Trong đó doanh nghiệp nhà nước đã và đang đóng vai trò quantrọng trong sự phát triển của nền kinh tế, tạo ra nguồn thu lớn cho Ngân sách nhà nước, làcông cụ để thực hiện các chính sách k
Trang 11
Trang 2MỤC LỤC
2
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta chuyển mình từ nèn kinh tế tập trung quanliêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta cũng nhưmỗi doanh nghiệp đã và đang phải đổi mặt với nhiều thời cơ và thách thức khác nhau.Khi nền kinh tế thế giưới đang ngày càng “phẳng”, yêu cầu hội nhập tăng cao và thịtrường thế giới ngày càng mở rộng Điều đó đặt ra yêu cầu các doanh nghiệp cần phải có
sự nhanh nhạy với hoàn cảnh, nắm bắt tốt các thời cơ và nhận thức tốt các nhược điểm đểđẩy mạnh và phát triển Trong đó doanh nghiệp nhà nước đã và đang đóng vai trò quantrọng trong sự phát triển của nền kinh tế, tạo ra nguồn thu lớn cho Ngân sách nhà nước, làcông cụ để thực hiện các chính sách kiềm chế lạm phát, đóng góp cho xây dựng, pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam đã và đang nângcao hiệu quả các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp Nhà nước để hoàn thành có hiệuquả hơn các nhiệm vụ nêu trên, góp phần đưa nước ta gia nhập vào WTO và tham gia thịtrường toàn cầu
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước, điều quan trọng
là phải điều chỉnh chúng bằng các luật kinh tế và quyết định của Quốc hội Ra đời cácđiều Luật như Luật số 38 / CỔ PHẦN về đầu tư, Luật số 11/1998 về cấp phép đầu tư vàNghị định số 28/2003/NĐ-CỔ PHẦN về đầu tư Theo đó tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới vànâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, đưa ra quan điểm chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh
cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước theo hướng kiên quyết cổ phần hóa, bán vốn tại nhữngdoanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm hoặc không cần giữ cổ phần Do đó góp phầntạo điều kiện cho doanh nghiệp Nhà nước phát triển; cải thiện cơ cấu tài chính bằng cáchhuy động vốn từ ngân sách Nhà nước (hình thức góp vốn cổ phần hoặc góp vốn trực tiếp)
và từ các nguồn trong và ngoài nước Hơn nữa góp phần động viên nhân viên của họthông qua các chương trình sở hữu cổ phiếu của nhân viên
3
Trang 4Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nướctrong giai đoạn vừa qua Với vai trò là công cụ hữu hiệu của Đảng và Nhà nước trongkiểm tra lĩnh vực tài chính công, tài sản công, Kiểm toán Nhà nước đã góp phần tăng tínhminh bạch, nâng cao hiệu quả và thúc đẩy công tác cổ phần hóa thông qua hoạt độngkiểm toán doanh nghiệp nhà nước Công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước
ta trong thời gian qua đã đạt được một số kết quả nhất định, tuy nhiên qua kết quả kiểmtoán cho thấy vẫn còn nhiều tồn tại và bất cập cần có giải pháp thích hợp
Vì những lí do trên, thấy được tầm quan trọng cũng như các vấn đề còn tồn đọngcủa việc cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam Nhằm tìm hiểu sâu hơn
và đưa ra các biện pháp khắc phục cho vấn đề được đặt ra, người viết quyết định chọn đề
tài nghiên cứu: “Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện
nay”.
NỘI DUNG
I. Tổng quát chung về cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
4
Trang 51. Doanh nghiệp Nhà nước
5
Trang 6Khu vực doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) là một trong những trụ cột của nềnkinh tế Việt Nam Nó chiếm 28% GDP, đóng góp gần 30% ngân sách nhà nước (Tổngcục Thống kê 2018), bao gồm 17% tín dụng ngân hàng, đồng thời lĩnh vực này chịu tráchnhiệm cho 60% nợ xấu trong nền kinh tế (2013)
6
Trang 7Trải qua 30 năm thực hiện kế hoạch tư nhân hóa DNNN, số lượng DNNN đãgiảm đáng kể và hiện có xu hướng tập trung vào các lĩnh vực quan trọng và cốt lõi củanền kinh tế, bao gồm điện, khoáng sản, dầu khí, tài chính, thực phẩm và viễn thông Cónhững trường hợp thành công của các DNNN sau cổ phần hóa, với sự cải thiện về lợinhuận và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp; năng lực sản xuất mở rộng; nâng caochuyên môn và năng lực quản lý; từng bước hình thành một số ngành, doanh nghiệp mớivới công nghệ hiện đại và trình độ quản lý tiên tiến Tuy nhiên, quá trình tư nhân hóa đãgặp phải một số trở ngại từ sự phức tạp của việc xác định giá trị doanh nghiệp, thiếu cácquy định chặt chẽ trong việc phổ biến thông tin, hệ thống đánh giá hiệu quả hoạt độngcòn khiếm khuyết và thiếu khả năng hoạt động của thị trường chứng khoán.
7
Trang 8Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều
lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước,công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn So với Doanh nghiệp tư nhân, DNNNthường được cho là kém hiệu quả và lợi nhuận thấp hơn Trong khi các công ty tư nhânchi tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông, doanh nghiệp Nhà nước thường phải chịu tráchnhiệm của xã hội, hoạt động vì lợi ích của người dân, được thành lập để đối phó vớinhững thất bại của nền kinh tế Điều đó dẫn đến việc các Doanh nghiệp Nhà nước khônghướng đến và cũng không cần cố gắng tối đa hóa lợi nhuận như các doanh nghiệp tưnhân
8
Trang 9Doanh nghiêp nhà nước là doanh nghiệp một chủ trong trường hợp nhà nước sởhữu toàn bộ vốn điều lệ (tức sở hữu 100%) Doanh nghiệp nhà nước nhiều chủ sở hữutrong trường hợp có cổ phần, vốn góp chi phối có tỉ lệ trên 50% và dưới 100%.
9
Trang 102. Công ty cổ phần
10
Trang 11Quá trình cổ phần hóa một doanh nghiệp hoặc một công ty thực chất là quá trìnhchuyển đổi hình thức doanh nghiệp sang hình thức công ty cổ phần.
11
Trang 12Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
12
Trang 13– Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
13
Trang 14– Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 vàkhông hạn chế số lượng tối đa;
14
Trang 15– Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản kháccủa doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
15
Trang 16– Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho ngườikhác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 và khoản 1 Điều 127 của Luậtnày.
16
Trang 17– Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứngnhận đăng ký doanh nghiệp.
17
Trang 18– Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn.
18
Trang 193. Khái niệm cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
19
Trang 20Các doanh nghiệp Nhà nước được hình thành và phát triển trên cơ sở nguồn vốncấp phát của ngân sách Nhà nước và do đó tất cả các sự hoạt động đều chịu sự kiểm soát
và chi phối trực tiếp của Nhà nước Để thực hiện mục tiêu trở thành nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN, Chính phủ Việt Nam đã khuyến khích sự tham gia tích cựccủa khu vực tư nhân cùng với cải cách DNNN nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả từnhững năm 1980 Trong 30 năm qua, các DNNN đã đóng góp đáng kể vào thành tựucủa công cuộc “Đổi mới”, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội để chuyểnsang thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiênquá trình chuyển đổi đã tạo ra thách thức to lớn cho DNNN, tác động tiêu cực đến tínhbền vững cảu phát triển nền kinh tế do tốc độ đổi mới và tái cơ cấu của DNNN cònthấp Như vậy, có thể thấy rằng vấn đề sản xuất kinh doanh trong các DNNN nước cầnphải được cải thiện và cần có các biện pháp để nâng cao năng suất kinh tế Một trongcác giải pháp hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường và đáp ứng được các yêu cầu kinhdoanh hiện đại – đó là các công ty cổ phần
20
Trang 21Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là chủ trương lớn của Đàng và Nhà nướcnhằm đa dạng hóa hình thức sở hữu trong doanh nghiệp Nhà nước, nâng cao hiệu quảcủa loại hình doanh nghiệp này Để thực hiện chủ trương đó, Nhà nước ban hành khánhiều các văn bản hướng dẫn thi hành Đó là quyết định số 202/CT ngày 8/6/1992 củaChủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về tiếp tục thí điểm chuyển doanh nghiệp Nhà nước thànhcông ty cổ phần, kèm theo đề án chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành công ty
cổ phần; Chỉ thị số 84/TTg ngày 4/3/1993 của Thủ tướng Chính phủ về xúc tiến thựchiện thí điểm cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước và các giải pháp đa dạng hóahình thức sở hữu các doanh nghiệp Nhà nước Nghị định 28/CỔ PHẦN ngày 7/5/1996của Chính phủ về chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần; Thông
tư số 50/TCDN ngày 30/8/1996 của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện; Nghị định28/CỔ PHẦN của Chính phủ; Nghị định số 25/CỔ PHẦN ngày 26/3/1997 về một sốđiều của nghị định số 28/CỔ PHẦN và nghị định số 44/CỔ PHẦN ngày 2/6/1998 vềsửa đổi một số điều trong nghị định số 28/CỔ PHẦN Hiện nay là Nghị định số 64/CỔPHẦN ngày 19/6/2002 về việc “Chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổphần”
21
Trang 22Theo các văn bản trên cổ phần hóa ở nước ta là cách nói tắt của chủ trươngchuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần Điều I Thông tư số50/TCDN ngày 30/8/1996 của Bộ Tài chính quy định: “Doanh nghiệp Nhà nước chuyểnthành công ty cổ phần (hay còn gọi là cổ phần doanh nghiệp Nhà nước)” là một biệnpháp chuyển doanh nghiệp nhà nước từ sở hữu Nhà nước sang hình thức sở hữu nhiềuthành phần, trong đó tồn tại một phần sở hữu Nhà nước.
22
Trang 23Cổ phần hóa doanh nghiệp chuyển doanh nghiệp từ chỗ hoạt động theo Luậtdoanh nghiệp Nhà nước sang hoạt động theo các quy định về công ty cổ phần trong LuậtDoanh nghiệp Được thực hiện với mục đích tránh gây ra mâu thuẫn sâu sắc với bộ phậncán bộ và nhân dân lo ngại về sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Điều đấy khôngđồng nghĩa với việc Chính phủ Việt Nam đã quyết định sẽ bán đứt các doanh nghiệp củamình cho các cá nhân, thay vì đó tiến hành chuyển các doanh nghiệp nhà nước thànhdoanh nghiệp cổ phần Tài sản của doanh nghiệp được chia thành các cổ phần bán chocán bộ công nhân trong doanh nghiệp và phần còn lại do nhà nước sở hữu Tùy từngdoanh nghiệp, phần cổ phần do nhà nước sở hữu có thể nhiều hay ít, từ 0% tới 100%.
23
Trang 24Như vậy: “Cố phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là việc chuyển doanh nghiệp
Nhà nước thành công ty cổ phần đối với những doanh nghiệp mà Nhà nước thấy không cần nắm giữ 100% vốn đầu tư, nhằm tạo điều kiện cho người lao động trong doanh nghiệp có cổ phần làm chủ thực sự doanh nghiệp, huy động vốn toàn xã hội để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp góp phần tăng trưởng kinh tế”.
24
Trang 25II.Tại sao phải cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
25
Trang 261. Bối cảnh thế giới
Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay đang được triển khaisôi nổi song cũng là một trong những biện pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa DNNN Được đánh giá là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với nền kinh tế ViệtNam Việc cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước đã tạo ta một thúc đẩy to lớn chongười dân lao động tích cực làm chủ khi họ trở thành cổ tức của doanh nghiệp đó Trênthế giới, việc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước không phải là một vấn đề xa lạ Hiệnnay các nước phát triển đều đầy mạnh việc cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, và
đó cũng để lại các bài học kinh nghiệm cần được kế thừa cho Việt Nam, để từ đó rút ngắnquy trình thực hiện cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam
CPH DNNN ở Hàn Quốc
Được đánh giá là một trong những con rồng châu Á, Hàn Quốc có một nền kinh
tế thị trường phát triển với tốc độ cao và mở rộng Để đạt được những thành tựu nhưngày hôm này của Hàn Quốc một phần là do thực hiện hiệu quả chính sách phát triểnkinh tế thị trường và mở rộng khu vực kinh tế tư nhân
Để chuyển nền kinh tế sang hoạt động theo cơ chế thị trường, Chính phủ HànQuốc đã đề ra chương trình tư nhân hóa (TNH) và cổ phần hóa (CPH), nhằm cơ cấu lạilĩnh vực hoạt động của khu vực kinh tế nhà nuớc Ngay từ các năm 1968 đến năm 1973,Hàn Quốc đã thực hiện chương trình CPH lần thứ nhất đối với 11 DNNN Trong các năm1981-1983, Hàn Quốc đã thực hiện chương trình CPH, hướng nền kinh tế chuyển mạnhsang hoạt động theo cơ chế thị trường Hàn Quốc đã bán cổ phần (CP) của mình ở 6DNNN và 4 tổ chức tài chính bằng hình thức bán đấu giá công khai Số tiền thu được qua
2 lần CPH được dùng để đầu tư vào DN cần kiểm soát của Nhà nước, nhằm đảm bảo chonền kinh tế thường xuyên ổn định và tăng trưởng
Nhằm thúc đẩy dịch chuyển nền kinh tế sang hoạt động theo cơ chế thị trường,Chính phủ Hàn Quốc đề ra chương trình tư nhân hóa (TNH) và cổ phần hóa (CPH), thayđổi lại cơ cấu lại lĩnh vực hoạt động của khu vực kinh tế Nhà nước Từ các năm 1968 đếnnăm 1973, Hàn Quốc đã thực hiện chương trình cổ phần hóa lần thứ nhất đối với 11DNNN Trong các năm 1981-1983, Hàn Quốc đã thực hiện chương trình CPH lần thứ 2,hướng nền kinh tế chuyển mạnh sang hoạt động theo cơ chế thị trường Hàn Quốc đã bán
cổ phần của mình ở 6 DNNN và 4 tổ chức tài chính bằng hình thức bán đấu giá côngkhai Số tiền thu được qua 2 lần CPH được dùng để đầu tư vào DN cần kiểm soát củaNhà nước, nhằm đảm bảo cho nền kinh tế thường xuyên ổn định và tăng trưởng
Tháng 4/1987,Chính phủ Hàn Quốc đưa ra "Chương trình CPH toàn dân" với quy
mô lớn, trong đó đưa toàn bộ hoặc một phần lớn CP của Hàn Quốc trong 10 DNNN Đếntháng 11/1987, lại bổ sung thêm 1 DN nữa Chương trình này được thực hiện trong cácnăm từ 1988 đến 1992, số tiền Hàn Quốc thu đuợc thông qua chương trình CPH vàokhoảng 7, 1 tỷ USD Trong 11 DNNN đó thì có 7 DN Chính phủ Hàn Quốc vẫn nắm giữ
ít nhất 51% cổ phiếu, vì chúng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế như: Ngân hàngngoại tệ, Công ty Gang thép Pohang, Công ty Điện lực Triều Tiên, Công ty Bưu điệnTriều Tiên
26
Trang 27Chương trình CPH được diễn ra với quy mô lớn, số lượng cổ phiếu bán ra nhiềuhơn hẳn so với hai lần trước Những DNNN được Chính phủ CPH hầu hết là những DNđộc quyền tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trên phạm vi cả nuớc, cụ thể:
- Hàn Quốc đã bán CP của một số DNNN cho khu vực kinh tế tư nhân, để từngbước tạo ra môi trường bình đẳng trong cạnh tranh giữa 2 khu vực kinh tế Đồng thời,bán CP của Nhà nước trong các ngân hàng và Sở Giao dịch Chứng khoán Hàn Quốc,nhằm phát triển thị trường tài chính và thực hiện cạnh tranh bình đẳng về cung cấpvốn cho DNNN và DN tư nhân
- Hàn Quốc đã chuyển giao một phần sở hữu Nhà nước ở các DN quan trọng, quy
mô lớn, đang làm ăn có lãi cho các tầng lớp nhân dân, nhằm hỗ trợ cho giá cả cổphiếu trên thị trường và đảm bảo mức lợi tức cổ phiếu Điều này có sức hấp dẫn đốivới công chúng và được sự quan tâm của nhiều quốc gia
Từ năm 1988 đến năm 2015, Chính phủ Hàn Quốc tiếp tục đề ra 1 chương trìnhCPH và tái cấu trúc doanh nghiệp với mục tiêu rõ ràng: “Để giảm rủi ro hệ thống và nguy
cơ của cuộc khủng hoảng thứ cấp Để thực hiện mục tiêu tái cấu trúc DN, mà trong đóCPH là một trong những giải pháp quan trọng nhất của Hàn Quốc” Sau khi đưa ra đề án,Chính phủ Hàn Quốc thông qua một loạt chính sách, biện pháp nhằm tạo điều kiện choviệc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế Trong đó miễn và giảm thuế để khuyến khích thựchiện giao dịch sát nhập và mua lại giữa các công ty và tập đoàn Thực hiện các giải phápquản trị DN và các biện pháp để bảo vệ quyền chủ sở hữu của những người nắm giữ CPthiểu số, tạo ra các tòa án phá sản chuyên dụng để hỗ trợ quá trình tái cấu trúc DN Cácbước thực hiện tái cấu trúc DN của CP Hàn Quốc, như:
Thứ nhất: Các công ty, tập đoàn có mức nợ cao được phép tham gia quá trìnhgiám sát phá sản của tòa án
Thứ hai: Sắp xếp lại các tập đoàn xếp hạng theo độ lớn tài sản do ngân hàng và
ủy ban giám sát tài chính xếp hạng
Thứ ba: Tìm cách giảm sự quá tải trong ngành công nghiệp, bằng cách buộc cáctập đoàn lớn và một số công ty Nhà nước vào một loạt giao dịch hoán đổi tài sản.Thứ tư: Hỗ trợ các DN vừa và nhỏ bằng cách yêu cầu các ngân hàng gia hạn cáckhoản vay của họ, đưa ra khoảng thời gian trả nợ ưu đãi cho các DN
Việc thực hiện tái cơ cấu DNNN mà trong đó CPH DNNN là một giải pháp quantrọng đã giúp cho các DNNN sau CPH ở Hàn Quốc phát triển vượt bậc, tất cả các chỉ tiêu
cơ bản, như: Doanh thu, các khoản nộp Ngân sách, thu nhập bình quân của người laođộng, đặc biệt chỉ tiêu lợi nhuận tăng đột biến Đây chính là nhân tố tác động lớn đến nềnkinh tế Hàn Quốc, đưa nền kinh tế Hàn Quốc phát triển lớn thứ tư ở châu Á và thứ 15trên thế giới
CPH DNNN ở Trung Quốc
27
Trang 28Trung Quốc là một quốc gia láng giềng với các đặc điểm về thẻ chế chính trị, kinh tê,văn hóa – xã hội có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam Trong quá trình cải cách, mởcửa các DNNN Trung Quốc phải đối đầu với nhiều thử thách khác nhau, khó khăn trngviệc tạo thế đứng ở thị trường trong và ngoài nước Để khắc phục tình trạng này, ngay từđầu thập niên 90, Trung Quốc đã đề cập đến giải pháp CPH Bắt đầu từ thập niên 90, giảipháp này đã được thể chế hoá và được coi là biện pháp hữu hiệu trong cải cách DNNN.Quá trình cải cách DNNN ở Trung Quốc trong thời gian qua được tiến hành theo hainội dung chính đó là: Cải cách cơ chế quản lý DNNN trên cơ sở giữ nguyên sở hữu nhànước và thực hiện chuyển đổi sở hữu (hình thành các công ty cổ phần, khuyến khích pháttriển DN tư nhân và các DN có vốn đầu tư nước ngoài).
Như vậy, CPH DNNN ở Trung Quốc là một bộ phận của chương trình đa dạng hoá
sở hữu và một trong các giải pháp cải cách DNNN Quan điểm của CP Trung Quốc là:
"Tiến hành chuyển đổi sở hữu từ từ, không nhanh, không chậm và luôn tỉnh táo, thậntrọng"
Xuất phát từ quan điểm trên, tiến trình CPH ở Trung Quốc diễn ra chậm chạp, giaiđoạn thí điểm kéo dài và hình thức CPH đơn nhất, cụ thể:
- Giai đoạn thí điểm (từ năm 1978 đến 1997) việc thí điểm, thực hiện CPH DNNN ở
Trung Quốc chia thành các bước nhỏ
Đây là giai đoạn công cuộc cải cách DNNN ở Trung Quốc vẫn dựa trên cải cách cơchế quản lý DNNN trên cơ sở giữ nguyên sở hữu Nhà nước, vấn đề CPH thực hiện cácbước đầu của việc chuyển đổi sở hữu DNNN Tình trạng thua lỗ kéo dài Trung Quốc đãban hành nhiều chính sách nhằm đẩy mạnh CPH DNNN và xây dựng chế độ DN hiệnđại Tuy nhiên, giai đoạn thử nghiệm CPH vẫn tiếp tục kéo dài Tính đến năm 1993, hơn
3000 DN thí điểm CPH trong cả nước Số CTCP có cổ phiếu được mua, bán trên Sở Giaodịch Chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến là 196 Trong đó, 33 công ty đã pháthành loại cổ phiếu B, giá trị cổ phiếu trên thị trường đạt khoảng 400 tỷ nhân dân tệ
Nhìn chung, công tác CPH ở Trung Quốc trong thời gian thí điểm mới chỉ dựa trên
cơ sở tự nguyện của các DNNN mà chưa thực sự mở rộng thành một chủ trương, có mụctiêu, chỉ tiêu rõ ràng Nếu so sánh với tổng số khoảng 305.000 DNNN (số liệu năm 1977)thì con số vài nghìn DN được CPH thực sự chỉ là một con số nhỏ (chỉ chiếm gần 1%)
- Giai đoạn triển khai: Trước thực trạng ì ạch của tiến trình CPH, cộng thêm sức ép
từ việc làm ăn thua lỗ của các DNNN Đại hội lần thứ 15 Đảng Cộng sản Trung Quốc(tháng 9/1977) đã nhấn mạnh việc đẩy nhanh công tác CPH và xây dựng DN hiện đạitheo công thức "Củng cố DN lớn và giải phóng DN nhỏ" với kế hoạch giảm dần theo 3cấp:
+ Cấp cao nhất: Những DN thuộc loại này, Nhà nước nắm giữ quyền sở hữu 100%vốn, khoảng 1000 Tập đoàn lớn trong các lĩnh vực chiến lược an ninh, quốc phòng,năng lượng, công nghệ cao
+ Cấp trung gian: Nhà nước là cổ đông tham khảo (có thể là cổ đông chi phối; cũng cóthể là cổ đông thường) đối với DN lớn và không có tính chiến lược
28
Trang 29+ Cấp thứ ba: Nhà nước tiến hành CPH, Tư nhân hóa hàng loạt các DN vừa và nhỏ,Nhà nước Trung Quốc không nắm giữ bất kỳ CP nào trong các DN này.
Như vậy, CPH DNNN ở Trung quốc đã mang lại diện mạo mới cho các DN Kếtquả là, các DN sau CPH ở Trung Quốc đã hoạt động hiệu quả hơn, tình trạng tham nhũngtrong các DNNN được đẩy lùi, bộ máy quản lý của CTCP đã được sắp xếp lại theo hướngtinh giản bộ máy gián tiếp, ưu tiên cho lao động ở khối trực tiếp sản xuất; công tácQTDN được đề cao; quyền sở hữu tài sản, sở hữu đất đai được phân định rõ ràng theoquyền sở hữu vốn của từng đối tượng trong CTCP Các chỉ tiêu, như: Doanh thu; lợinhuận; các khoản nộp CP, thu nhập bình quân của DN cũng như người lao động được cảithiện rõ rệt và CPH thực sự là một chủ trương đúng đắn trong công cuộc cải cách DNNN
ở Trung Quốc
CPH DNNN ở Cộng hoà Liên bang Nga
Cộng hoà Liên bang Nga là một nước có tiềm năng to lớn về tài nguyên cũng như
về khoa học kỹ thuật, nhưng nền sản xuất hàng hoá còn kém phát triển và tình trạng bất
ổn kéo dài trong nhiều năm Do vậy, họ gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại trong quá trìnhchuyển đổi quyền sở hữu của khu vực kinh tế nhà nước sang khu vực kinh tế tư nhân
Trước khi bước vào công cuộc CPH DNNN ở nước Nga, đang tồn tại hàng trămDNNN với tổng số vốn trong năm 1990 là 3.500 tỷ rúp Trong đó, vốn cố định là 2.700 tỷrúp, vốn lưu động 800 tỷ rúp Đương nhiên, trong một đất nước mà khu vực kinh tế nhànuớc chiếm tỷ trọng hầu như tuyệt đối thì sức mua của dân chúng sẽ rất thấp, ước tínhtổng số tiết kiệm trong một năm của nhân dân chỉ đủ mua 0,5% tài sản của DNNN Tìnhhình trên đòi hỏi quá trình tư nhân hoá, CPH DNNN ở Cộng hoà Liên bang Nga phải lấymục tiêu phân phối làm trọng điể
Liên Bang Nga đã sử dụng chương trình cấp giấy chứng nhận làm công cụ hỗ trợcho quá trình tư nhân hoá đồng loạt các DNNN Chương trình cấp giấy chứng nhận củaChính phủ Nga đã mang lại kết quả đáng kể Tính đến hết tháng 4/1994, ở Nga đã có15.000 DN hoàn tất quá trình đấu thầu giấy chứng nhận, có 80 triệu giấy chứng nhậnđược bán (chiếm 50% tổng số giấy chứng nhận đã đuợc phát hành), được chuyển thànhvốn sở hữu thông qua đăng ký mua công khai và bán đấu giá Công dân Nga có thể vàtrên thực tế đã bắt đầu lập các quỹ đầu tư và tích góp giấy chứng nhận của công dân đểsau đó tiến hành đấu thầu các cổ phiếu DN Các quỹ giấy chứng nhận đã thu đuợckhoảng 42 triệu giấy chứng nhận, trong đó có 65% đã đuợc đầu tư trực tiếp vào hình thứcvốn sở hữu DN
Như vậy, quá trình tư nhân hóa, CPH DNNN ở Nga diễn ra khá chậm chạp và khókhăn Nguyên nhân là do sở hữu Nhà nước bao trùm hầu hết các lĩnh vực kinh tế Đồngthời, với cuộc cải biến nền tảng chính trị - xã hội nên tiến trình tư nhân hóa (TNH) mangtính đặc thù với những phức tạp riêng Trong giai đoạn này, CP Nga đã xác định đượcnhững tiếp cận cơ bản để chuyển đổi sở hữu có hiệu quả cho phát triển đất nước Tronglúc đó, TNH ở nước Nga thời kỳ 1991- 1998, đã không mang lại thành công Mặt khác,
do sự sai lầm giữa mục tiêu và lựa chọn giải pháp TNH, đó là: Mục tiêu của TNH là tạo
sự ổn định nguồn thu cho ngân sách, thu hút dòng chảy nguồn đầu tư trực tiếp từ nướcngoài Tuy nhiên, tiến trình TNH các DNNN ở Nga lại thực hiện bằng giải pháp cấp tập
29
Trang 30với khối lượng lớn các DNNN theo 02 hình thức, đó là: Bán các DN nhỏ qua đấu giá còncác DN lớn chuyển thành CTCP Giai đoạn 1991- 1993, Nga đã tiến hành TNH gần89.000 DNNN; Năm 1994 là 23.800 DNNN; năm 1995 là 10.200 DNNN và năm 1996-
1997 là 7.500 DNNN, Sự thất bại trong việc cải cách DNNN ở Nga ngoài nhữngnguyên nhân như đã nêu ở trên còn có các nguyên nhân khác, như: sự chậm trễ trong việcxây dựng thể chế về tài chính và pháp lý; do sự thao túng của các tội phạm có tổ chứcliên kết với tham nhũng, hơn nữa do việc thiếu minh bạch của thông tin về chính sách vàquá trình thực hiện chính sách TNH đã tạo ra kẽ hở cho việc thao túng, rửa tiền của các tổchức tội phạm
30