1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn kinh tế chính trị (6)

13 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 287,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng bên cạnh những thành tựu và đóng góp to lớn của các DNNN trong suốt quá trình phát triển của nền kinh tế nước ta thì hiện nay các DNNN đang phải đối đầu với nhiều khó khăn thử thác

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA LUẬT

KINH TẾ CHÍNH TRỊ

MÁC-LÊ NIN

Đề tài: Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp

nhà nước ở Việt Nam

Mã sinh viên : 11203494

Giảng viên hướng dẫn : Mai Lan Hương

Hà Nội – 6\2021

Trang 2

Lời mở đầu

Doanh nghiệp nhà nước tồn tại trong mọi nền kinh tế Ở Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) có vị trí, vai trò quan trọng, được khẳng định cả trong chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước lẫn trong thực tiễn Nhưng bên cạnh những thành tựu và đóng góp to lớn của các DNNN trong suốt quá trình phát triển của nền kinh tế nước ta thì hiện nay các DNNN đang phải đối đầu với nhiều khó khăn thử thách như: tình trạng làm ăn thua lỗ, công nghệ lạc hậu ,sức cạnh tranh trên thị trường kém ,yếu kém trong quản lý tài sản cũng như nhân lực Thì một yêu cầu cấp thiết đặt ra là làm sao phải năng cao hiệu quả kinh tế của các DNNN mà vẫn giữ vững vai trò chủ đạo của DNNN trong nền kinh tế quốc dân Cổ phần hóa (CPH) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là một giải pháp quan trọng để sắp xếp lại, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN Đến nay, CPH đang được mở rộng sang các DN hoạt động trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, là DN qui mô lớn, có khả năng sinh lời cao như ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, hàng không, hàng hải, dầu khí Phương thức thực hiện mang tính công khai và minh bạch, cổ phiếu phát hành lần đầu được bán theo hình thức đấu giá rộng rãi và công khai ra công chúng Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được tiến hành trong gần

30 năm qua đã đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần làm thay đổi cơ bản về cơ cấu, cơ chế hoạt động của nền kinh tế và đạt bước phát triển vượt bậc, song nhìn chung tiến độ sắp xếp, đổi mới còn chậm Với bối cảnh trên, tác giả đã lựa chọn

đề tài “Thực trạng cổ phần hóa các DNNN ởViệt Nam hiện nay” nhằm đánh giá thực trạng, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình CPH các DNNN Mục đích nghiên cứu đề tài là nhằm hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về CPH DNNN Trên cơ sở khái quát tình hình nghiên cứu, phân tích thực trạng CPH DNNN ở Việt Nam, để đề xuất các giải pháp hàm ý quản lý nhằm thúc đẩy quá trình CPH DNNN trong thời gian tới

Trang 3

I NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN VỀ DNNN VÀ CPH CÁC DNNN Ở VIỆT NAM

1) Doanh nghiệp nhà nước

a) Định nghĩa DNNN

Theo Luật doanh nghiệp nhà nước 2020, doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chỉ phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công

ty trách nhiệm hữu hạn Doanh nghiệp nhà nước có thể là: công ty nhà nước (công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà nước), công ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm hưu hạn nhà nước một thành Viên, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có hai thành viên trở lên, doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chỉ phối của Nhà nước (cổ phần hoặc vốn góp của nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ và nhà nước giữ quyền chí phối đối với doanh nghiệp đó)

b) Vai trò thực trạng của DNNN ở Việt Nam

Về nội dung kinh tế, sở hữu là cơ sở, là điều kiện của sản xuất Với nghĩa đó, nội dung kinh tế của sở hữu biểu hiện ở khía cạnh những lợi ích, trước hết là những lợi ích kinh tế mà chủ thể sở hữu sẽ được thụ hưởng khi xác định đối tượng sở hữu đó thuộc về mình trước các quan hệ với người khác Nên việc nhà nước sở hữu các doanh nghiệp thì sẽ mạng lại lợi ích trực tiếp cho chủ thể là nhà nước Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Đó là vấn để có tính nguyên tắc nhằm bảo đảm đúng định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường Với vai trò của mình kinh tế nhà nước không đứng độc lập, tách rời mà luôn có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với toàn bộ nền kinh tế và trong suốt cả quá trình phát triển Phần

sở hữu nhà nước không chỉ có trong kinh tế nhà nước mà có thể được sử dụng ở nhiều thành phần kinh tế khác Bằng thực lực của mình kinh tế nhà nước phải là đòn bẩy để thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững và giải quyết các vấn đề xã hội; mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển; làm lực lượng vật chất để nhà nước thực hiện chức năng điều tiết, quản lý nền kinh tế Các doanh nghiệp nhà nước chỉ đầu tư vào những ngành kinh tế then chốt vừa chi phối được nền kinh tế vừa đảm bảo được an ninh, quốc phòng và phục vụ lợi ích công cộng Với ý nghĩa đó, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không chỉ là phát triển lực lượng sản xuất,

mà còn là từng bước xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Vai trò của doanh nghiệp Nhà nước gắn với việc tham gia vào hoạt động Kinh tế của Nhà nước Vai trò này thể hiện trên ba khía cạnh: kinh tế, chính trị,

xã hội Nội dung ba vai trò này được thể hiện như sau: Là công cụ chủ yếu tạo ra sức mạnh vật chất để Nhà nước giữ vững sự ổn định xã hội điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Mở đường, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển nhanh của toàn bộ nền kinh tế Đảm nhận các lĩnh vực hoạt động có tính chiến lược đối với sự phát triển kinh tế xã hội Cung ứng các hàng hoá và dịch vụ thiết

Trang 4

yếu, nhất là trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng (giao thông, thuỷ lợi, điện nước, thông tin liên lạc, v.v ), xã hội (giáo dục, y tế, v.v ) và an ninh, quốc phòng Là lực lượng xung kích tạo ra sự thay đổi cơ cấu kinh tế, thúc đẩy nhanh việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ nhằm thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Là lực lượng đối trọng trong cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước, chống sự phụ thuộc vào nước ngoài về kinh tế trong điều kiện mở của hội nhập với khu vực và thế giới

2) Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

a) Khái niệm về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần bằng cách bán cổ phần cho cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong nước và nước ngoài

b) Mục tiêu của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Thứ nhất Chuyển đổi những công ty nhà nước mà nhà nước không cần giữ 100% vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, huy động vốn của các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, trong nước và ngoài nước

để tăng năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lí nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế

Thứ hai Đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư

và người lao động trong doanh nghiệp

Thứ ba Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phục tình trạng cổ phần hoá khép kín trong nội bộ doanh nghiệp gắn với phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán

Khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, nhà nước bán một phần hoặc toàn bộ cổ phần cho các chủ sở hữu khác, do đó cần phải xác định được phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp

c) Ý nghĩa của cổ phẩn hóa doanh nghiệp nhà nước:

• Việc này nhằm đa dạng hóa sở hữu tại doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, thúc đẩy kinh tế phát triển phần hóa có ý nghĩa làm cho chủ sở hữu trong doanh nghiệp trở nên đa dạng hơn Chính vì vậy nó giải quyết được khá triệt để vấn đề sở hữu trong doanh nghiệp 100% vốn nhà nước vốn đã gây ra những vướng mắc về hiệu quả và sự kém năng động trong sản xuất kinh doanh

• Có ý nghĩa to lớn trong việc xã hội hóa tư liệu sản xuất trong các doanh nghiệp thuộc sở hữu một chủ Huy động được nguồn vốn của người lao động và nhân dân giảm bớt được gánh nặng tài chính đè lên vai các cơ quan nhà nước

• Tạo cho những người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp như họ mong muốn Bằng việc sở hữu cổ phần trong doanh nghiệp, người lao động có thể tham gia vào các vấn đề quan trọng của công ty, nâng cao tính chủ động, tích cực của người lao động Với việc cổ phần hóa trách nhiệm của người lãnh đạo và nhân viên trong công ty sẽ được gắn chặt vào lợi ích của công

Trang 5

ty Do đó trách nhiệm trong công việc sẽ nhiều hơn giảm bớt sự phụ thuộc vào vốn của các cơ quan nhà nước

• Tạo áp lực cạnh tranh mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế, từ đó tạo vòng xoáy thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế

• Với sự xuất hiện của những công ty cổ phần, hàng hóa chứng khoán trên sàn giao dịch chứng khoán sẽ nhiều hơn, chất lượng hơn

II THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TỪ TRƯỚC TỚI NAY

1) Tiến trình thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong những năm qua

a) Trước đổi mới năm 1986

Nền kinh tế đang trong giai đoạn bao cấp khối doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã chiếm tỷ trọng lớn của lên kinh tế Như bao doanh nghiệp nhà nước ở các nước khác thì trong quá trình hoạt động DNNN đã bộc lộ nhiều hạn chế, doanh thu kỳ vọng không đạt yêu cầu Nhưng vì chính sách kinh tế thời đó không có kinh tế tư nhân nên khái niệm CPH DNNN hầu như bằng không

b) Giai đoạn sau đổi mới từ năm 1986

Đổi mới tư duy quản lý kinh tế bắt đầu diễn ra mạnh sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra vào tháng 12 năm

1986 Một trong những tư duy quản lý đã thay đổi đó là cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước, bao gồm tăng quyền tự chủ cho các doanh nghiệp, yêu cầu phải chuyển sang hình thức kinh doanh hạch toán kinh tế, lời ăn lỗ chịu

c) Giai đoạn thí điểm (từ năm 1992- 1996)

Để có thể tiến hành cải cách kinh tế bắt đầu từ nửa sau của thập kỷ 1990, Việt Nam đã đề nghị sự giúp đỡ về tài chính và kỹ thuật của các thể chế tài chính toàn cầu như Nhóm Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Phát triển châu Á và các nhà tài trợ mà hầu hết là những nước có nền kinh tế thị trường phát triển Một trong những cái giá Việt Nam phải trả là phải tiến hành một số cải cách theo đề nghị của những tổ chức và nhà tài trợ - những cải cách

mà vào thời điểm đầu thập niên 1990 Việt Nam còn chưa nhận thức đầy đủ sự cần thiết và do đó rất miễn cưỡng thực hiện Trong số những cải cách miễn cưỡng này có tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước

Cổ phần hóa ở Việt Nam được thực hiện theo đường lối thử và sửa Năm

1990, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định số 143/HĐBT ngày

10 tháng 5 năm 1990 lựa chọn một số doanh nghiệp nhỏ và vừa để thử chuyển đổi thành công ty cổ phần Kết quả là có 2 doanh nghiệp trong năm 1990-1991 được cổ phần hóa Năm 1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lại ra Quyết định số

202 ngày 8 tháng 6 năm 1992 yêu cầu mỗi bộ ngành trung ương và mỗi tỉnh thành chọn ra từ 1-2 doanh nghiệp nhà nước để thử cổ phần hóa

Để tránh gây ra mâu thuẫn sâu sắc với bộ phận cán bộ và nhân dân lo ngại

về sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, Chính phủ Việt Nam đã quyết định

sẽ không bán đứt các doanh nghiệp của mình cho các cá nhân, thay vì đó tiến hành chuyển các doanh nghiệp nhà nước thành doanh nghiệp cổ phần Tài sản

Trang 6

của doanh nghiệp được chia thành các cổ phần bán cho cán bộ công nhân trong doanh nghiệp và phần còn lại do nhà nước sở hữu Tùy từng doanh nghiệp, phần

cổ phần do nhà nước sở hữu có thể nhiều hay ít, từ 0% tới 100%

Kết quả là đến tháng 4 năm 1996, có 3 doanh nghiệp nhà nước do trung ương quản lý và 2 doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý được cổ phần hóa Trừ Công ty dịch vụ vận tải mà Nhà nước chỉ còn giữ 18% tổng số cổ phần,

4 công ty khác Nhà nước đều giữ khoảng 30% tổng số cổ phần Các nhà đầu tư bên ngoài chỉ mua được cao nhất là gần 35% tổng số cổ phần trong trường hợp Công ty cổ phần Giày Hiệp An, còn lại đều ở khoảng 20%

Từ kinh nghiệm của 7 trường hợp cổ phần hóa nói trên, năm 1996 Chính phủ quyết định tiến hành thử cổ phần hóa ở quy mô rộng hơn Nghị định 28/CP được Chính phủ ban hành ngày 7 tháng 5 năm 1996 yêu cầu các bộ, ngành trung ương và các chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập danh sách doanh nghiệp nhà nước do mình quản lý sẽ được cổ phần hóa cho đến năm

1997 Tinh thần của Nghị định 28/CP là chọn những doanh nghiệp mà Nhà nước thấy không còn cần thiết phải nắm giữ 100% vốn nữa làm đối tượng Nghị định

số 25/CP ngày 26 tháng 3 năm 1997 của Chính phủ cho phép các lãnh đạo bộ, ngành, địa phương có thêm quyền hạn trong việc tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp được chọn làm thử Theo đó, đối với doanh nghiệp có vốn từ 10 tỷ đồng trở xuống thì lãnh đạo bộ, ngành, địa phương có quyền tự tổ chức thực hiện cổ phần hóa trên cơ sở Nghị định số 28/CP

Kết quả của giai đoạn thí điểm cổ phần hóa mở rộng này là có 25 doanh nghiệp nhà nước đã được chuyển thành công ty cổ phần

d) Giai đoạn mở rộng (từ năm 1996- 2002)

Sau hai giai đoạn cổ phần hóa thí điểm trên, Chính phủ Việt Nam quyết định chính thức thực hiện chương trình cổ phần hóa Ngày 29 tháng 6 năm 1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 44/1998/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần Nghị định này quy định rằng đối với cổ phần phát hành lần đầu của doanh nghiệp được chuyển đổi nhưng Nhà nước vẫn muốn nắm quyền chi phối, cá nhân không được phép mua quá 5% và pháp nhân không được phép mua quá 10% Đối với doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm quyền chi phối, cá nhân được phép mua tới 10% và pháp nhân được phép mua tới 20% tổng cổ phần phát hành lần đầu Riêng đối với các doanh nghiệp mà Nhà nước hoàn toàn không còn muốn sở hữu, cá nhân và pháp nhân được phép mua không hạn chế Tiền thu được từ bán cổ phần sẽ được sử dụng để đào tạo lại lao động, sắp xếp việc làm cho lao động dư thừa, bổ sung vốn cho các doanh nghiệp nhà nước khác

Sau khi Nghị định 44/1998/NĐ-CP được áp dụng cho đến ngày 31 tháng 12 năm

2001, có 548 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa

e) Giai đoạn chủ động (từ năm 2002- 2004)

Tháng 8 năm 2001, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX họp về doanh nghiệp nhà nước và ra nghị quyết của Trung ương Đảng về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước Để triển khai Nghị quyết trung ương này, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 04/2002/CT-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2002 về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà

Trang 7

nước, và Chính phủ ra Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2002

về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần Các văn kiện pháp lý này đã mở ra một giai đoạn mới của cổ phần hóa - giai đoạn tiến hành chủ động Theo Nghị định số 64/2002/NĐ-CP có một số hình thức cổ phần hóa sau:

- Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn

- Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp

- Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp

- Thực hiện các hình thức 2 hoặc 3 kết hợp với phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn

Đối với cổ phần phát hành lần đầu, các nhà đầu tư trong nước được phép mua không hạn chế Các nhà đầu tư nước ngoài không được phép mua quá 30%

f) Giai đoạn đẩy mạnh (từ năm 2004 đến nay)

Tháng 1 năm 2004, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX họp phiên thứ IX, tại đó có thảo luận và quyết định đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Cuối năm 2004, Chính phủ ra Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần, theo đó cả các công ty thành viên của các tổng công ty nhà nước và ngay cả chính tổng công ty nhà nước nào mà Nhà nước không muốn chi phối đều có thể trở thành đối tượng cổ phần hóa Điểm mới quan trọng nữa trong Nghị định này là quy định việc bán cổ phần lần đầu phải được thực hiện bằng hình thức đấu giá tại các trung tâm giao dịch chứng khoán nếu là công ty có số vốn trên 10 tỷ đồng, tại các trung tâm tài chính nếu là công ty có số vốn trên 1 tỷ đồng, và tại công ty nếu công ty có số vốn không quá 1 tỷ đồng Bán đấu giá khiến cho giá cổ phiếu phát hành lần đầu của nhiều công ty nhà nước được đẩy vọt lên, đem lại những nguồn thu rất lớn cho Nhà nước Chẳng hạn, đợt đấu giá cổ phần của 5 công ty nhà nước được cổ phần hóa là Công ty cổ phần kỹ nghệ thực phẩm, Nhà máy thiết bị bưu điện, Nhà máy thủy điện Vĩnh Sơn - Sông Hinh, Công ty điện lực Khánh Hòa, Công ty sữa Việt Nam, Nhà nước đã thu vượt dự kiến 450 tỷ đồng Mặt khác, bán đấu giá cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hóa còn trở thành một động lực cho sự phát triển của thị trường cổ phiếu niêm yết ở Việt Nam Trong số 30 công ty niêm yết cổ phiếu tại Trung tâm Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (nay là Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh) vào ngày 31 tháng 10 năm 2005, có 29 công ty là doanh nghiệp nhà nước

cổ phần hóa

Quá trình cổ phần hóa kiểu này đến 2008, đã thực hiện ở khoảng trên 3.000 doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ được cổ phần hóa Còn khoảng 2.000 doanh nghiệp nhà nước vừa và lớn như BIDV, Vietinbank, VMS-MobiFone, Vinaphone, dự trù sẽ cổ phần hóa đến năm 2010

Chính phủ Việt Nam cũng khẳng định quyết tâm cổ phần hóa các trường đại học Các cơ sở giáo dục ở Việt Nam muốn tránh nguy cơ bị biến dạng do đưa các hoạt động giáo dục thành các dịch vụ đơn thuần, mang nặng tính thương mại, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sứ mệnh và mục tiêu của trường nên sẽ có quá trình tách bạch và phân định rõ các bộ phận thương mại hay phi thương mại hóa

Trang 8

Các ngành như thể thao vốn chưa từng biết đến cổ phần hóa cũng đã bắt đầu quá trình này, song song với việc ra đời một loạt các cơ sở thể thao cố phần hay tư nhân từ đầu

Theo kế hoạch, chương trình cổ phần hóa sẽ cơ bản hoàn thành vào năm 2010

2) Thành tựu, hạn chế của quá trình cổ phần hóa DNNN

a) Thành tựu của quá trình cổ phần hóa

Cổ phần hóa DNNN bắt đầu từ năm 1992 Đây là biện pháp cơ bản và quan trọng trong tái cơ cấu DNNN Với khung pháp lý về cổ phần hóa được sửa đổi, hoàn thiện liên tục để đáp ứng yêu cầu thực tế, mở rộng đối tượng được quyền mua cổ phần lần đầu, cho phép sử dụng phương pháp khác nhau để xác định giá trị doanh nghiệp, xóa bỏ cổ phần hóa khép kín, khuyến khích bán cổ phần ra bên ngoài thu hút vốn từ bên ngoài xã hội, thu hút các nhà đầu tư có tiềm lực Số liệu của Cục Tài chính Doanh nghiệp, Bộ Tài chính, hết năm 2010,

cả nước đã có 4.000 doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, chiếm 67,5% tổng số doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp lại Tính từ năm 2011 đến nay, tổng số doanh nghiệp đã được cổ phần hóa là 631 doanh nghiệp, với tổng giá trị doanh nghiệp thực tế 1.040.244 tỷ đồng, vốn nhà nước thực tế 317.739 tỷ đồng Cổ phần hóa đã giúp chuyển từ doanh nghiệp Nhà nước đơn sở hữu sang hình thức doanh nghiệp đa sở hữu với mô hình, cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành năng động và hiệu quả hơn trong điều kiện kinh tế thị trường Đồng thời, tạo điều kiện pháp lý và vật chất cho người lao động trong doanh nghiệp nâng cao vai trò làm chủ tại doanh nghiệp Sau cổ phần hóa, các doanh nghiệp tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật và cổ đông, cơ cấu và cơ chế hoạt động của bộ máy quản lý doanh nghiệp đã có sự thay đổi cơ bản tránh và giảm được tình trạng can thiệp của nhiều cơ quan đại diện chủ sở hữu như trước đây, đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này hoạt động hiệu quả hơn Bên cạnh đó, Cổ phần hóa đã thu hút một lượng vốn khá lớn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Sau cổ phần hóa, phần lớn doanh nghiệp kinh doanh có lãi Hiệu quả quản lý và năng lực kinh doanh được cải thiện rõ rệt, thu nhập và đời sống cán bộ công nhân viên từng bước được nâng lên Đây là hình thức cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nước có nhiều tiến bộ, hiệu quả rõ rệt, thực sự đi vào chiều sâu gồm cơ cấu lại sở hữ, đầu tư, quản lý, kiểm soát, giám sát, tạo quyền tự chủ cho doanh nghiệp Nhà nước sau cơ cấu,… Đa phần doanh nghiệp Nhà nước sau

cổ phần hóa đã có sự chuyển biến mạnh về năng suất, chất lượng, hiệu quả, tiết kiệm chi phí, sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực, kể cả vốn, đầu tư, lao động, thời gian làm việc Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp sau cổ phần hóa được nâng lên: Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa đều có tốc độ tăng trưởng khá, hoạt động hiệu quả hơn Sự ra đời của các công ty cổ phần thông qua hoạt động cổ phần hóa tiếp tục làm tăng tính cạnh tranh trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tái cơ cấu thị trường chứng khoán, củng cố lòng tin của nhân dân về phát triển kinh tế thị trường, tạo bước đổi mới trong nhận thức, tư duy, về quan hệ sản xuất và vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội Đây thực sự là hình thức cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nước phù hợp với mô hình tăng trưởng theo chiều sâu

Trang 9

b) Hạn chế của quá trình cổ phần hóa

Trong quá trình kiểm kê phân loại tài sản, một số đơn vị thực hiện kiểm

kê, phân loại không đúng với thực tế sử dụng Sổ sách tài chính cũng bị bóp méo theo hướng có lợi cho một số người có quyền mua lớn

Việc bán cổ phần ưu đãi cho cán bộ, công nhân viên chức sai nhiều như

"các công ty đã bán cổ phần ưu đãi cho người lao động chưa đủ điều kiện về thời gian làm việc tại công ty hoặc những người đã chuyển sang làm việc tại đơn

vị khác, không có tên trong danh sách thường xuyên Thậm chí có những đơn vị bán cổ phần cho người ngoài công ty theo giá sàn, vi phạm các quy định về thực hiện chính sách đối với người lao động khi chuyển công ty nhà nước thành công

ty cổ phần"

Sai phạm thứ ba về định giá tài sản doanh nghiệp sai "Nhiều doanh nghiệp áp dụng đơn giá để xác định giá trị nhà cửa, kiến trúc không đúng theo suất đầu tư do Viện Kinh tế, Bộ Xây dựng ban hành Việc xác định tỉ lệ còn lại của nhà cửa, vật kiến trúc cũng áp dụng sai quy định của Nhà nước"

Nhiều đơn vị chậm nộp tiền về Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp theo quy định

Liên quan đến quản lý, sử dụng quỹ hỗ trợ sắp xếp và cổ phần hóa doanh nghiệp, "một số đơn vị (tổng công ty hoặc công ty) thường không mở tài khoản riêng, hằng năm không xây dựng kế hoạch thu chi báo cáo Bộ Tài chính; các tổng công ty hoặc công ty thường dùng quỹ để cho các đơn vị thành viên vay với lãi suất ưu đãi gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước"

III GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1) Nguyên nhân của những hạn chế

a) Chậm đổi mới tư duy quản lý

Nguyên nhân chính dẫn đến việc CPH chậm, không đạt mục tiêu đặt ra

là do tư duy quản lý chậm đổi mới Một số Bộ, ngành, tỉnh, tổng công ty nhà nước chưa quán triệt sâu sắc và chưa chấp hành nghiêm nghị quyết của Đảng, quy định của Nhà nước trong đổi mới DNNN

-Tư tưởng bao cấp đang đè nặng chưa hẳn được giải phòng Quan điểm

“quản được đến đâu mở đến đó” vẫn còn tồn tại trong không ít các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách Sự lúng túng trong lý luận về “định hướng XHCN” dẫn đến sự chần chừ và chờ đợi trong tổ chức thực hiện

-Chưa có các tiêu chí cụ thể và thống nhất để xác định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, đánh giá về hiệu quả DNNN nên nhận định chưa đúng về tác dụng của các chủ trương và biện pháp cải cách DNNN và các định hướng tiếp theo

b) Vấn đề hành lang pháp lý và tính nhất quán trong chỉ đạo thực hiện

-Hành lang pháp lý còn thiếu minh bạch, thiếu nhất quán, thiếu tính ổn định và đồng bộ

-Việc sắp xếp, cơ cấu lại DNNN chưa được thực hiện theo một để án tổng thể kết hợp giữa ngành và địa bàn mà lại được thực hiện theo từng đề án của từng bộ, ngành, đại phương, tổng công ty nên còn có sự chồng chéo về ngành

Trang 10

nghề kinh doanh, giữa doanh nghiệp trung ương và doanh nghiệp địa phương trên cùng một địa bàn

-Các doanh nghiệp được trao nhiều quyền tự chủ nhưng chưa có cơ chế giám sát hiệu quả nên dẫn đến việc triển khai các chính sách còn tuỳ tiện, thiếu minh bạch…Chưa có những quy định về công tác kiểm tra, xử lý vi phạm trong việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp và CPH Hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước còn thấp; công tác kế toán, kiểm toán còn nhiều yếu kém, chưa bảo đảm phục vụ một cách hữu hiệu công tác quản lý, kiểm tra, giám sát

-Một số tổng công ty và công ty nhà nước chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ-công ty con nhưng chưa tuân thủ điều kiện khách quan, đặc biệt điều kiện về liên kết kinh tế và đầu tư chi phối lẫn nhau, khiến cho việc chuyển đổi chỉ mang tính chất sắp xếp hành chính, khiên cưỡng và ép buộc Bộ máy chuyên môn nghiệp vụ của công ty mẹ chưa theo kịp yêu cầu thực hiện đồng thời hai chức năng của công ty mẹ là vừa trực tiếp sản xuất kinh doanh, vừa đầu

tư tài chính

- Việc hình thành tập đoàn kinh tế còn nhiều lúng túng, nhiều vấn đề chưa được tập trung quan tâm đúng mức trong chỉ đạo tổ chức thực hiện Chưa hình thành khung pháp luật đầy đủ hướng dẫn cho việc hình thành và quản lý đối với tập đoàn

c) Năng lực và trình độ của lãnh đạo DN còn hạn chế

- Năng lực, trình độ quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, quản trị doanh nghiệp không theo đúng thông lệ quốc tế Nhiều công ty cổ phần chưa có sự đổi mới, chuyển biến thực sự về phương thức quản lý và lề lối làm việc, do chưa có sự thay đổi đội ngũ lãnh đạo,

-CPH còn mang tình “khép kín”; trong đó chủ yếu cổ đông vẫn là người lao động, người quản lý và Nhà nước, không có chính sách thu hút cổ đông chiến lược khi tiến hành CPH, do vậy việc quản trị của các DN cổ phần không được cải thiện

d) Những bất cập về cơ chế, chính sách

- Còn có sự phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước và ngoài nước, chưa tạo điều kiện để thu hút gắn kết giữa hoạt động đầu tư của nhà đầu tư chiến lược với

sự phát triển của doanh nghiệp CPH Tỷ lệ bán cổ phần ra bên ngoài còn thấp, nhất là tỷ lệ cho các cổ đông nước ngoài

-Phương thức bán đấu giá cổ phiếu chưa đa dạng, các phương thức như bảo lãnh phát hành, thoả thuận chưa được áp dụng

- Việc ấn định tỷ lệ nhất định bán cho người lao động trong doanh nghiệp

vô tình đã biến họ trở thành các cổ đông bất đắc dĩ, hạn chế hiệu quả hoạt động của các DN sau CPH

- Các thủ tục liên quan đến hồ sơ đất đai để chuyển từ DNNN sang công

ty cổ phần còn chưa được hướng dẫn đầy đủ hoặc còn kéo dài

2) Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp

Một là, hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách phục vụ quá trình cơ cấu lại

DNNN giai đoạn 2021 - 2025, trong đó tập trung vào các nội dung như: Hoàn thiện cơ sở pháp lý để xử lý dứt điểm những dự án thua lỗ, kém hiệu quả Bên cạnh đó, xây dựng danh mục tiêu chí DNNN thực hiện cổ phần hóa, thoái vốn

Ngày đăng: 20/08/2022, 19:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w