1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn kinh tế chính trị (4)

16 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 370,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính bởi quy mô nhỏ, nên hoạt động của khu vực Doanh nghiệp này đang gặp khá nhiều khó khăn, như là khả năng tiếp cận các nguồn vốn để đầu tư vào máy móc, công nghệ hiện đại, phục vụ ch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA LUẬT -o0o -

TIỂU LUẬN

KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN

Đề tài: Thực trạng phát trỉển các doanh nghịêp nhỏ và vừa ở Việt Nam

Sinh viên thực hiện : Trần Tuấn Hải

Mã sinh viên : 11201270

Giáo viên : Mai Lan Hương

Hà Nội – 2021

Trang 2

Lời Nói Đầu

Trong hơn 30 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn kiên định và nhất quán đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối Thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng, Chính phủ đã có nhiều chính sách phát triển đồng bộ các thành phần kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế hoạt động bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Kinh

tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế

Doanh nghiệp vừa và nhỏ là bộ phận quan trọng trong thành phần kinh tế tư nhân và chiếm tỷ lệ lớn trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam

Chính bởi quy mô nhỏ, nên hoạt động của khu vực Doanh nghiệp này đang gặp khá nhiều khó khăn, như là khả năng tiếp cận các nguồn vốn để đầu tư vào máy móc, công nghệ hiện đại, phục vụ cho sản xuất, kinh doanh; thiếu kinh nghiệm quản trị điều hành Doanh nghiệp; khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường ngay trên thị trường nội địa Trong thời gian tới, rất cần có những giải pháp hữu hiệu để khu vực Doanh nghiệp này, tuy rất năng động, nhưng cũng dễ tổn thương có sự phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh mới

Với bài Tiểu Luận này, tôi sẽ phân tích nội dung: “Thực trạng phát trỉển các doanh nghịêp nhỏ và vừa ở Việt Nam.” Mặc dù tôi đã cố gắng tìm tòi với tinh thần trách nhiệm, song do bản thân còn nhiều thiếu sót nên chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế Rất mong giáo viên phụ trách cùng các bạn đọc góp ý bổ sung để tôi có thể tiếp tục hoàn thiện thêm kiến thức của mình

Tôi xin cảm ơn

Trang 3

Mục lục

Chương I: Khái quát lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta……… 3

I Khái niệm, tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa……… 3

II Đặc điểm cơ bản của Doanh nghiệp nhỏ và vừa……… 4

Chương II: Thực trạng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta………6

I Nền Kinh tế Thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa và mối quan hệ

với các doanh nghiệp vừa và nhỏ……… 6

II Những thành tựu và hạn chế trong việc phát triển Doanh nghiệp nhỏ và

vừa……….7 III Một số thông tin bổ sung về thực trạng các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại

Việt Nam………9

Chương III: Giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh mới……… 10

bạch, công bằng, lành mạnh……….10

cách các mức thuế quan, cắt giảm các thủ tục đăng ký DN cùng với các chi phí dư thừa……… 11

nghiệp thúc đẩy sự phát triển của DNNVV, nâng cao ý thức của cộng đồng xã hội đối với sự phát triển của DNNVV tại Việt Nam………… 12

nâng cao sức cạnh tranh của mình……… …………12

trường, văn hóa, kinh nghiệm kinh doanh của các DN………13

Trang 4

Chương I: Khái quát lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta

I Khái niệm, tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa

1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta:

Doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có quy mô được giới hạn bởi các tiêu thức lao động, vốn hoặc giá trị tài sản, hoặc doanh thu tùy theo quy định của mỗi quốc gia Việc sử dụng các tiêu thức để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các quốc gia cũng có một số khác biệt, thể hiện ở số lượng các tiêu thức và việc lượng hóa các tiêu thức

ở mỗi nước, do vậy, khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa là mang tính tương đối, thay đổi theo từng giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội ở mỗi nước, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội ở mỗi quốc gia,

và đặc điểm phát triển của mỗi loại ngành nghề.1

2 Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa: Căn cứ theo điều 6 tại Nghị định 39/2018/NĐ-CP:

“Doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa

1 Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản vàlĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng

2 Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch

vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá

50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc

Trang 5

tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này

3 Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100

tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm

xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này.”

II Đặc điểm cơ bản của Doanh nghiệp nhỏ và vừa

Thứ nhất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động với số lượng phong phú về hình thức tổ chức quản lý, đa dạng về ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, DNNVV hoạt động dưới nhiều hình thức như hộ kinh doanh cá thể, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần nhờ số lượng lớn và không tập trung vào bất kì ngành nghề nào, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã hạn chế một phần các tác hại gây ra bởi độc quyền, đồng thời các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường có yêu cầu chất lượng lao động thấp hơn tạo công ăn việc làm cho lớp lao động trình độ thấp, góp phần xóa đói giảm nghèo

Thứ hai, doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ Điều này mang lại nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ như dễ thành lập, dễ tiếp cận thị trường, khả năng thu hồi vốn nhanh, dễ phản ứng và thay đổi khi các điều kiện thị trường biến động Những lợi thế này đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển đa ngành,

đa vùng, lấp đầy những khoảng trống mà các doanh nghiệp lớn để lại Tuy nhiên, do quy mô vốn nhỏ nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa bị hạn chế trong khả năng đầu tư về mặt bằng, nhà xưởng, máy móc thiết bị và nguyên vật liệu, dây chuyền sản xuất còn nhiều thiếu sót Quy mô kinh doanh nhỏ, nguồn vốn hạn chế, thông tin chưa minh bạch cũng ngăn cản các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận thị trường chứng khoán do vậy càng khó khăn hơn trong việc nhân thêm vốn, mở rộng sản xuất

Thứ ba, trình độ công nghệ và năng lực cạnh tranh còn hạn chế Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, do quy mô vốn hạn chế và sự khó khăn

Trang 6

trong việc tiếp cận các đối tác lớn dẫn đến việc đầu tư nâng cấp thiết bị, dây chuyền sản xuất sản xuất gặp nhiều khó khăn, dễ rơi vào tình trạng công nghệ lạc hậu, năng suất thấp

Thứ tư, nhiều DNVVN thiếu chiến lược kinh doanh rõ ràng Nhiều công ty chỉ lập kế hoạch sản xuất kinh doanh ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu thị trường luôn thay đổi mà không có các mục tiêu, kế hoạch dài hạn nên thường đi chệch khỏi sứ mệnh và mục tiêu ban đầu

Thứ năm, hoạt động của DNNVV phụ thuộc vào những biến động của môi trường kinh doanh Do thường chỉ lập kế hoạch kinh doanh ngắn hạn nên cứ mỗi khi thị trường thay đổi thì kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp lại phải thay đổi để phù hợp các xu hướng mới Tuy nhiên, DNNVV quy mô nhỏ cũng có những lợi thế so với các DN quy mô lớn là dễ dàng hơn trong việc chuyển đổi hoạt động sản xuất, tăng hoặc giảm lao động, dễ dàng hơn trong việc chuyển địa điểm sản xuất

Thứ sáu, bộ máy điều hành gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao những năng lực quản trị chưa cao, không nhiều thành viên cấp quản lý có năng lực đào tạo được phát triển qua những khóa học chính quy Điều này dẫn tới việc quản lý chưa thực sự hiệu quả, dẫn tới năng suất không được tối ưu Doanh nghiệp nhỏ và vừa có ít lao động, cơ cấu tổ chức sản xuất và quản lý tương đối gọn nhẹ, ít liên kết trung gian nên các quyết định, mục tiêu được truyền đạt nhanh chóng đến người lao động, tiết kiệm thời gian, giảm độ trễ giữa việc ra quyết định và thi hành quyết định, từ đó hạn chế được tốn hao chi phí quản lý doanh nghiệp Với mô hình quản lý trực tiếp, việc ra quyết định thường nhanh chóng và nhạy bén với những thay đổi của môi trường kinh doanh Tuy nhiên, khi việc ra quyết định không chính xác, ra quyết định nhanh chóng và thiếu nghiên cứu thị trường, thiếu kiến thức, kĩ năng phân tích, phản ứng, kinh nghiệm thường mang lại rủi ro cho doanh nghiệp

do một số lãnh đạo DNVVN chưa được đào tạo từ các trường Đại học thiếu kiến thức cơ bản về tài chính,luật, quản trị kinh doanh

Trang 7

Chương II: Thực trạng phát triển của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay

I Nền Kinh tế Thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa và mối quan

hệ với các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Định nghĩa về nền Kinh tế Thị trường và nền Kinh tế Thị trường định hướng XHCN: Kinh tế Thị trường là mô hình kinh tế mở, trong đó coi trọng và tuân thủ các quy luật vận động, điều tiết của thị trường, tôn trọng tự do cạnh tranh, tự do hợp tác, mở rộng giao lưu thương mại, tạo

cơ hội cho mọi chủ thể tham gia thị trường, tìm kiếm lợi nhuận, Kinh tế

Thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế vận hành theo các quy luật của thị trường đồng thời góp phần hướng tới từng bước xác lập một xã hội ở đó dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có sự điều

tiết của Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo

Nền Kinh tế Thị trường ở nước ta là nền Kinh tế có nhiều thành phần với nhiều quan hệ sở hữu Trong đó, thành phần kinh tế Tư nhân hoạt động như một trong những bộ phận cốt lõi có vai trò to lớn đối với

sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Kinh tế Tư nhân là động lực chính phía sau sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam thời kì đổi mới Doanh nghiệp vừa và nhỏ là bộ phận quan trọng không thể thiếu trong thành phần kinh tế tư nhân và chiếm tỷ lệ lớn trong cộng đồng

97% tổng số doanh nghiệp (DN) đang hoạt động tại Việt Nam, đóng góp tới 45% vào GDP, 31% vào tổng số thu ngân sách và thu hút hơn 5 triệu lao động.Các DNNVV đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói, giảm nghèo ở địa phương, hỗ trợ tích cực cho

sự phát triển của DN lớn, trong đó có lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có số lượng lớn, đa dạng ngành nghề giúp tránh được sự độc quyền cũng như đảm bảo các nguyên tắc vận hành của nền Kinh tế Thị trường Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ xuất phát từ nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước được định hướng chuẩn mực để góp phần phát triển đất nước và xây dựng Chủ nghĩa Xã hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ mang đậm các đặc điểm của nhân dân , số lượng lớn

và dễ định hướng hơn trong việc tuân thủ các phương hướng của Đảng và Nhà nước

Trang 8

 Qua phân tích trên, có thể thấy Doanh nghiệp vừa và nhỏ có mối quan hệ mật thiết, sâu sắc và có vai trò quan trọng không thể thiếu trong nền Kinh tế Việt Nam thời kì đổi mới Việc phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ theo con đường đúng đắn là việc cần được chú trọng và sẽ đem lại nhiều lợi ích to lớn trong tương lai, góp phần thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từng bước tiến tới Chủ nghĩa Xã hội

II Những thành tựu và hạn chế trong việc phát triển Doanh nghiệp nhỏ

và vừa:

1 Thành tựu trong việc phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa

Đảng và Nhà nước ngày càng hoàn thiện hành lang pháp lý và không ngừng khuyến khích thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Kết quả là số lượng DN thành lập mới và số lượng DN tạm ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động tăng mạnh Từ năm 2016, mỗi năm có thêm hơn 100 nghìn DN thành lập mới Trong hai năm 2017-2018, cả nước có 258.134 DN đăng ký thành lập mới và 60.458

DN tạm ngừng hoạt động quay trở lại nhờ môi trường kinh doanh được cải thiện và các chính sách của Nhà nước hỗ trợ, phát triển

Trong một vài năm gần đây, xu hướng phát triển các mô hình kinh doanh khởi nghiệp sáng tạo (startup) diễn ra sôi động, tập trung vào một số lĩnh vực như: Công nghệ, tài chính, truyền thông… Trong

đó nhiều Doanh nghiệp vừa và nhỏ đạt được thành công rực rỡ

Cùng với sự bùng nổ về số lượng, DNNVV đã góp phần quan trọng trong chuyển dịch về cơ cấu ngành nghề thông qua tạo việc làm, thu hút lao động từ lĩnh vực nông nghiệp, tham gia đầu tư vào các thị trường ngách, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh Bình quân mỗi năm (giai đoạn 2016-2017), khối DNNVV thu hút nhiều lao động nhất với 8,69 triệu lao động (chiếm 60,9% tổng lao động toàn bộ khu vực

DN trong nền kinh tế) Trong hai năm 2017-2018, số DNNVV thành lập mới cũng đã tạo gần 2,3 triệu việc làm mới

Khu vực DNNVV đã thể hiện vai trò và những đóng góp quan

hiện chiếm tỷ trọng 97% tổng số doanh nghiệp (DN) đang hoạt động tại Việt Nam, đóng góp tới 45% vào GDP, 31% vào tổng số thu ngân sách và thu hút hơn 5 triệu lao động. Kết quả này thể hiện sự tăng trưởng tích cực về số lượng, quy mô cũng như chất lượng hoạt động của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Tốc độ tăng năng suất lao động của các DNNVV tương đối ổn định Tốc độ này không bị chậm lại bất ngờ là do các DNNVV có số lượng nhân công nhỏ, ít xảy ra xung đột dẫn đến làm giảm đáng kể

Trang 9

năng suất lao động khi có sự thay đổi trong nền kinh tế Mặc dù những năm gần đây, tốc độ tăng NSLĐ của cả nước liên tục có những biến động thì tốc độ tăng NSLĐ của khu vực kinh tế tư nhân, trong đó chủ yếu là DNNVV vẫn ổn định hơn so với các khu vực kinh tế nhà nước và khu vực FDI, xung quanh mức 4,8%-5,8% Tính chung trong

2 năm 2016-2017, các DNNVV tạo ra doanh thu chiếm tỷ lệ chi phối trong toàn bộ khu vực DN, bình quân mỗi năm các DNNVV tạo ra 10,8 triệu tỷ đồng, chiếm 56,4% doanh thu toàn bộ khu vực DN, tăng 64,4% so với bình quân giai đoạn 2011-2015

2 Những hạn chế, yếu kém của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa

Số lượng DNNVV thành lập mới nhiều, hoạt động mạnh mẽ với nhiều thành tích đáng kể nhưng cũng có một bộ phận không nhỏ

DN không có khả năng tồn tại, đứng vững trong cạnh tranh hoặc hoạt động kém hiệu quả Số lượng Doanh nghiệp này gây ra sự lãng phí một cách đáng kể các nguồn lực và làm gia tăng độ chậm trễ trong việc giải quyết các thủ tục cho các Doanh nghiệp khác

Hiện nay, các DNNVV vẫn rất khó tiếp cận lực lượng lao động

có trình độ tay nghề cao, về tiếp cận đất đai, về vốn tín dụng từ các ngân hàng, nguồn vốn từ các quỹ, về ứng dụng khoa học và công nghệ Theo Báo cáo đánh giá môi trường kinh doanh năm 2018 của Ngân hàng Thế giới, chỉ số tiếp cận tín dụng của Việt Nam năm 2018 được xếp hạng 29/190 nền kinh tế Thủ tục xin cấp đất rất chậm và chi phí phụ quá cao làm mất đi cơ hội kinh doanh của nhiều DN) Các DNNVV thiếu thông tin thị trường cũng như cổng đối thoại với các

bộ, ngành để tìm kiếm sự hỗ trợ và sự bảo vệ, đặc biệt là các thông tin

về giá cả hàng hóa, thủ tục mua bán, xuất nhập khẩu hàng hóa cũng như quy trình sản xuất và tiêu chuẩn đề ra

Sự liên kết của các DNNVV Việt Nam yếu kém, có rất ít mối liên kết giữa các DN nhỏ và DN có quy mô lớn hơn Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam thường cạnh tranh gay gắt vì mục đích riêng nhưng lại không chú ý tới sự liên kết giữa nhiều tổ chức nhằm gia tăng sức mạnh tổng hợp

Sự hình thành và phát triển của các daoanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam chủ yếu có một giai đoạn tích lũy ngắn, dựa vào vốn cá nhân và ít được Nhà nước hỗ trợ Điều này một phần là do hậu quả của nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp đã bị thay thế trong quá khứ đồng thời là sự hạn chế trong việc tiếp cận các nguồn lực tài chính, nhân lực, công nghệ từ nước ngoài

Trang 10

Quá trình phát triển theo mô hình tập đoàn của nhóm các tập đoàn kinh tế tư nhân hiện gặp phải một số khó khăn về quản trị, mô hình, do phần lớn phát triển từ quy mô DN gia đình và sự hạn chế, thiếu hụt các kiến thức, kinh nghiệm vê quản lý, cân bằng các nguồn lực… Các liên kết trong mô hình tập đoàn còn khá đơn giản, chưa triển khai được các hình thức liên kết “mềm” khác thông qua thỏa thuận, hợp tác sử dụng thương hiệu, dịch vụ, kết quả nghiên cứu đổi mới, ứng dụng khoa học, công nghệ chung trong tập đoàn theo nguyên tắc thị trường

Lĩnh vực hoạt động của các tập đoàn kinh tế và DN thuộc khu vực tư nhân mới chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực như dịch vụ, bất động sản… Vì vậy, còn thiếu vắng một lực lượng DN “đầu tàu”

đủ mạnh để có thể dẫn dắt “đoàn tàu” DN Việt Nam tham gia chuỗi sản xuất, chuỗi giá trị trong nước và quốc tế

Do phần lớn DN Việt Nam hiện có quy mô nhỏ nên rất khó tăng NSLĐ nhờ chuyên môn hóa hay tận dụng lợi thế quy mô được

Chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề nghiêm trọng khi mà lao động trong DNNVV vừa yếu lại thiếu Số lượng được đào tạo chỉ chiếm chưa đến 30% tổng số lao động Việc đào tạo chỉ mang tính thời vụ, trước mắt, chưa mang tính lâu dài Nhiều đơn vị rất khó khăn trong việc tuyển lao động phổ thông vì đang có tình trạng "thừa thầy thiếu thợ" Hơn nữa, lao động phổ thông thường xuyên "nhảy việc", ít gắn

bó lâu dài với DN

Mặt khác, vì quy mô nhỏ nên khả năng tích tụ và tập trung vốn

để đầu tư, đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất hầu như không có Điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của DNNVV, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay

Dù công nghệ sản xuất của DN lạc hậu dẫn đến sản phẩm làm ra chất lượng không cao, không thể so sánh với hàng của các nước trong khu vực, song do vốn ít nên không có điều kiện sử dụng công nghệ cao

III Một số thông tin bổ sung về thực trạng các Doanh nghiệp vừa và nhỏ

tại Việt Nam:

Do khu vực DNNVV có vai trò quan trọng, nên những năm qua, Việt Nam đã và đang nỗ lực tháo gỡ rào cản nhằm thúc đẩy khu vực DN này phát triển Chính phủ tập trung các chính sách hỗ trợ những nội dung cụ thể: Phát huy và nâng cao hiệu quả hoạt động DNNVV, các DN đổi mới sáng tạo; Hỗ trợ đẩy mạnh phong trào khởi nghiệp quốc gia,…

Ngày đăng: 20/08/2022, 19:56

w