1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn kinh tế chính trị (7)

11 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Phát Triển Các Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ Ở Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Chính Trị
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 73,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi rằng Đảng và Nhà nước ta nhận thấy được rằng nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế có có xuất phát thấp: đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu, người dân thì có trình độ kĩ thuật t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA LUẬT

KINH TẾ CHÍNH TRỊ

MÁC – LÊ NIN

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở

VIỆT NAM HIỆN NAY

NGUYỄN THỊ NGỌC DIỆP - 11200787

Hà Nội-2021

Trang 2

Lời nói đầu

Hiện nay vấn đề phát triển kinh tế là vấn đề quan trọng, cần thiết và tất yếu của mỗi quốc gia Nhưng ở mỗi quốc gia lại có những chính sách, những con đường đi khác nhau dựa vào khả năng, tiềm lực của chính mình Đối với Việt Nam cũng vậy, từ khi xóa bỏ cơ chế nền kinh tế kế hoạch hóa, bao cấp và chuyển sang nền kinh tế thị trường thì hơn 30 năm qua Đảng và Nhà nước ta luôn kiên định và nhất quán với đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế và nhiều hình thức kinh doanh Và Đảng và Nhà nước ta cũng xác định rằng: vấn đề phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một điều tất yếu

để phát triển nền kinh tế Bởi rằng Đảng và Nhà nước ta nhận thấy được rằng nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế có có xuất phát thấp: đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu, người dân thì có trình độ kĩ thuật thấp nên việc phát triển kinh tế gắn liền với việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là thực tiễn khách quan mà ta cần phải thực hiện theo nó Điều đó không những góp phần đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế, tạo sự ổn định chính trị xã hội trong nước mà nó còn là tác nhân, động lực thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Do đó đề tài này sẽ cho ta nhận thấy được những thực trạng còn tồn tại của doanh nghiệp vừa và nhỏ từ đó đưa ra được những giải pháp hướng đi tốt nhất trong nền kinh tế thị trường hiện nay

Đối với em và những sinh viên khác – những người chủ nhân của đất nước sau này, có khả năng thay đổi cục diện đất nước, thì đề tài này sẽ giúp chúng

em có thêm hiểu biết, nhận thức hơn tới sự phát triển kinh tế đất nước Nó cũng là cầu nối giữa lý thuyết và thực tại, giữa sự phát triển kinh tế với nhiệm

vụ của chúng em

Do thời gian tìm hiểu nghiên cứu và thu thập tài liệu còn có hạn, kinh nghiệm tư duy viết bài còn hạn chế, đề tài nghiên cứu rộng và phức tạp và bước đầu mới làm quen với việc nghiên cứu đề tài này nên em rất mong nhận được ý kiến đóng góp chỉ bảo của cô

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ &

VỪA TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN NAY

1.1, Khái quát về nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

Từ năm 1986, khi Đảng và Nhà nước ta đã nhận ra được sai lầm của mình trong nền kinh tế và đã chọn ra hướng đi phù hợp nhất, phản ánh trình độ phát triển và điều kiện lịch sử của nước ta, đó là chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nên kinh tế vận hành theo các quy luật của thị trường đồng thời góp phần hướng tới từng bước xác lập một xã hội mà ở đó dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;

có sự điều tiết của Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo

Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quan, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kì quá độ lên chủ

Trang 3

nghĩa xã hội ở Việt Nam Bởi sự tất yếu đó xuất phát từ thực tiễn lịch sử, khi Đảng nhận thấy rằng mặc dù nên kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đã đạt tới giai đoạn phát triển khá cao và phồn thịnh ở các nước tư bản phát triển, nhưng những mâu thuẫn vốn có của nó không thể nào khắc phục được trong lòng xã hội tư bản Mà nhân loại lại muốn tiếp tục phát triển thì không thể dừng lại ở kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Cùng với đó là nguyện vọng của nhân dân

là mong muốn dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh – một

hệ giá trị của xã hội tương lai mà loài người cần phải phấn đấu mới có thể đạt được một cách đầy đủ trên hiện thực xã hội

Không những thế, ta còn nhận thấy tính ưu việt của kinh tế thị trường trong việc thúc đẩy phát triển: luôn là động lực thúc đẩy các lực lượng sản xuất phát triển nhanh và hiệu quả; hình thành nền kinh tế nhiều thành phần Bởi vậy việc phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một điều tất yếu góp phần cho

sự phát triển đó

Việt Nam là môi trường khá thuận lợi cho sự phát triển và đầu tư của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nhưng do nước ta đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu do đó xuất hiện một số thực trạng khi tiến hành cải cách:

- Phần lớn các doạnh nghiệp là mới thành lập, còn yếu kém, còn ít kinh nghiệm

Thiếu các ngành hàng, mặt hàng để sản xuất kinh doanh

-Khó khăn về tài chính, công nghệ kĩ thuật thấp

- Thiếu thông tin về thị trường trong và ngoài nước

- Nhu cầu đào tạo của các ngành doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa được đánh giá đúng

- Có vấn đề khó khăn về nguyên liệu đầu vào theo đường nhập khẩu - Sản xuất nguyên liệu đầu vào chất lượng cao ở trong nước còn hạn chế - Cơ chế quản lý còn nhiều bất cập

- Sự phát triển của doanh nghiệp mang tính chất phục vụ nhu cầu tiêu dùng của xã hội chứ chưa thể định hướng, hướng dẫn tiêu dùng

Đó cũng là những thực trạng chung của nên kinh tế nước ta lúc bấy giờ Còn các doanh nghiệp quốc doanh thì không phát huy được hiệu quả của mình, luôn ỷ lại vào nhà nước nên dần mất đi vị thế trong nền kinh tế cạnh tranh đầy tính khốc liệt hiện nay

1.2, Khái quát về doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế

thị trường ở Việt Nam

1.2.1, Khái niệm:

Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, số lượng lao động hay doanh thu, có tư cách pháp nhân kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, cùng với giá trị gia tăng thu được trong từng thời kì theo quy định của từng quốc gia

Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, không phân biệt thành phần kinh tế, đã đăng kí kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có quy mô về vốn hoặc lao động thỏa mãn các quy định của chính phủ đối với từng ngành nghề tương ứng với từng thời kì phát triển của nền kinh tế

Trang 4

* Một số quy định khác:

Hiện nay ở nước ta có khoảng 80% - 90% doanh nghiệp thuộc loại vừa và nhỏ Riêng khu vực ngoài quốc doanh có trên 95% tổng số doanh nghiệp vừa

và nhỏ

Do chưa có quy định chính thức của chính phủ nên mô hình lượng hóa bằng các giới hạn cụ thể khác nhau, tùy theo quy định của từng cơ quan chức năng:

• Ngân hàng ngoại thương Việt Nam quy định: để thực hiện các hoạt động vay tín dụng thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ là các doanh nghiệp có vốn từ 5 – 10 tỷ đồng với số lao động từ 500 – 1000 người lao động

• Hội đồng liên các hợp tác xã lại quy định: Các doanh nghiệp có vốn

từ 100 – 300 triệu đồng và số lao động từ 5 – 10 người là doanh nghiệp nhỏ còn doanh nghiệp thì có số vốn sản xuất kinh doanh trên

300 triệu đồng và lao động trên 50 người

• Thành phố HCM quy định: Các doanh nghiệp có vốn trên 1 tỷ đồng, lao động trên 1000 người và doanh thu trên 10 tỷ đồng một năm là doanh nghiệp vừa và dưới các tiêu chuẩn trên là doanh nghiệp nhỏ Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay có nhiều tổ chức phi chính thức ( không có chức năng thực thi các chính sách của nhà nước) sử dụng các tiêu thức khác nhau trong phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ để xác định chính sách ưu tiên VD: Dự án VIE/US/95/2004 hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam do UNIDO tài trợ coi:

+, Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có số lao động dưới 30 người, vốn đăng kí dưới 0,1 triệu USD (1,5 tỷ đồng)

+, Doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có số lao động từ 31 – 200 người, vốn đăng kí nhỏ hơn 0,4 triệu USD (6 tỷ đồng)

1.2.2, Đặc điểm:

Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta có những đặc điểm cơ bản sau:

- Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam thường gắn với công nghệ lạc hậu, thủ công

- Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các thành phần kinh tế còn nhiều bất cập

- Tiểm lực và năng lực cạnh tranh còn yếu

Từ những đặc điểm trên, ta có thể khái quát những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp vừa và nhỏ:

- Hình thức sở hữu: Có đủ các hình thức sở hữu: Nhà nước, tập thể, tư nhân và hỗn hợp

- Về hình thức pháp lý: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ được hình thành theo Luật doanh nghiệp và các văn bản dưới luật

- Lĩnh vực và địa bàn hoạt động: Doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu phát triển ở ngành dịch vụ, thương mại ( buôn bán ) Lĩnh vực sản xuất chế biến và giao thông còn ít, địa bàn hoạt động chủ yếu ở các thị trấn, đô

Trang 5

thị

- Công nghệ và thị trường: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu có năng lực tài chính rất thấp, có công nghệ, thiết bị lạc hậu, chủ yếu sử dụng lao động thủ công

- Trình độ tổ chức quản lý và tay nghề của người lao động còn thấp và yếu

1.2.3, Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với sự phát triển kinh

tế của Việt Nam

Do ở Việt Nam hiện nay thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế (các doang nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ là trên 95% tổng số doanh nghiệp) nên doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm một vị trí cũng như vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam Cùng với nông nghiệp và nên kinh tế nông thôn, doanh nghiệp vừa và nhỏ là những nhân tố đảm bảo sự ổn định và bền vững của nên kinh tế, tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm cho người lao động, khai thác và tận dụng hiệu quả tiềm năng về vốn, tay nghề và những nguồn lực tiềm ẩn trong dân cư, phát triển các ngành nghề truyền thống, góp phần phân bổ công nghiệp, bổ xung cho công nghiệp lớn,

đảm bảo về cân bằng lớn trong kinh tế - xã hội – môi trường a, Vai trò ổn định nền kinh tế

Ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn Sự điều chỉnh hợp đồng thầy phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định Vì thế, doanh nghiệp nhỏ và vừa còn được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế

b, Vai trò quan trọng trong sự thúc đẩy, tăng trưởng kinh tế Do đặc

điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là quy mô sản xuất nhỏ cùng với

thời gian thu vốn nhanh nên đây là điều kiện thuận lợi để các hình thức

doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng khai thác, thu hút vốn trong dân – một nguồn vốn còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác, làm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tính đến năm 1996 nước

ta có 2,2 triệu hộ cá thể hoạt động sản xuất kinh doanh, 5970 doanh nghiệp nhà nước, 21360 doanh nghiệp và công ty tư nhân

Điều đó càng thể hiện được rõ hơn sự tăng trưởng kinh tế ở nước ta qua một số năm Năm 2000, đóng góp của doanh nghiệp vừa và nhỏ vào ngân sách quốc gia chỉ khoảng 10% trong tổng lượng đóng góp của tất cả khu doanh nghiệp Nhưng tỷ lệ này nhanh chóng tăng lên tới 31% vào năm 2008

và 2009 Ngoài ra về con số tiền thuế và phí mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ

tư nhân đã nộp cho nhà nước tăng 18,4 lần sau 10 năm Không những vậy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn đóng góp hơn 40% GDP cả nước, còn nếu tính cả hợp tác xã, trang trại và hộ kinh doanh cá thể thì con số này còn lên đến trên 60% Bên cạnh đó, doanh nghiệp vừa và nhỏ còn có nhiều đóng góp trong giá trị sản xuất công nghiệp và chiếm tỷ trọng lớn trong mức bán lẻ của ngành thương nghiệp cũng như khối lượng vận chuyển hành khách và hàng hóa

c, Giải quyết vấn đề việc làm

Do số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số doanh nghiệp nên nhu cầu về lao động rất cao Nhìn nhận thực tế thì ta cũng thấy rằng với tốc độ tăng dân số hiện nay so với tốc độ tăng trưởng kinh tế thì

tỷ lệ người thất nghiệp sẽ gia tăng một cách đáng kể Do vậy ngoài cách chính sách làm giảm tốc độ tăng dân số cần phải kết hợp với tăng nhanh số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ để giải quyết vấn đề công ăn việc làm cho người lao

Trang 6

động

d, Góp phần làm cho nền kinh tế năng động

Do doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô nhỏ, dễ điều chỉnh hoạt động (xét

về mặt lý thuyết); số lượng lại khá lớn, lại thường xuyên tăng lên nên đã làm tăng khả năng cạnh tranh và làm bớt rủi ro cho các doanh nghiệp Đồng thời làm tăng số lượng hàng hóa dịch vụ thỏa mãn nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng Không những thế sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ còn có tác động tích cực tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhất là cơ cấu nông nghiệp và nông thôn

e, Có khả năng tận dụng các nguồn lực xã hội

Về vốn: Doanh nghiệp vừa và nhỏ thu hút được khá nhiều vốn trong dân

Về lao động: Tận dụng nguồn lao động dồi dào sẵn có bởi những doanh

nghiệp vừa và nhỏ nhằm vào mục tiêu sản xuất phục vụ nhu cầu người tiêu dùng, cần nhiều lao động, ít vốn, không nhất thiết đòi hỏi có trình độ cao mà chỉ cần đào tạo ngắn ngày là có thể tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh

Về nguyên liệu: Do nguồn vốn ít, lao động chủ yếu là thủ công vì thế nguyên liệu được sử dụng chủ yếu là nguyên liệu tại chỗ thuộc phạm vi địa phương,

dễ khai thác sử dụng qua đó cũng tạo ra công ăn việc làm cho người lao

động địa phương Rất ít các doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu ngoại nhập Khi khảo sát 1000 doanh nghiệp thì 80% số doanh nghiệp có nguồn nguyên liệu cung ứng từ địa phương nơi sản xuất

f, Doanh nghiệp vừa và nhỏ là nơi ươm mầm các tài năng kinh doanh, nơi đào tạo, rèn luyện các nhà doanh nghiệp, giúp họ làm quen với môi trường kinh doanh

Quá trình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đã xây dựng được một đội đông đảo các doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề của nền kinh tế với số lượng và trình độ không ngừng tăng lên

g, Doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần vào đô thị hóa phi tập trung và thực hiện phương châm “ly nông bất ly hương”

h, Cải thiện mối quan hệ giữa các khu vực kinh tế khác nhau.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC DOANH NGHIỆP

VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1, Thực trạng

- Số lượng doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động tăng lên Từ năm 2016, mỗi năm có thêm hơn 100 nghìn doanh nghiệp thành lập mới Trong hai năm 2017-2018, cả nước có 258.134 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và 60.458 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động quay trở lại

- Tính chung trong 9 tháng năm 2018, cả nước có 96.611 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 963.411 tỷ đồng, tăng 2,8% về số doanh nghiệp và tăng 6,7% về số vốn đăng ký Riêng trong quý III/2018, cả nước có 32.080 doanh nghiệp thành lập mới, giảm 15% so với quý II/2018 và giảm 1,9% so với cùng kỳ năm 2017 Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp đạt 10,0 tỷ đồng, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2017 Số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới là 819.742 lao động, giảm 7,5% so với cùng kỳ năm 2017 Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 22.897 doanh nghiệp, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2017 Tổng số vốn đăng

ký bổ sung vào nền kinh tế là 2.845.331 tỷ đồng, tăng 32,7% so với cùng kỳ năm 2017, bao gồm: 936.411 tỷ đồng của doanh nghiệp đăng ký thành lập mới (tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2017) và 1.881.920 tỷ đồng (tăng 51,6%) thông qua 32.144 lượt đăng ký tăng vốn của các doanh nghiệp đang hoạt động

Trang 7

(tăng 16,6%)

- Trong một vài năm gần đây, xu hướng phát triển các mô hình kinh doanh khởi nghiệp sáng tạo (startup) diễn ra sôi động, tập trung vào một số lĩnh vực như: xây dựng, chế biến, chế tạo, công nghiệp ô tô, vận tải hàng không, tài chính, ngân hàng Hiện nay, có hơn 3.000 công ty khởi nghiệp sáng tạo đang hoạt động, trong đó có nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ thành công

- Doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần quan trọng trong chuyển dịch về cơ cấu ngành nghề thông qua tạo việc làm, thu hút lao động từ lĩnh vực nông nghiệp, tham gia đầu tư vào các thị trường ngách, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh Bình quân mỗi năm (giai đoạn 2016-2017), khối doanh nghiệp vừa và nhỏ thu hút nhiều lao động nhất với 8,69 triệu lao động (chiếm 60,9% tổng lao động toàn bộ khu vực doanh nghiệp trong nền kinh tế) Trong hai năm 2017-2018, số doanh nghiệp vừa và nhỏ thành lập mới cũng đã tạo gần 2,3 triệu việc làm mới

- Trong giai đoạn 2015-2017, khu vực kinh tế tư nhân (trong đó doanh nghiệp vừa và nhỏ là bộ phận quan trọng) đóng góp khoảng 50% GDP, trên 30% thu ngân sách nhà nước, 45% vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội Năm

2018, kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 42,1% GDP của nền kinh tế và có dấu hiệu tăng lên

- Tốc độ tăng năng suất lao động của khu vực này tương đối ổn định Mặc

dù những năm gần đây, tốc độ tăng năng suất lao động của cả nước liên tục có những biến động thì tốc độ tăng năng suất lao động của khu vực kinh tế tư nhân, trong đó chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn ổn định hơn so với các khu vực kinh tế nhà nước và khu vực FDI, xung quanh mức 4,8%-5,8% Tính chung trong 2 năm 2016-2017, các doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo ra doanh thu chiếm tỷ lệ chi phối trong toàn bộ khu vực doanh nghiệp, bình quân mỗi năm các doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo ra 10,8 triệu tỷ đồng, chiếm 56,4% doanh thu toàn bộ khu vực doanh nghi, tăng 64,4% so với bình quân giai đoạn 2011-2015

- Ngoài ra, theo số liệu thống kê năm 2018, nhận thức được số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ có xu hướng tăng lên, Nhà nước cũng đã chú trọng tới việc

hỗ trợ phát triển nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ này và đạt được một số kết quả đáng khích lệ được biểu hiện qua một cuộc khảo sát 305 doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn 4 tỉnh, thành phố: Nam Định, Hà Nội, Thái Bình, Hưng Yên:

+, Có 87,54% doanh nghiệp được hỏi cho rằng khung pháp lý liên quan đến khâu đăng ký kinh doanh và gia nhập thị trường đã thuận tiện hơn, thời gian rút ngắn hơn (Minh chứng bằng việc năm 2018 có 131,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 3,5% so với tổng số vốn đăng ký là 1478,1 nghìn

tỷ đồng, tăng 14,1% so với năm 2017)

+, 80,33% các doanh nghiệp cho rằng việc tiếp cận vốn đã ngày càng trở nên dễ dàng hơn thông qua các chính sách vay vốn linh hoạt, rộng mở của các ngân hàng Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước thì cuối năm 2018, dư nợ cho vay của nền kinh tế tăng 18,36% so với cùng kỳ năm 2017, với tổng số doanh nghiệp còn quan hệ tín dụng với ngân hàng chiếm 50% doanh nghiệp vừa và nhỏ

2, Thuận lợi và hạn chế của doanh nghiệp vừa và nhỏ

a, Thuận lợi

- Dễ dàng khởi sự, hoạt động linh hoạt và khi gặp khó khăn trong công việc

Trang 8

cũng dễ dàng đi đến thống nhất bởi tổ chức quản lý gọn nhẹ

- Dễ phát huy bản chất hợp tác sản xuất với doanh nghiệp lớn Mỗi doanh nghiệp vừa và nhỏ thường chỉ tham gia một vài chi tiết hay một vài công đoạn trong quá trình tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh Với hình thức này, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường được coi là vệ tinh của các doanh nghiệp lớn

- Dễ dàng thu hút lao động với chi phí thấp do đó tăng hiệu suất sử dụng vốn

- Có thể sử dụng lao động tại nhà do đó góp phần tăng thêm thu nhập cho một bộ phận dân cư có mức sống thấp

- Thường sử dụng nguyên vật liệu có sẵn tại địa phương với hiệu suất cao nhất

- Có sự giao tiếp gần gũi giữa người lao động và người sử dụng lao động

do vậy ít xảy ra xung đột và nếu có cũng dễ giải quyết

- Có thể phát huy tiềm lực trong nước: tận dụng tối đa khả năng của mình nhằm tạo ra các sản phẩm mang tính cạnh tranh cao với mức chi phí thấp và vốn đầu tư thấp từ đó nâng cao năng lực sản xuất và sức mua thị trường

- Dễ dàng tạo ra sự phát triển cân bằng giữa các vùng

- Là nơi đào luyện ra các nhà doanh nghiệp, là các cơ sở kinh tế ban đầu để phát triển thành doanh nghiệp lớn

b, Hạn chế

- Nguồn vốn tài chính hạn chế

- Mặc dù các năm gần đây, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ thành lập mới nhiều, nhưng cũng có một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp không có khả năng tồn tại, đứng vững trong cạnh tranh hoặc hoạt động kém hiệu quả

- Nhà nước chưa có được chính sách thương mại hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ hiệu quả (32,13% doanh nghiệp cho rằng chưa thực hiện tốt chính sách hỗ trợ sản xuất, 37,05% cho rằng chính sách thị trường chưa tốt, đặc biệt là đối với thị trường nước ngoài)

- Hiện nay, các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn rất khó tiếp cận các nguồn lực của xã hội để phục vụ cho sản xuất, kinh doanh như: việc tuyển dụng lực lượng lao động có trình độ tay nghề cao, về tiếp cận đất đai, về vốn tín dụng

từ các ngân hàng, nguồn vốn từ các quỹ, về ứng dụng khoa học và công nghệ Theo Báo cáo đánh giá môi trường kinh doanh năm 2018 của Ngân hàng Thế giới, chỉ số tiếp cận tín dụng của Việt Nam năm 2018 được xếp hạng 29/190 nền kinh tế Trong 6 tháng đầu năm 2018, dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng 21% dư nợ toàn nền kinh tế Đến nay vẫn có khoảng 60% doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa tiếp cận được nguồn vốn tín dụng của ngân hàng Việc tiếp cận đất đai còn nhiều khó khăn chưa đáp ứng được yêu cầu (thủ tục xin cấp đất rất chậm và chi phí quá cao, nguồn lực khan hiếm trong điều kiện dân số nước ta khá đông làm mất đi cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp)

- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thiếu thông tin thị trường cũng như cổng đối thoại với các bộ, ngành để tìm kiếm sự hỗ trợ và sự bảo vệ, đặc biệt là các thông tin về giá cả hàng hóa, thủ tục mua bán, xuất nhập khẩu hàng hóa cũng như quy trình sản xuất và chất lượng yêu cầu; chính sách thuế còn phức tạp,

Trang 9

thiếu ổn định với nhiều mức thuế và tốn thời gian để thực hiện các quy định

về thuế

- Sự liên kết của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam còn yếu kém, có rất ít mối liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp có quy mô lớn hơn Theo báo cáo triển vọng phát triển Châu Á của Ngân hàng Phát triển Châu Á, hiện nay mới chỉ có 21% các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, so với 30% của Thái Lan và 46% của Malaysia

- Do phần lớn doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ nên rất khó tăng năng suất lao động nhờ chuyên môn hóa hay tận dụng lợi thế quy mô (bởi quy

mô nhỏ nên khả năng tích tụ và tập trung vốn để đầu tư, đổi mới công nghệ,

mở rộng quy mô sản xuất hầu như không có) Điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay

3, Một số giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam phát triển trong thời gian tới

3.1, Nhóm giải pháp tăng cường quản lý Nhà nước đối với doanh

nghiệp vừa và nhỏ

- Xây dựng chiến lược phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ phù hợp với

từng thời kỳ và phải gắn chặt với các quy hoạch tổng thể, cụ thể của nền kinh

tế quốc dân

- Tiếp tục ban hành và triển khai có hiệu quả các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Hoàn thiện các chính sách hỗ trợ đã thực hiện, tháo gỡ khó khăn trong các quy định về vốn, đất đai, thuế,

- Hoàn thiện thể chế, chính sách, hệ thống pháp luật về kinh doanh minh bạch, công bằng, lành mạnh nhằm mục đích tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh cho DN, tạo thuận lợi tối đa cho các DN khi tham gia vào thị trường trong nước và ngoài nước Ban hành hệ thống chính sách đồng bộ, ổn định lâu dài đối với hoạt động của khu vực DNNVV

- Hoàn thiện khung pháp lý và phạm vi hỗ trợ DNNVV phát triển trong nước, hội nhập quốc tế (xác định rõ khuôn khổ về gia nhập, hoạt động và giải thể, phá sản của DN Việt Nam); hỗ trợ công nghệ, khoa học kỹ thuật cho DN Việt Nam; phát triển nguồn nhân lực cho các DNNVV, tập trung vào nâng cao năng lực quản trị; đẩy mạnh hình thành nhóm DN Việt Nam

- Tích cực tạo mối quan hệ liên kết giữa các doanh nghiệp trong cả nước - Xây dựng cơ chế, chính sách theo dõi hoạt động và ứng phó kịp thời trước các khó khăn của doanh nghiệp

3.2, Nhóm giải pháp tăng cường tiếp cận vốn vay cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Thường xuyên cung cấp thông tin về các điều kiện vay vốn, thời gian, thủ tục vay vốn của các tổ chức cho vay tới doanh nghiệp

- Trợ giúp doanh nghiệp trong các khâu: lập dự án kinh doanh, huy động và

sử dụng vốn có hiệu quả

- Xây dựng các chính sách cho vay ưu đãi hơn đối với các doanh nghiệp

vừa và nhỏ như: giảm lãi suất, cơ chế thế chấp, tín chấp thuận tiện hơn, 3.3, Nhóm giải pháp cải cách hệ thống thuế

- Phải hoàn thiện hệ thống thuế, đặc biệt là phải phù hợp với tình hình hội nhập như hiện nay

- Xây dựng hệ thống thuế cần đảm bảo tính khả thi, phù hợp với từng đối tượng nộp thuế

Trang 10

- Cần đảm bảo mọi doanh nghiệp hiểu và thực hiện tốt hệ thống chính sách thuế bằng việc cung cấp đầy đủ thông tin, đơn giản hóa cách tính thuế và thủ tục nộp thuế Đặc biệt, nên phát triển hệ thống nộp thuế trực tuyến giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian và chi phí

- Phải đảm bảo công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế đối với tất cả các doanh nghiệp Tích cực tuyên truyền nâng cao tinh thần tự giác nộp thuế của doanh nghiệp

- Xây dựng chính sách thuế ưu đãi và cắt giảm các khoản thuế không cần thiết

3.4, Nhóm giải pháp tăng cường xúc tiến thương mại

- Tổ chức các buổi triển lãm hàng hóa trong và ngoài nước

- Hỗ trợ tư vấn thông tin qua các ấn phẩm, các buổi hội nghị, bồi dưỡng kĩ năng tìm kiếm và thích ứng với các thị trường tiềm năng mà doanh nghiệp có thể xâm nhập

- Trong bối cảnh mở cửa và hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam đã ký kết

hàng loạt các FTA thế hệ mới, để nâng cao năng lực cạnh tranh, DNNVV cần biết tận dụng tối đa những tiềm lực về vốn, nhân lực, thị trường, văn hóa, kinh nghiệm kinh doanh của các DN ; cần biết cách giữ mối quan hệ tốt đẹp với các DN lớn trong bối cảnh thị trường cạnh tranh khốc liệt Đặc biệt, các DNNVV cần minh bạch hoạt động và báo cáo tài chính, nâng cao chất lượng quản trị DN, quản lý rủi ro

3.5, Nhóm giải pháp xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao.

- Hỗ trợ kinh phí cho các doanh nghiệp đào tạo nhân lực

- Tổ chức tư vấn, xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp cũng như kiểm soát chất lượng, nội dung của các khóa đào tạo

- Xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp sử dụng lao động và các trường đại học, cao đẳng, trường dạy nghề trên cả nước

Trong những năm gần đây, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã có tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế của Việt Nam, trong đó có cộng đồng doanh nghiệp Điều này khiến doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đối mặt với sự khác biệt về nhiều khía cạnh liên quan đến hoạt động kinh doanh, thương mại như tư duy kinh doanh, nhận thức, niềm tin, tâm lý khách hàng, văn hóa ứng xử Do vậy, mỗi doanh nghiệp vừa và nhỏ cần sử dụng có hiệu quả các giải pháp hỗ trợ của Nhà nước, của cộng đồng xã hội và của chính bản thân các doanh nghiệp để phát triển bền vững và thích ứng với yêu cầu của bối cảnh mới.

Tài Liệu Tham Khảo

1 Bài viết Giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển

– Thực trạng ở Việt Nam và kinh nghiệm của một số nước

2 Doanh nghiệp vừa và nhỏ - wikipedia

3 Luận văn: Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu – Nguyễn Thị Hải Ninh – trang

academia.edu

Ngày đăng: 20/08/2022, 19:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bài viết Giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển – Thực trạng ở Việt Nam và kinh nghiệm của một số nước Khác
3. Luận văn: Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu – Nguyễn Thị Hải Ninh – trangacademia.edu Khác
4. Luận văn kinh tế chính trị - Đổi mới cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm thúc đẩy sự phát triển của chúng ở Việt Nam hiện nay – TieuPhong – 112doc.com Khác
5. Bài viết phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay – Nghiên cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn – Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam – vass.gov.vn Khác
6. Luận văn: Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam thực trạng và giải pháp – 123docz.net Khác
7. Thực trạng và giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong giai đoạn hiện nay – tạp chí Công nghiệp và tiêu dùng Khác
8. Bài viết: Doanh nghiệp vừa và nhỏ là gì? Đặc trưng của doanh nghiệp vừa và nhỏ - timviec365.vn Khác

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w