nếu dựa vào tiêu chí mục đích cho vay, có thể phân loại cho vay tínchấp thành hai nhóm là: a) Cho vay tín chấp vì mục đích kinh doanh; và b) Cho vay tínchấp vì mục đích tiêu dùng
Cho vay tín chấp vì mục đích kinh doanh là phương thức cho vay tín chấp theo
đó bên vay sử dụng vốn vay vào mục đích kinh doanh hàng hóa, dịch vụ để thu lợinhuận Trên thực tế, phương thức cho vay này rất ít được các TCTD sử dụng vì nhucầu về số vốn vay để kinh doanh thường rất lớn nên việc cho vay tín chấp khó đảmbảo an toàn cho bên cho vay Vì vậy, phương thức cho vay này nếu được áp dụng thìcũng chỉ nhằm đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn của khách hàng, ví dụ các khoảncho vay qua đêm hoặc cho vay thấu chi để đáp ứng nhu cầu vốn tức thời của các chủthể kinh doanh
Cho vay tín chấp vì mục đích tiêu dùng là phương thức cho vay tín chấp nhằmthỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng vay vốn Thực tế cho thấy, các khoản chovay tín chấp của TCTD hiện nay chủ yếu là cho vay nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùngnhư vay mua nhà, đất hoặc sửa chữa nhà, mua xe ô tô, mua đồ dùng gia đình, vay để đi
du học hoặc khám chữa bệnh…
Thứ hai, nếu căn cứ vào tiêu chí thời hạn cho vay, có thể phân loại cho vay tínchấp thành hai nhóm là: a) Cho vay tín chấp ngắn hạn; và b) Cho vay tín chấp trunghạn và dài hạn
Cho vay tín chấp ngắn hạn là phương thức cho vay tín chấp theo đó thời hạn chovay đối với khách hàng là đến 12 tháng Phương thức cho vay tín chấp ngắn hạnthường có mức lãi suất thấp hơn do mức độ rủi ro được đánh giá là thấp hơn so với cáckhoản cho vay dài hạn
Cho vay tín chấp trung hạn và dài hạn là phương thức cho vay tín chấp theo đóthời hạn cho vay đối với khách hàng từ trên 12 tháng đến 60 tháng (gọi là cho vaytrung hạn) hoặc từ trên 60 tháng (gọi là cho vay dài hạn) Trên nguyên tắc, các khoảncho vay tín chấp trung hạn và dài hạn thường có mức lãi suất cao hơn so với các khoảncho vay tín chấp ngắn hạn, bởi lẽ các khoản cho vay này được đánh giá là có mức độrủi ro cao hơn đối với bên cho vay
Trang 13Thứ ba, nếu dựa vào tiêu chí chủ thể đóng vai trò là bên tín chấp, có thể phân loạicho vay tín chấp thành hai trường hợp sau: a) Cho vay tín chấp trong đó bên tín chấpchính là bên vay Với trường hợp này, bên vay phải chứng minh uy tín của mình đốivới TCTD về khả năng trả nợ bằng cách cung cấp các thông tin về thu nhập hàngtháng, các hoạt động có khả năng tạo ra thu nhập cho bên vay, địa bàn hoạt động hoặcnơi cư trú của bên vay; b) Cho vay tín chấp trong đó bên tín chấp là bên thứ ba Vớitrường hợp này, việc tín chấp không phải do bên vay thực hiện mà do bên thứ ba thựchiện bằng cam kết với TCTD cho vay
Thông thường, bên thứ ba đóng vai trò tín chấp bao gồm các tổ chức chính trị
-xã hội, đoàn thể như: Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, tổ liên gia, tổdân phố, cộng đồng dân cư làng xã…
Trên đây là một số ý kiến phân tích để làm rõ hơn bản chất của cho vay tín chấpcủa tổ chức tín dụng đối với khách hàng
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CHO VAY TÍN CHẤP CỦA
Vì thi ro từ hoạt động cho vay tín chấp cũng được đánh giá là cao hơn và cần có sựđiều chỉnh của pháp luật nhằm đảm bảo an toàn cho TCTD là bên cho vay cũng nhưđảm bảo sự vận hành ổn định của nền kinh tế
Về phương diện lý thuyết, có thể quan niệm pháp luật về cho vay tín chấp củaTCTD đối với khách hàng là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hànhhoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh quan hệ cho vay tín chấp giữa TCTD với khách hàngvay vốn, dựa trên nguyên tắc đảm bảo quyền tự định đoạt, quyền
tự do ý chí và tôn trọng ý chí của các bên
Định nghĩa nêu trên cho thấy pháp luật về cho vay tín chấp của TCTD đối vớikhách hàng có cấu trúc bao gồm các nhóm quy định chủ yếu sau đây:
(i) Nhóm quy phạm pháp luật quy định về chủ thể tham gia quan hệ cho vay tínchấp giữa TCTD với khách hàng Nhóm quy phạm pháp luật này có nhiệm vụ xác định
Trang 14rõ chủ thể nào là bên cho vay, chủ thể nào là bên vay và các điều kiện cần và đủ để cácchủ thể đó tham gia quan hệ cho vay tín chấp là gì
(ii) Nhóm quy phạm pháp luật quy định về đối tượng và nguyên tắc cho vay tínchấp Nhóm quy phạm pháp luật này có nhiệm vụ xác định rõ bên cho vay có thể chovay tín chấp đối với những đối tượng nào, nguyên tắc cho vay tín chấp là gì
(iii) Nhóm quy phạm pháp luật quy định về hình thức pháp lý của quan hệ chovay tín chấp (hợp đồng cho vay tín chấp) giữa TCTD với khách hàng Nhóm quy phạmpháp luật này có nhiệm vụ xác định rõ hợp đồng cho vay tín chấp cần có nội dung vàhình thức như thế nào để đảm bảo sự an toàn về pháp lý cho các bên tham gia hợpđồng cho vay tín chấp Ngoài ra, nhóm quy phạm pháp luật này cũng có nhiệm vụ quyđịnh rõ nguyên tắc cho vay và thủ tục giao kết hợp đồng cho vay tín chấp và các hậuquả pháp lý của việc vi phạm thủ tục giao kết hợp đồng cho vay tín chấp
(iv) Nhóm quy phạm pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thểtham gia quan hệ cho vay tín chấp giữa TCTD với khách hàng Nhóm quy phạm phápluật này có nhiệm vụ xác định rõ mỗi chủ thể là bên cho vay và bên vay có nhữngquyền năng gì và có những nghĩa vụ pháp lý nào khi tham gia quan hệ hợp đồng chovay tín chấp, cũng như các hậu quả pháp lý của việc vi phạm hợp đồng cho vay tínchấp
1.2.2 Nguồn của pháp luật về cho vay tín chấp của tổ chức tín dụng
Giống như bất kỳ lĩnh vực pháp luật nào liên quan đến hoạt động kinh tế trongnền kinh tế thị trường, vấn đề nguồn của pháp luật cũng luôn được coi trọng vì nó cóảnh hưởng trực tiếp đến kết quả áp dụng pháp luật để giải quyết các tình huống diễn ratrên thực tế
Ở mức độ khái quát, có thể hình dung nguồn của pháp luật về cho vay tín chấpcủa TCTD bao gồm các loại chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, nguồn cơ bản của pháp luật về cho vay tín chấp của TCTD trước hếtphải là các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, trong đó có chứa đựng các quyphạm pháp luật của một lĩnh vực pháp luật cụ thể, ví dụ lĩnh vực pháp luật về cho vaytín chấp của TCTD Nguồn này còn được gọi là nguồn luật quốc gia và có giá trị pháp
lý áp dụng trong khuôn khổ giới hạn lãnh thổ của một quốc gia, không bắt buộc ápdụng tại quốc gia khác
Trang 15Thứ hai, nguồn thứ yếu của pháp luật về cho vay tín chấp của TCTD là các điềuước quốc tế mà một quốc gia đã tham gia ký kết hoặc thừa nhận với tư cách là thànhviên của điều ước Đây là nguồn luật quốc tế và chỉ có giá trị ràng buộc đối với mộtquốc gia khi nó được chính quốc gia đó phê chuẩn theo các thủ tục quy định của phápluật về điều ước quốc tế
Thứ ba, nguồn thứ yếu khác của pháp luật về cho vay tín chấp của TCTD còn cóthể bao gồm các tập quán giao dịch, thói quen thương mại và các thông lệ tốt nhất vềcho vay tín chấp được thừa nhận trong nước và trên thế giới Ngoài ra, trong điều kiệnhội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, các án lệ liên quan đến cho vay nóichung và cho vay tín chấp nói riêng cũng đã và đang được thừa nhận như là một loạinguồn bổ sung của hệ thống pháp luật quốc gia, trong đó có pháp luật về cho vay tínchấp của TCTD
1.2.3 Khái luận về hợp đồng cho vay tín chấp
Với tư cách là một bộ phận cấu thành của pháp luật về cho vay tín chấp, các quyđịnh về hợp đồng cho vay tín chấp luôn giữ một vị trí đặc biệt quan trọng Vì vậy, việcnghiên cứu các vấn đề lý luận về hợp đồng cho vay tín chấp là cần thiết và rất hữu ích
Về khái niệm hợp đồng cho vay tín chấp
Xét từ khía cạnh lý thuyết, hợp đồng cho vay tín chấp còn được gọi bằng mộtthuật ngữ khác là “hợp đồng tín dụng” – theo cách gọi của nhà làm luật trong các vănbản liên quan đến hoạt động cho vay của TCTD
Hợp đồng cho vay tín chấp (hợp đồng tín dụng) là thoả thuận bằng văn bản giữa
tổ chức tín dụng (bên cho vay) với khách hàng vay vốn (bên vay), theo đó tổ chức tíndụng thoả thuận ứng trước một số tiền cho khách hàng vay sử dụng trong một thời hạnnhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm Hợp đồng chovay tín chấp bao gồm hai yếu tố cơ bản: Một là, về phương diện hình thức, sự thoảthuận giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với khách hàng (bên đi vay) phải được thểhiện bằng văn bản; hai là, về phương diện nội dung, bên cho vay đồng thuận để bênvay được sử dụng một số tiền của mình trong thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàntrả, dựa trên sự tín nhiệm
Về đặc điểm của hợp đồng cho vay tín chấp
Ngoài những đặc điểm chung của mọi loại hợp đồng, hợp đồng cho vay tín chấpcòn có một số đặc trưng sau đây:
Trang 16Thứ nhất, về chủ thể, một bên tham gia cho vay tín chấp bao giờ cũng là tổ chứctín dụng có đủ các điều kiện luật định - với tư cách là bên cho vay Còn chủ thể bên kia(bên vay) có thể là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác thoả mãn những điều kiệnvay vốn do pháp luật hoặc do tổ chức tín dụng quy định trong quy chế cho vay
Thứ hai, đối tượng của hợp đồng cho vay tín chấp là tiền Đối tượng của hợpđồng tín dụng bao giờ cũng phải là một số tiền xác định và phải được các bên thoảthuận, ghi rõ trong văn bản hợp đồng
Thứ ba, hợp đồng cho vay tín chấp vốn chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn choquyền lợi của bên cho vay Sở dĩ như vậy là vì theo cam kết trong hợp đồng cho vaytín chấp, bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau thời hạn nhất định Điều đóthể hiện ở chỗ, thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn và vìthế tổ chức tín dụng càng phải quan tâm đến việc áp dụng các biện pháp quản trị rủi ro,đồng thời phải quy định lãi suất cho vay cao hơn nhằm thu hồi đủ các chi phí bỏ ra choviệc quản lí các khoản cho vay dài hạn vốn có mức độ rủi ro cao
Thứ tư, về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ Trong hợp đồngcho vay tín chấp,nghĩa vụ chuyển giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) của bên cho vay bao giờ cũng phảiđược thực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bênvay Do đó, chỉ khi nào bên cho vay chứng minh được rằng họ đã chuyển giao tiền vaytheo đúng hợp đồng cho bên vay thì khi đó họ mới có quyền yêu cầu bên vay phải thựchiện các nghĩa vụ đối với mình (bao gồm các nghĩa vụ chính như sử dụng tiền vayđúng mục đích; nghĩa vụ hoàn trả tiền vay đúng hạn cả gốc và lãi )
Thứ năm, về điều kiện vay vốn Hợp đồng cho vay tín chấp không đòi hỏi bênvay phải thế chấp hay bảo đảm bằng các tài sản cho nghĩa vụ hoàn trả tiền vay mà chỉcần cung cấp các thông tin về thu nhập, hoạt động nghề nghiệp tạo ra thu nhập, nơi cưtrú của bên vay để TCTD đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng mà quyết địnhcho vay hoặc từ chối cho vay
Về hình thức của hợp đồng cho vay tín chấp
Theo quy định tại Luật các tổ chức tín dụng, mọi hợp đồng cho vay tín chấp đềuphải được kí kết bằng văn bản thì mới có giá trị pháp lí Sở dĩ pháp luật quy định nhưvậy là bởi vì, việc kí kết hợp đồng bằng văn bản có những ưu điểm sau đây:
- Hợp đồng cho vay tín chấp được kí kết bằng văn bản sẽ tạo ra bằng chứng cụthể cho việc thực hiện hợp đồng và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng
Trang 17- Việc kí kết hợp đồng cho vay tín chấp bằng văn bản thực chất là một sự công bốcông khai, chính thức về mối quan hệ pháp lí giữa những người lập ước để cho ngườithứ ba biết rõ về việc lập ước đó mà có những phương cách xử sự hợp lí, an toàn trongtrường hợp cần thiết
- Việc kí kết hợp đồng cho vay tín chấp bằng văn bản mới có thể khiến cho các
cơ quan có trách nhiệm của chính quyền thi hành công vụ được tốt hơn Chẳng hạnnhư việc thu thuế, lệ phí, kiểm tra, thanh tra tài chính, kiểm soát hoạt động thương mạicủa các chủ thể kinh doanh trên thương trường
Theo quy định hiện hành, văn bản hợp đồng cho vay tín chấp được hiểu bao gồmvăn bản viết và văn bản điện tử Hợp đồng cho vay tín chấp được xác lập thông quaphương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dự liệu được coi là giao dịch bằng vănbản Các văn bản hợp đồng điện tử được coi là có giá trị pháp lí như văn bản hợp đồngviết và có giá trị chứng cứ trong quá trình giao dịch Việc pháp luật quy định mọi hợpđồng cho vay tín chấp phải được kí kết bằng văn bản cùng với sự chấp nhận hai hìnhthái vật chất nói trên của văn bản hợp đồng cho vay tín chấp có thể xem là những nỗlực rất đáng kể của các nhà lập pháp nhằm bảo đảm sự an toàn pháp lí cho các bêntham gia hợp đồng
Về nội dung của hợp đồng cho vay tín chấp
Nội dung của hợp đồng cho vay tín chấp là tổng thể những điều khoản do các bên
có đủ tư cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng và phù hợp vớipháp luật Về lí thuyết, nội dung của hợp đồng cho vay tín chấp (các điều khoản củahợp đồng) phải do các bên tự định đoạt trên nguyên tắc đồng thuận ý chí, phù hợp vớipháp luật và đạo đức xã hội
Theo quy định tại Luật các tổ chức tín dụng 2010, nội dung của hợp đồng chovay tín chấp bao gồm các điều khoản cơ bản sau đây:
- Điều khoản về điều kiện vay vốn: Khi thoả thuận điều khoản này, các bên cầnghi rõ trong hợp đồng cho vay tín chấp những tiêu chuẩn cụ thể mà bên vay phải thoảmãn thì hợp đồng cho vay tín chấp mới có hiệu lực Chẳng hạn, bên vay phải có nănglực chủ thể, có tình hình tài chính lành mạnh hay phải có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc
có bảo lãnh của người thứ ba
Trang 18- Điều khoản về đối tượng hợp đồng: Trong điều khoản này, các bên phải thoảthuận về số tiền vay, lãi suất cho vay, tổng số tiền phải trả khi hợp đồng cho vay tínchấp đáo hạn
- Điều khoản về sử dụng vốn vay Các bên phải ghi rõ trong hợp đồng cho vay tínchấp về ngày, tháng, năm trả tiền, hoặc phải trả tiền sau bao lâu kể từ ngày kí hợpđồng Nếu có thể gia hạn hợp đồng thì các bên cũng dự liệu trước về khả năng nàytrong hợp đồng cho vay tín chấp
- Điều khoản về phương thức thanh toán tiền vay: Đây là một điều khoản rấtquan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến việc thu hồi vốn và lãi cho vay Vì thế, các bênphải thoả thuận rõ rằng số tiền vay sẽ được hoàn trả dần hàng tháng (trả góp) hay là trảtoàn bộ một lần khi hợp đồng vay đáo hạn Nếu khoản vay được thoả thuận thanh toántheo từng kỳ hạn thì các bên cũng có thể dự liệu trước về khả năng điều chỉnh kỳ hạntrả nợ cho phù hợp với khả năng tài chính của bên vay khi trả nợ
- Điều khoản về mục đích sử dụng tiền vay: Trong điều khoản này, các bên cầnghi rõ vốn vay sẽ được sử dụng vào mục đích gì (ví dụ, mua vật tư hàng hoá để kinhdoanh hay mua hàng hoá để tiêu dùng ) Việc thoả thuận điều khoản này trong hợpđồng cho vay tín chấp được xem như giải pháp đảm bảo sự an toàn về vốn cho ngườiđầu tư là các tổ chức tín dụng, nhằm tránh trường hợp bên vay sử dụng vốn một cáchtuỳ tiện vào các mục đích phiêu lưu, mạo hiểm Mặt khác, để bảo đảm lợi ích của cảhai bên và đảm bảo cho đồng vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả, pháp luật cũng chophép trong thời gian sử dụng vốn, các bên có quyền thoả thuận lại về mục đích sửdụng vốn vay mỗi khi xét thấy thời cơ và điều kiện sử dụng vốn đã thay đổi
- Điều khoản về giải quyết tranh chấp hợp đồng cho vay tín chấp: Đây là điềukhoản mang tính chất thường lệ, theo đó các bên có quyền thoả thuận về biện phápgiải quyết tranh chấp bằng con đường thương lượng, hoà giải, hoặc lựa chọn cơ quantài phán sẽ giải quyết tranh chấp cho mình Nếu trong hợp đồng tín dụng không ghiđiều khoản này, có nghĩa là các bên không thoả thuận thì việc xác định thẩm quyền,thủ tục giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng cho vay tín chấp đó sẽ được thựchiện theo quy định của pháp luật
Trang 19CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ CHO VAY TÍN CHẤP CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 2.1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUÂT VỀ CHO VAY TÍN CHẤP
Như đã khẳng định ở trên, pháp luật về cho vay tín chấp của TCTD được thể hiệnthông qua loại nguồn chủ yếu là các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước banhành (gọi là nguồn pháp luật trong nước) Các văn bản pháp luật này tạo nên cơ sởpháp lý cho việc xác lập và thực hiện giao dịch cho vay tín chấp của TCTD đối vớikhách hàng trong nền kinh tế
Ở Việt Nam, cơ sở pháp lý cho việc xác lập và thực hiện giao dịch cho vay tínchấp của TCTD bao gồm các văn bản pháp luật chủ yếu sau đây:
- Bộ luật dân sự 2015, văn bản này thiết lập nền tảng pháp lý bao gồm cácnguyên tắc cơ bản cho việc xác lập và thực hiện một giao dịch dân sự nói chung vàviệc giao kết, thực hiện hợp đồng cho vay tín chấp nói riêng
- Luật các tổ chức tín dụng 2010: Đây là đạo luật có tính chất là luật chuyênngành, có nhiệm vụ điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động ngân hàngnói chung và quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng với khách hàng, trong đó có quan
hệ cho vay tín chấp nói riêng Đạo luật này sẽ thiết lập các quy định cụ thể về hoạtđộng ngân hàng, trong đó có hoạt động cho vay tín chấp của các TCTD
- Các văn bản quy định chi tiết hoặc hướng dẫn thi hành Bộ luật dân sự và Luậtcác tổ chức tín dụng 2010 có liên quan đến hoạt động cho vay tín chấp của TCTD,bao gồm:
Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2021 quy định thi hành Bộ luậtDân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về hoạt độngcho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.Thông tư 43/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định cho vay tiêudùng của công ty tài chính
Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đốcNgân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tíndụng đối với khách hàng và các văn bản sửa đổi, bổ sung Quy chế cho vay của tổ chứctín dụng ban hành kèm theo Quyết định này và văn bản hợp nhất số 20/VBHN-NHNNngày 22 tháng 5 năm 2014
Trang 20Theo các văn bản pháp luật nêu trên, thực trạng chế định về cho vay tín chấp củaTCTD đối với khách hàng được thể hiện cụ thể như sau:
2.1.1 Thực trạng quy định về chủ thể tham gia quan hệ cho vay tín chấp giữa tổ chức tín dụng với khách hàng
Quan hệ cho vay tín chấp luôn phát sinh giữa một bên là TCTD (với tư cách làbên cho vay) và tổ chức, cá nhân, hộ gia đình (với tư cách là bên vay) Khi tham giaquan hệ pháp luật cho vay tín chấp, các chủ thể này phải thỏa mãn một số điều kiện dopháp luật quy định, cụ thể:
Thứ nhất, đối với chủ thể là bên cho vay
Trên nguyên tắc, chủ thể này tham gia quan hệ cho vay tín chấp với mục đích làtìm kiếm lợi nhuận nên việc phải tuân thủ các điều kiện do pháp luật quy định là cầnthiết
Theo quy định chung của pháp luật hiện hành, một tổ chức tín dụng muốn trởthành chủ thể cho vay tín chấp phải thoả mãn đầy đủ các điều kiện sau đây:
(i) Có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng nhà nước cấp Đây là điểukiện nhằm xác lập tư cách pháp nhân cho TCTD và từ đó chứng minh rằng TCTD có
đủ tư cách chủ thể để tham gia vào các giao dịch trên thương trường, trong đó có giaodịch cho vay tín chấp đối với khách hàng
(ii) Có điều lệ do Ngân hàng nhà nước chuẩn y Đây cũng là điều kiện cần thiếtnhằm giúp TCTD hoàn thiện hệ thống thể chế nội bộ để làm cơ sở pháp lý cho cáchoạt động quản lý, điều hành trong quá trình kinh doanh
(iii) Có giấy chứnn đăng kí kinh doanh hợp pháp (giấy chứng nhận đăng kýdoanh nghiệp – theo cách gọi của Luật doanh nghiệp 2020) Tài liệu này nhằm chứngminh việc hình thành tư cách pháp nhân của TCTD
(iv) Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết hợp đồng chovay tín chấp (hợp đồng tín dụng) với khách hàng Điều kiện này để giúp TCTD thựchiện được các quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia vào các giao dịch dân sự, thươngmại trong đó có giao dịch cho vay tín chấp
Riêng đối với các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng, muốn trở thành chủ thểcho vay thì chỉ cần thoả mãn các điều kiện như có giấy phép hoạt động ngân hàng, cógiấy chứng nhận đăng kí kinh doanh và có người đại diện hợp pháp Trong giấy phép
Trang 21hoạt động ngân hàng và giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh của loại tổ chức này phảighi rõ hoạt động cho vay là hoạt động ngân hàng được phép thực hiện
Rõ ràng, việc pháp luật quy định những điều kiện này đối với bên cho vay khôngchỉ góp phần hạn chế, loại trừ những tổ chức tín dụng không đủ tiêu chuẩn kinh doanhtrên thương trường, nhờ đó góp phần lành mạnh hoá các quan hệ tín dụng và bảo vệquyền lợi hợp pháp của các nhà đầu tư mà còn là căn cứ để các luật gia hay các thẩmphán, trọng tài viên tiến hành thẩm định và đánh giá một cách khách quan vấn đề hiệulực pháp lí của hợp đồng tín dụng
Thứ hai, đối với chủ thể là bên vay
Loại chủ thể này thường bao gồm tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu vayvốn tại TCTD theo hình thức tín chấp để thỏa mãn nhu cầu kinh doanh hoặc tiêu dùng.Theo quy định của pháp luật hiện hành, khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng theohình thức tín chấp phải đáp ứng các điều kiện sau:
Một là, có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu tráchnhiệm dân sự theo quy định của pháp luật: Đối với khách hàng vay là tổ chức thì phải
có năng lực pháp luật dân sự; đối với khách hàng vay là cá nhân Việt Nam (bao gồm
cả chủ doanh nghiệp tư nhân) thì phải có phải có năng lực pháp luật và năng lực hành
vi dân sự; đối với hộ gia đình thì người đại diện của hộ gia đình phải có năng lực phápluật và năng lực hành vi dân sự; đối với người đại diện của tổ hợp tác phải có năng lựcpháp luật và năng lực hành vi dân sự; thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải
có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự
Riêng đối với khách hàng vay là tổ chức và cá nhân nước ngoài thì phải có nănglực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật của nước mà
tổ chức đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là công dân, nếu pháp luật nước ngoài đóđược Bộ Luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các văn bảnpháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc được điều ước quốc tế mà Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy định
Hai là, có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp Mục đích sử dụng vốn vay hợppháp của khách hàng vay tín chấp phải được thể hiện trong các tài liệu chứng minhphương án, kế hoạch sử dụng vốn vay và hợp đồng vay vốn
Trang 22Ba là, có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết Khả năng tàichính của người vay cũng phải thể hiện trong các tài liệu thuộc hồ sơ vay vốn đã gửicho TCTD để chủ thể này tiến hành thẩm định trước khi quyết định cho vay tín chấp Bốn là, có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và cóhiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp vớiquy định của pháp luật
Trên đây là các điều kiện bắt buộc phải thỏa mãn đối với khách hàng vay vốn.Nếu khách hàng vay không thỏa mãn đầy đủ các điều kiện này, tổ chức tín dụng cóquyền từ chối cho vay nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong hoạtđộng cấp tín dụng
2.1.2 Thực trạng quy định về nguyên tắc và thủ tục cho vay tín chấp
Thực tế cho thấy, việc Nhà nước quy định các nguyên tắc cho vay và thủ tục chovay tín chấp là cần thiết nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cũng như đảm bảo
an toàn cho cả TCTD cho vay và khách hàng vay vốn
Về nguyên tắc cho vay tín chấp
Theo Điều 6 Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng (ban hành kèm theoQuyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhànước), nhà làm luật chỉ quy định nguyên tắc vay vốn được áp dụng đối với chủ thể làkhách hàng vay tại TCTD chứ không có quy định cụ thể về nguyên tắc cho vay tínchấp của TCTD đối với khách hàng Vì vậy, có thể xem đây như là một sự khiếmkhuyết của pháp luật hiện hành về cho vay của TCTD nói chung và cho vay tín chấpcủa TCTD nói riêng
Thật vậy, tại Điều 6 của Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng quyđịnh: Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải đảm bảo nguyên tắc:
Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng;
Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tíndụng
Thực tế cho thấy, các nguyên tắc này dường như chỉ nhằm áp dụng đối với kháchhàng vay vốn mà không áp dụng đối với bên cho vay là TCTD Nếu ý tưởng của nhàlàm luật đúng là như vậy khi thiết kế điều luật này thì đây là một sự sai lầm khôngđáng có trong nhận thức và tư duy pháp lý khi làm chính sách, bởi lẽ việc cho vay củaTCTD đối với khách hàng không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu tìm kiếm lợi nhuận của
Trang 23TCTD mà còn nhằm thỏa mãn nhu cầu về vốn kinh doanh và tiêu dùng của kháchhàng vay vốn Điều này đồng nghĩa với việc xây dựng các nguyên tắc cho vay cầnphải tính đến sự tuân thủ từ cả hai phía là bên cho vay và khách hàng vay vốn, chứkhông phải chỉ là đòi hỏi sự tuân thủ từ một phía là khách hàng vay vốn như quy địnhhiện nay tại Điều 6 Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng
Thực ra, nói đến nguyên tắc cho vay, cần phải hiểu rằng các nguyên tắc này cóliên quan đến việc giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng tín dụng nói riêng, bởi lẽsuy cho cùng thì việc cho vay tín chấp thực chất là việc các bên ký kết và thực hiệnhợp đồng cho vay tín chấp Do vậy, nói đến các nguyên tắc cho vay, nhất thiết phải đềcập đến các nguyên tắc giao kết hợp đồng vốn dĩ đã được quy định trong Bộ luật dân
sự 2015 Các nguyên tắc này bao gồm: Nguyên tắc tự do ý chí và tự do hợp đồng;nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên; nguyên tắc thiệnchí trong giao kết và thực hiện hợp đồng…
- Bước 2: Tổ chức tín dụng xây dựng quy trình xét duyệt cho vay theo nguyên tắcbảo đảm tính độc lập và phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm giữa khâuthẩm định và quyết định cho vay Trên cơ sở quy trình cho vay đã xây dựng và công
bố, tổ chức tín dụng xem xét, đánh giá tính khả thi, hiệu quả của dự án đầu tư, phương
án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống vàkhả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng để quyết định cho vay Tổ chức tín dụng quyđịnh cụ thể và niêm yết công khai thời hạn tối đa phải thông báo quyết định cho vayhoặc không cho vay đối với khách hàng, kể từ khi nhận được đầy đủ hồ sơ vay vốn vàthông tin cần thiết của khách hàng Trường hợp quyết định không cho vay, tổ chức tín
Trang 24dụng phải thông báo cho khách hàng bằng văn bản, trong đó nêu rõ căn cứ từ chối chovay
- Bước 3: Nếu chấp thuận cho vay, TCTD và khách hàng ký kết hợp đồng tíndụng (hợp đồng cho vay tín chấp) theo mẫu do TCTD quy định Sau khi ký kết, hợpđồng cho vay tín chấp sẽ phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, trừ trường hợpcác bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Khi hợp đồng cho vay tínchấp có hiệu lực, sẽ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý cho các bên để chính họthực hiện
- Bước 4: Các bên thực hiện các quyền, nghĩa vụ pháp lý đã phát sinh từ hợpđồng cho vay tín chấp Để thực hiện hợp đồng này, bên cho vay phải chuyển giao tiềnvay (giải ngân) cho khách hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng, tiến hành kiểm tra,giám sát việc sử dụng vốn vay và thu hồi vốn vay trước thời hạn (trong trường hợppháp luật cho phép); yêu cầu bên vay hoàn trả tiền vay cả gốc và lãi; khởi kiện bên vaytại tòa án hoặc trọng tài để yêu cầu giải quyết Còn bên vay có nghĩa vụ sử dụng vốnvay đúng mục đích, hoàn trả tiền vay cả gốc và lãi cho TCTD khi đến hạn thanh toán;tham gia tranh tụng tại Tòa án hoặc trọng tài trong trường hợp bên cho vay khởi kiệnbên vay tại các cơ quan tài phán này
- Bước 5: Trong trường hợp hợp đồng cho vay tín chấp đã thực hiện xong, cácbên có trách nhiệm thanh lý hợp đồng để chấm dứt việc thực hiện câc quyền, nghĩa vụliên quan đến hợp đồng cho vay tín chấp
2.1.3 Thực trạng quy định về ký kết và thực hiện hợp đồng cho vay tín chấp
Hiện nay, theo quy định tại Điều 17 Quy chế cho vay của TCTD đối với kháchhàng, việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải được lập thành hợpđồng cho vay tín chấp Hợp đồng này phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sửdụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thứcbảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được cácbên thỏa thuận
2.1.3.1 Thực trạng quy định về việc giao kết hợp đồng cho vay tín chấp
Giao kết hợp đồng cho vay tín chấp là quá trình mang tính chất kĩ thuật nghiệp
vụ - pháp lí do các bên thực hiện theo trình tự luật định Việc giao kết hợp đồng chovay tín chấp được thực hiện theo trình tự sau đây:
Trang 25Thứ nhất, đề nghị giao kết hợp đồng cho vay tín chấp: Đề nghị giao kết hợp đồngcho vay tín chấp là hành vi pháp lí do một bên thực hiện dưới hình thức văn bản chínhthức gửi cho bên kia, với nội dung thể hiện ý chí mong muốn được giao kết hợp đồngcho vay tín chấp Thông thường, bên đề nghị giao kết hợp đồng là các tổ chức, cá nhân
có nhu cầu vay vốn và văn bản đề nghị chính là đơn xin vay, được gửi kèm theo cácgiấy tờ tài liệu chứng minh tư cách chủ thể và khả năng tài chính hay phương án sửdụng vốn vay Các tài liệu này do bên vay gửi cho tổ chức tín dụng để xem xét, thẩmđịnh và được coi như bằng chứng đề nghị giao kết hợp đồng Thực tiễn giao kết hợpđồng cho vay tín chấp ở Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy, có nhiều trườnghợp bên chủ động đề nghị giao kết hợp đồng lại chính là tổ chức tín dụng chứ khôngphải khách hàng Phương thức này được một số tổ chức tín dụng chủ động thực hiệnnhằm tăng cường khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường tín dụng Những tổ chứctín dụng đã từng đi tiên phong trong việc lựa chọn phương thức này chính là các ngânhàng cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.Trong trườngnày, văn bản đề nghị là thư chào mời được tổ chức tín dụng gửi cho các
tổ chức, cá nhân có khả năng tài chính mạnh, có uy tín trên thương trường và có nhucầu vay vốn thường xuyên (gọi là những khách hàng tiềm năng) mà tổ chức tín dụnglựa chọn là bên đối tác Trong thư chào mời, bên đề nghị (tổ chức tín dụng) thườngđưa ra những điều kiện có tính chất tổng quát nhất kèm theo những ước khoản cụ thể
để cho bên kia xem xét chấp nhận Tuy nhiên, do thư chào mời có thể không nhất thiếtphải là văn bản dự thảo hợp đồng (vì bên gửi thư chào mời đã lưu ý rằng thư chào mời
đó không phải là dự thảo hợp đồng nhằm tránh các rủi ro pháp lí cho phía họ) nêntrong thực tế, nếu bên tiếp nhận thư chào mời có hành vi chấp nhận toàn bộ nội dungcủa thư chào mời đó thì không vì thế mà hợp đồng cho vay tín chấp được coi là đãhình thành
Thứ hai, thẩm định hồ sơ tín dụng: Thẩm định hồ sơ tín dụng là tất cả nhữnghành vi mang tính nghiệp vụ - pháp lí do tổ chức tín dụng thực hiện nhằm xác địnhmức độ thoả mãn các điều kiện vay vốn đối với bên vay, trên cơ sở đó mà quyết địnhcho vay hay không Trong thực tế giao dịch ngân hàng, việc thẩm định hồ sơ tín dụngthường do các nhân viên chuyên trách của tổ chức tín dụng thực hiện và kết thúc bằngviệc lập báo cáo thẩm định hồ sơ tín dụng Báo cáo này được trình lên cho người quản
lí có thẩm quyền của tổ chức tín dụng quyết định về việc có cho vay hay không Do