1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn kinh tế chính trị (13)

110 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Cổ Phần Hóa Các Doanh Nghiệp Nhà Nước Ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Chính Trị
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 39,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng bêncạnh những thành tựu và đóng góp to lớn của các DNNN trong suốt quá trìnhphát triển của nền kinh tế nước ta thì hiện nay các DNNN đang phải đối đầu vớinhiều khó khăn thử thách n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA LUẬT

Trang 3

KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Trang 4

MÁC-LÊ NIN

Trang 5

Đề tài: Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

Trang 6

Họ và tên : Đoàn Văn Tân Mã sinh viên : 11203494

Trang 7

Lớp : KTCT Mác - Lênin(220)_25 Ngành : Luật Kinh Tế

Trang 8

Hệ đào tạo : Chính quy

Trang 9

Giảng viên hướng dẫn : Mai Lan Hương Hà Nội – 6\2021

Trang 10

Lời mở đầu

Trang 11

Doanh nghiệp nhà nước tồn tại trong mọi nền kinh tế Ở Việt Nam, doanhnghiệp nhà nước (DNNN) có vị trí, vai trò quan trọng, được khẳng định cả trongchủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước lẫn trong thực tiễn Nhưng bêncạnh những thành tựu và đóng góp to lớn của các DNNN trong suốt quá trìnhphát triển của nền kinh tế nước ta thì hiện nay các DNNN đang phải đối đầu vớinhiều khó khăn thử thách như: tình trạng làm ăn thua lỗ, công nghệ lạc hậu ,sứccạnh tranh trên thị trường kém ,yếu kém trong quản lý tài sản cũng như nhân lực Thì một yêu cầu cấp thiết đặt ra là làm sao phải năng cao hiệu quả kinh tế củacác DNNN mà vẫn giữ vững vai trò chủ đạo của DNNN trong nền kinh tế quốcdân Cổ phần hóa (CPH) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là mộtgiải pháp quan trọng để sắp xếp lại, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quảhoạt động của các DNNN Đến nay, CPH đang được mở rộng sang các DN hoạtđộng trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, là DN qui mô lớn, có khảnăng sinh lời cao như ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, hàng không, hàng hải,dầu khí Phương thức thực hiện mang tính công khai và minh bạch, cổ phiếuphát hành lần đầu được bán theo hình thức đấu giá rộng rãi và công khai ra côngchúng Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được tiến hành trong gần

30 năm qua đã đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần làm thay đổi cơ bản về cơcấu, cơ chế hoạt động của nền kinh tế và đạt bước phát triển vượt bậc, song nhìnchung tiến độ sắp xếp, đổi mới còn chậm Với bối cảnh trên, tác giả đã lựa chọn

đề tài “Thực trạng cổ phần hóa các DNNN ởViệt Nam hiện nay” nhằm đánh giáthực trạng, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình CPH các DNNN Mụcđích nghiên cứu đề tài là nhằm hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản vềCPH DNNN Trên cơ sở khái quát tình hình nghiên cứu, phân tích thực trạngCPH DNNN ở Việt Nam, để đề xuất các giải pháp hàm ý quản lý nhằm thúc đẩyquá trình CPH DNNN trong thời gian tới

Trang 12

I NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN VỀ DNNN VÀ CPH CÁC DNNN Ở VIỆT NAM

Trang 13

1) Doanh nghiệp nhà nước

Trang 14

a) Định nghĩa DNNN

Trang 15

Theo Luật doanh nghiệp nhà nước 2020, doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh

tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chỉ phối,được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty tráchnhiệm hữu hạn Doanh nghiệp nhà nước có thể là: công ty nhà nước (công ty nhànước độc lập, tổng công ty nhà nước), công ty cổ phần nhà nước, công ty tráchnhiệm hưu hạn nhà nước một thành Viên, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước

có hai thành viên trở lên, doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chỉ phối của Nhànước (cổ phần hoặc vốn góp của nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ và nhànước giữ quyền chí phối đối với doanh nghiệp đó)

Trang 16

b) Vai trò thực trạng của DNNN ở Việt Nam

Trang 17

Về nội dung kinh tế, sở hữu là cơ sở, là điều kiện của sản xuất Với nghĩa đó,

nội dung kinh tế của sở hữu biểu hiện ở khía cạnh những lợi ích, trước hết lànhững lợi ích kinh tế mà chủ thể sở hữu sẽ được thụ hưởng khi xác định đốitượng sở hữu đó thuộc về mình trước các quan hệ với người khác Nên việc nhànước sở hữu các doanh nghiệp thì sẽ mạng lại lợi ích trực tiếp cho chủ thể là nhànước Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhànước đóng vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảngvững chắc của nền kinh tế quốc dân Đó là vấn để có tính nguyên tắc nhằm bảođảm đúng định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường Với vai tròcủa mình kinh tế nhà nước không đứng độc lập, tách rời mà luôn có mối quan hệgắn bó hữu cơ với toàn bộ nền kinh tế và trong suốt cả quá trình phát triển Phần

sở hữu nhà nước không chỉ có trong kinh tế nhà nước mà có thể được sử dụng ởnhiều thành phần kinh tế khác Bằng thực lực của mình kinh tế nhà nước phải làđòn bẩy để thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững và giải quyết các vấn đề xãhội; mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển;làm lực lượng vật chất để nhà nước thực hiện chức năng điều tiết, quản lý nềnkinh tế Các doanh nghiệp nhà nước chỉ đầu tư vào những ngành kinh tế thenchốt vừa chi phối được nền kinh tế vừa đảm bảo được an ninh, quốc phòng vàphục vụ lợi ích công cộng Với ý nghĩa đó, phát triển kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không chỉ là phát triển lực lượng sản xuất,

mà còn là từng bước xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa

Trang 18

Vai trò của doanh nghiệp Nhà nước gắn với việc tham gia vào hoạt động Kinh tế của Nhà nước Vai trò này thể hiện trên ba khía cạnh: kinh tế, chính trị, xã hội Nội dung ba vai trò này được thể hiện như sau: Là công cụ chủ yếu tạo ra sức mạnh vật chất để Nhà nước giữ vững sự ổn định xã hội điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Mở đường, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển nhanh của toàn bộ nền kinh tế Đảm nhận các lĩnh vực hoạt động có tính chiến lược đốivới sự phát triển kinh tế xã hội Cung ứng các hàng hoá và dịch vụ thiết

Trang 19

yếu, nhất là trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng (giao thông, thuỷ lợi, điện nước, thôngtin liên lạc, v.v ), xã hội (giáo dục, y tế, v.v ) và an ninh, quốc phòng Là lực lượng xung kích tạo ra sự thay đổi cơ cấu kinh tế, thúc đẩy nhanh việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ nhằm thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Là lực lượng đối trọng trong cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước, chống sự phụ thuộc vào nước ngoài về kinh tế trong điều kiện mở của hội nhập với khu vực và thế giới

Trang 20

2) Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Trang 21

a) Khái niệm về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Trang 22

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là chuyển doanh nghiệp nhà nước thành

công ty cổ phần bằng cách bán cổ phần cho cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức xãhội trong nước và nước ngoài

Trang 23

b) Mục tiêu của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Trang 24

Thứ nhất Chuyển đổi những công ty nhà nước mà nhà nước không cần giữ

100% vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, huy động vốn củacác cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, trong nước và ngoài nước đểtăng năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lí nhằmnâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế

Trang 25

Thứ hai Đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp

Trang 26

Thứ ba Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phụctình trạng cổ phần hoá khép kín trong nội bộ doanh nghiệp gắn với phát triển thịtrường vốn, thị trường chứng khoán

Trang 27

Khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, nhà nước bán một phần hoặc toàn bộ

cổ phần cho các chủ sở hữu khác, do đó cần phải xác định được phần vốn củanhà nước tại doanh nghiệp

Trang 28

c) Ý nghĩa của cổ phẩn hóa doanh nghiệp nhà nước:

Trang 29

• Việc này nhằm đa dạng hóa sở hữu tại doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạtđộng của doanh nghiệp, thúc đẩy kinh tế phát triển phần hóa có ý nghĩa làmcho chủ sở hữu trong doanh nghiệp trở nên đa dạng hơn Chính vì vậy nógiải quyết được khá triệt để vấn đề sở hữu trong doanh nghiệp 100% vốnnhà nước vốn đã gây ra những vướng mắc về hiệu quả và sự kém năng độngtrong sản xuất kinh doanh

Trang 30

• Có ý nghĩa to lớn trong việc xã hội hóa tư liệu sản xuất trong các doanhnghiệp thuộc sở hữu một chủ Huy động được nguồn vốn của người laođộng và nhân dân giảm bớt được gánh nặng tài chính đè lên vai các cơ quannhà nước

Trang 31

• Tạo cho những người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp như họ mongmuốn Bằng việc sở hữu cổ phần trong doanh nghiệp, người lao động có thểtham gia vào các vấn đề quan trọng của công ty, nâng cao tính chủ động,tích cực của người lao động Với việc cổ phần hóa trách nhiệm của ngườilãnh đạo và nhân viên trong công ty sẽ được gắn chặt vào lợi ích của công

Trang 32

ty Do đó trách nhiệm trong công việc sẽ nhiều hơn giảm bớt sự phụ thuộc vào vốn của các cơ quan nhà nước

Trang 33

• Tạo áp lực cạnh tranh mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp khác trong nền kinh

tế, từ đó tạo vòng xoáy thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế

Trang 34

• Với sự xuất hiện của những công ty cổ phần, hàng hóa chứng khoán trên sàn giao dịch chứng khoán sẽ nhiều hơn, chất lượng hơn

Trang 35

II THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TỪ TRƯỚC TỚI NAY

Trang 36

1) Tiến trình thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong những năm qua

Trang 37

a) Trước đổi mới năm 1986

Trang 38

Nền kinh tế đang trong giai đoạn bao cấp khối doanh nghiệp nhà nước, hợp tác

xã chiếm tỷ trọng lớn của lên kinh tế Như bao doanh nghiệp nhà nước ở cácnước khác thì trong quá trình hoạt động DNNN đã bộc lộ nhiều hạn chế, doanhthu kỳ vọng không đạt yêu cầu Nhưng vì chính sách kinh tế thời đó không cókinh tế tư nhân nên khái niệm CPH DNNN hầu như bằng không

Trang 39

b) Giai đoạn sau đổi mới từ năm 1986

Trang 40

Đổi mới tư duy quản lý kinh tế bắt đầu diễn ra mạnh sau Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra vào tháng 12 năm 1986.Một trong những tư duy quản lý đã thay đổi đó là cải cách khu vực doanhnghiệp nhà nước, bao gồm tăng quyền tự chủ cho các doanh nghiệp, yêu cầuphải chuyển sang hình thức kinh doanh hạch toán kinh tế, lời ăn lỗ chịu

Trang 41

c) Giai đoạn thí điểm (từ năm 1992- 1996)

Trang 42

Để có thể tiến hành cải cách kinh tế bắt đầu từ nửa sau của thập kỷ 1990, Việt

Nam đã đề nghị sự giúp đỡ về tài chính và kỹ thuật của các thể chế tài chínhtoàn cầu như Nhóm Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Pháttriển châu Á và các nhà tài trợ mà hầu hết là những nước có nền kinh tế thịtrường phát triển Một trong những cái giá Việt Nam phải trả là phải tiến hànhmột số cải cách theo đề nghị của những tổ chức và nhà tài trợ - những cải cách

mà vào thời điểm đầu thập niên 1990 Việt Nam còn chưa nhận thức đầy đủ sựcần thiết và do đó rất miễn cưỡng thực hiện Trong số những cải cách miễncưỡng này có tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước

Trang 43

Cổ phần hóa ở Việt Nam được thực hiện theo đường lối thử và sửa Năm 1990,Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định số 143/HĐBT ngày 10tháng 5 năm 1990 lựa chọn một số doanh nghiệp nhỏ và vừa để thử chuyển đổithành công ty cổ phần Kết quả là có 2 doanh nghiệp trong năm 1990-1991 được

cổ phần hóa Năm 1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lại ra Quyết định số 202ngày 8 tháng 6 năm 1992 yêu cầu mỗi bộ ngành trung ương và mỗi tỉnh thànhchọn ra từ 1-2 doanh nghiệp nhà nước để thử cổ phần hóa

Trang 44

Để tránh gây ra mâu thuẫn sâu sắc với bộ phận cán bộ và nhân dân lo ngại về sựphát triển của khu vực kinh tế tư nhân, Chính phủ Việt Nam đã quyết định sẽkhông bán đứt các doanh nghiệp của mình cho các cá nhân, thay vì đó tiến hànhchuyển các doanh nghiệp nhà nước thành doanh nghiệp cổ phần Tài sản

Trang 45

của doanh nghiệp được chia thành các cổ phần bán cho cán bộ công nhân trong doanh nghiệp và phần còn lại do nhà nước sở hữu Tùy từng doanh nghiệp, phần

cổ phần do nhà nước sở hữu có thể nhiều hay ít, từ 0% tới 100% Kết quả là đến tháng 4 năm 1996, có 3 doanh nghiệp nhà nước do trung ương quản lý và 2 doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý được cổ phần hóa Trừ Công ty dịch vụ vận tải mà Nhà nước chỉ còn giữ 18% tổng số cổ phần, 4 công ty khác Nhà nước đều giữ khoảng 30% tổng số cổ phần Các nhà đầu tư bên ngoài chỉ mua được cao nhất là gần 35% tổng số cổ phần trong trường hợp Công ty cổ phần Giày Hiệp An, còn lại đều ở khoảng 20%

Trang 46

Từ kinh nghiệm của 7 trường hợp cổ phần hóa nói trên, năm 1996 Chính phủquyết định tiến hành thử cổ phần hóa ở quy mô rộng hơn Nghị định 28/CP đượcChính phủ ban hành ngày 7 tháng 5 năm 1996 yêu cầu các bộ, ngành trung ương

và các chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập danh sách doanhnghiệp nhà nước do mình quản lý sẽ được cổ phần hóa cho đến năm 1997 Tinhthần của Nghị định 28/CP là chọn những doanh nghiệp mà Nhà nước thấy khôngcòn cần thiết phải nắm giữ 100% vốn nữa làm đối tượng Nghị định số 25/CPngày 26 tháng 3 năm 1997 của Chính phủ cho phép các lãnh đạo bộ, ngành, địaphương có thêm quyền hạn trong việc tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệpđược chọn làm thử Theo đó, đối với doanh nghiệp có vốn từ 10 tỷ đồng trởxuống thì lãnh đạo bộ, ngành, địa phương có quyền tự tổ chức thực hiện cổ phầnhóa trên cơ sở Nghị định số 28/CP

Trang 47

Kết quả của giai đoạn thí điểm cổ phần hóa mở rộng này là có 25 doanh nghiệp nhà nước đã được chuyển thành công ty cổ phần

Trang 48

d) Giai đoạn mở rộng (từ năm 1996- 2002)

Trang 49

Sau hai giai đoạn cổ phần hóa thí điểm trên, Chính phủ Việt Nam quyết địnhchính thức thực hiện chương trình cổ phần hóa Ngày 29 tháng 6 năm 1998,Chính phủ ban hành Nghị định số 44/1998/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp nhànước thành công ty cổ phần Nghị định này quy định rằng đối với cổ phần pháthành lần đầu của doanh nghiệp được chuyển đổi nhưng Nhà nước vẫn muốnnắm quyền chi phối, cá nhân không được phép mua quá 5% và pháp nhân khôngđược phép mua quá 10% Đối với doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắmquyền chi phối, cá nhân được phép mua tới 10% và pháp nhân được phép muatới 20% tổng cổ phần phát hành lần đầu Riêng đối với các doanh nghiệp màNhà nước hoàn toàn không còn muốn sở hữu, cá nhân và pháp nhân được phépmua không hạn chế Tiền thu được từ bán cổ phần sẽ được sử dụng để đào tạo lạilao động, sắp xếp việc làm cho lao động dư thừa, bổ sung vốn cho các doanhnghiệp nhà nước khác

Trang 50

Sau khi Nghị định 44/1998/NĐ-CP được áp dụng cho đến ngày 31 tháng 12 năm

2001, có 548 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa

Trang 51

e) Giai đoạn chủ động (từ năm 2002- 2004)

Trang 52

Tháng 8 năm 2001, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộngsản Việt Nam khóa IX họp về doanh nghiệp nhà nước và ra nghị quyết củaTrung ương Đảng về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quảdoanh nghiệp nhà nước Để triển khai Nghị quyết trung ương này, Thủ tướngChính phủ ra Chỉ thị số 04/2002/CT-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2002 về việctiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà

Trang 53

nước, và Chính phủ ra Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2002

về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần Các văn kiện pháp lý này đã mở ra một giai đoạn mới của cổ phần hóa - giai đoạn tiến hành chủ động Theo Nghị định số 64/2002/NĐ-CP có một số hình thức cổ phần hóa sau:

Trang 54

- Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếuthu hút thêm vốn

Trang 55

- Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp

Trang 56

- Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp

Trang 57

- Thực hiện các hình thức 2 hoặc 3 kết hợp với phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn

Trang 58

Đối với cổ phần phát hành lần đầu, các nhà đầu tư trong nước được phép mua

không hạn chế Các nhà đầu tư nước ngoài không được phép mua quá 30% f)

Giai đoạn đẩy mạnh (từ năm 2004 đến nay)

Trang 59

Tháng 1 năm 2004, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa

IX họp phiên thứ IX, tại đó có thảo luận và quyết định đẩy mạnh cổ phần hóadoanh nghiệp nhà nước Cuối năm 2004, Chính phủ ra Nghị định số187/2004/NĐ-CP về chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần, theo đó cảcác công ty thành viên của các tổng công ty nhà nước và ngay cả chính tổngcông ty nhà nước nào mà Nhà nước không muốn chi phối đều có thể trở thànhđối tượng cổ phần hóa Điểm mới quan trọng nữa trong Nghị định này là quyđịnh việc bán cổ phần lần đầu phải được thực hiện bằng hình thức đấu giá tại cáctrung tâm giao dịch chứng khoán nếu là công ty có số vốn trên 10 tỷ đồng, tạicác trung tâm tài chính nếu là công ty có số vốn trên 1 tỷ đồng, và tại công tynếu công ty có số vốn không quá 1 tỷ đồng Bán đấu giá khiến cho giá cổ phiếuphát hành lần đầu của nhiều công ty nhà nước được đẩy vọt lên, đem lại nhữngnguồn thu rất lớn cho Nhà nước Chẳng hạn, đợt đấu giá cổ phần của 5 công tynhà nước được cổ phần hóa là Công ty cổ phần kỹ nghệ thực phẩm, Nhà máythiết bị bưu điện, Nhà máy thủy điện Vĩnh Sơn - Sông Hinh, Công ty điện lựcKhánh Hòa, Công ty sữa Việt Nam, Nhà nước đã thu vượt dự kiến 450 tỷ đồng.Mặt khác, bán đấu giá cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hóa còn trở thànhmột động lực cho sự phát triển của thị trường cổ phiếu niêm yết ở Việt Nam.Trong số 30 công ty niêm yết cổ phiếu tại Trung tâm Giao dịch chứng khoánthành phố Hồ Chí Minh (nay là Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ ChíMinh) vào ngày 31 tháng 10 năm 2005, có 29 công ty là doanh nghiệp nhà nước

cổ phần hóa

Ngày đăng: 20/08/2022, 19:58

w