1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn kinh tế chính trị (4)

14 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Tiểu luận môn kinh tế chính trị
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 81,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặt vấn đềTừ trước đến nay công nghiệp hóa, hiện đại quá luôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của quá trình phát triển đất nước vì nó đưa cả nền sản xuất vật chất và đời sống

Trang 1

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

−−−🙤🙤🙤−−−

BÀI TIỂU LUẬN

KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN

Đề tài: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng

công nghiệp 4.0

Họ và tên: Nguyễn Phương Thảo

Mã sinh viên: 11203673 Lớp: Kinh tế chính trị Mác - Lênin(220)_25

Hà Nội_2021

Trang 2

Đặt vấn đề

Từ trước đến nay công nghiệp hóa, hiện đại quá luôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của quá trình phát triển đất nước vì nó đưa cả nền sản xuất vật chất

và đời sống văn hóa - xã hội lên trình độ mới, rút ngắn khoảng cách tụt hậu về kinh

tế, kỹ thuật, công nghệ và tạo ra năng suất xã hội cao

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhằm: “Xây dựng nước ta trở thành nước công nghiệp, có cơ sở vật chất

- kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế bền vững, quy trình sản xuất tiến bộ, nguồn nhân lực phát triển, trình độ lối sống vật chất và tinh thần, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, cân bằng, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, công nghiệp hóa có vai trò tạo ra điều kiện, tiền đề vật chất - kỹ thuật cho chế

độ xã hội chủ nghĩa

Qua mỗi thời kỳ lịch sử và trong từng bối cảnh kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa đều có nội dung và hình thức cụ thể Ðối với đất nước Việt Nam trước kia, đó là quá trình công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và từ cuối thế kỷ XX đến nay, quá trình này được xác định đầy đủ là công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh công nghiệp 4.0

Cuộc cách mạng 4.0 đang phát triển rất mạnh mẽ và tạo ra cơ hội to lớn cho các quốc gia đang phát triển Với Việt Nam, nếu chúng ta tận dụng được những thành tựu của cuộc cách mạng này có thể “đi tắt, đón đầu, đẩy mạnh và giảm bớt thời gian tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên việc này cũng đặt ra nhiều thách thức và rủi ro lớn cho đất nước, đó đòi hỏi cơ quan nhà nước phải thực hiện những chính sách, đường lối đúng đắn, có phương án chuyển đổi nền sản xuất và xã hội của đất nước từ nông nghiệp lạc hậu lên công nghiệp với hệ thống công nghệ ngày càng tiên tiến, hiện đại, văn minh để có thể đạt được hiệu quả cao trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh công nghiệp 4.0 ở Việt Nam

Trang 3

PHẦN 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ

1.1 Một số vấn đề lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và cách mạng công nghiệp lần thứ tư

1.1.1 Vấn đề lý luận về cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Cách mạng công nghiệp là cuộc cách mạng ngày càng sâu rộng diễn ra trong quá trình sản xuất, là sự thay đổi cơ bản các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và kỹ thuật được bắt đầu từ nước Anh sau đó lan tỏa ra toàn thế giới

Cho đến nay, bốn cuộc cách mạng công nghiệp là các cuộc cách mạng khoa học -

kỹ thuật nói chung Cuộc thứ nhất diễn ra vào cuối thế kỷ XVIII, khai sinh ra nền công nghiệp cơ khí, tạo ra dây chuyền sản xuất hàng loạt, Cuộc thứ hai, diễn ra vào cuối thế kỷ XIX, ra đời nền công nghiệp và xã hội điện khí hóa; tạo tiền đề cho chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh lên độc quyền đế quốc Cuộc thứ ba, diễn ra vào giữa thập kỷ 70 của thế kỷ XX, mở ra một thời đại điện tử hóa, tin học hóa

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư bắt đầu vào đầu thế kỷ XXI, tiếp sau những thành tựu lớn từ lần thứ 3 để lại, được hình thành trên nền tảng cải tiến của cuộc cách mạng số, với những công nghệ mới như robotics, trí thông minh nhân tạo, công nghệ nano, công nghệ sinh học, Internet vạn vật, in 3D và xe tự lái Hiện tại

cả thế giới đang ở trong giai đoạn đầu của cuộc cách mạng này và là chiến lược bản lề cho các nước đang phát triển theo kịp với xu hướng thế giới và từ đó mở ra bước ngoặt mới cho sự phát triển của con người Trong cuốn sách "Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư" của Giáo sư Klaus Schwab, người sáng lập và Chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã từng mô tả cuộc cách mạng lần thứ tư này khác biệt cơ bản với ba lần trước, đặc trưng chủ yếu là những tiến bộ trong công nghệ Các công nghệ này có tiềm năng tiếp tục kết nối hàng tỷ người dùng web, cải thiện đáng kể hiệu quả kinh doanh và tổ chức, giúp thế giới tạo môi

trường tự nhiên bằng cách quản lý tài sản tốt hơn Bên cạnh đó "Làm chủ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư" còn được đặt thành tên chủ đề của Hội nghị thường niên Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2016 tại Davos-Klosters, Thụy Sĩ

1.1.2 Vấn đề lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Công nghiệp hoá là một quá trình phát triển kinh tế trong đó xây dựng nguồn lực

để huy động cơ cấu kinh tế nhiều ngành với công nghệ hiện đại chế tạo ra các phương tiện sản xuất, hàng tiêu dùng có kỹ năng bảo đảm nhịp độ tăng trưởng cao trong toàn nền kinh tế và bảo đảm sự hiện đại kinh tế và xã hội

Trang 4

Đây là quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội từ nền kinh tế xã hội tiền công nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp Công nghiệp hóa là một phần thuộc quá trình hiện đại hóa Sự chuyển biến trong kinh tế - xã hội đi đôi với tiến bộ về công nghệ và đặc biệt đó là sự phát triển của sản xuất năng lượng và luyện kim quy mô lớn

Hiện đại hóa không chỉ đối với công nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế, là quá trình cải dạng cải biến, các bước quá độ từ trình độ kỹ thuật khác nhau đang tồn tại lên trình độ mới cao hơn dựa trên sự tiến bộ của khoa học - công nghệ

Ở nước ta, Đại hội VII của Đảng đã xác định: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, hoạt động kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ cao từ đó tạo ra năng suất lao động xã hội cao”

1.2 Thực tiễn về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và cách mạng công nghiệp lần thứ tư

1.2.1 Thực trạng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong giai đoạn 4.0

Công nghiệp hóa ở Việt Nam được định nghĩa là quá trình chuyển đổi nền kinh tế dựa vào nông nghiệp và thủ công sang máy móc công nghiệp là chính Quá trình này ở Việt Nam bắt đầu từ thời Pháp thuộc Khi đó người Pháp xây dựng những cơ

sở công nghiệp đầu tiên tại Việt Nam và kéo dài cho đến ngày nay Mặc dù có lịch

sử công nghiệp hóa lâu dài nhưng cho đến ngày nay nền công nghiệp Việt Nam vẫn chưa hoàn chỉnh và còn khá lạc hậu so với thế giới Song, phải khách quan nhận thấy rằng, quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam đã có những kết quả tích cực, chúng ta đều không thể phủ nhận, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho xã hội mới cũng như góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần mỗi người dân

1.2.2 Những thành tựu đã đạt được trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

ở Việt Nam trong giai đoạn 4.0

Sau 35 năm thực hiện chương trình đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, đưa đất nước ta từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới trở thành quốc gia sở hữu thu nhập trung bình thấp và ngày càng hội nhập với khu vực và thế giới; đời sống của người dân được cải thiện đáng kể, vị thế và uy tín của đất nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao Đóng góp vào thành quả

to lớn của phát triển đất nước trong đó vai trò vô cùng quan trọng của ngành Công Thương với việc Việt Nam đã và đang dần dần khẳng định được vị thế khi là một

Trang 5

trong những trung tâm sản xuất công nghiệp của khu vực và trên thế giới.

Việt Nam đã vươn lên và trở thành một trong những quốc gia có nền công nghiệp với năng lực cạnh tranh toàn cầu (CIP) ở mức khá cao, thuộc vào nhóm quốc gia

có năng lực cạnh tranh công nghiệp trung bình cao thứ 44 trên thế giới năm 2018 theo đánh giá của UNIDO Theo đó, trong khoảng 1990-2018, Việt Nam đã tăng 50 lên bậc và giai đoạn 2010-2018 tăng 23 bậc, đây là mức tăng nhanh nhất trong nhóm các nước thuộc khu vực ASEAN Bên cạnh đó Việt Nam đã tiệm cận vị trí thứ 5 của Philippines khi chỉ kém 0.001 điểm, tiến gần hơn với nhóm 4 nước có năng lực cạnh tranh mạnh nhất trong khối

Công nghiệp được coi là ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các ngành kinh tế quốc dân với xấp xỉ 30% GDP Và hiện tại nó trở thành ngành xuất khẩu chủ lực của đất nước, góp phần đưa Việt Nam lên thứ 22 quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới vào năm 2018 Một số ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn theo định hướng chiến lược đã trở thành các ngành công nghiệp lớn nhất đất nước, qua đó đưa nước ta cơ bản đã hội nhập thành công vào chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu với sự dẫn dắt của một số doanh nghiệp công nghiệp lớn như điện tử, dệt may, da giày

Trong tổng số 32 mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch trên 1 tỷ USD năm 2019 hàng công nghiệp chiếm 29/32 mặt hàng và 5/5 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên

10 tỷ USD: điện tử, dệt may, da giày, đồ gỗ, máy móc, thiết bị Một số ngành công nghiệp có vị trí vững chắc trên thị trường thế giới hiện nay như dệt may xếp thứ 7

về xuất khẩu, da giày thứ 3 về sản xuất và thứ 2 về xuất khẩu, điện tử đứng thứ 12

về xuất khẩu, trong đó có mặt hàng điện thoại di động đứng thứ 2 về xuất khẩu, đồ

gỗ đứng thứ 5 về xuất khẩu

Theo xếp hạng doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2019, trong số 10 doanh nghiệp lớn nhất thì có tới 8/10 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp, trong đó 7/10 doanh nghiệp nội địa ; chiếm 5/10 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất của cả nước Các doanh nghiệp công nghiệp lớn chủ yếu tập trung vào lĩnh vực dầu khí, điện, khoáng sản, ô tô, thép, sữa và thực phẩm

1.2.3 Quá trình tái cơ cấu ngành công nghiệp gắn với đổi mới mô hình tăng

trưởng, nâng cao năng suất lao động đã đi vào thực chất hơn, ngày càng hướng vào lõi công nghiệp hóa

Công nghiệp tiếp tục duy trì là ngành có năng suất lao động cao nhất trong các ngành kinh tế quốc dân với tỷ trọng trong GDP tăng từ 26,63% năm 2011 lên 27,81% năm 2015 và 28,55% năm 2019

Cơ cấu nội ngành công nghiệp đã chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng công

Trang 6

nghiệp khai khoáng (từ năm 2011 lên 54,57% năm 2019) và trở thành động lực tăng trưởng chính của ngành công nghiệp (ước VA 36,47% năm 2011 xuống còn 25,61% năm 2019) và tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến chế tạo (từ 49,82% tăng 10,99% giai đoạn 2011-2020 và 12,64% giai đoạn 2016-2020)

Cơ cấu nội ngành công nghiệp đã chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng công nghiệp khai khoáng (từ 36,47% năm 2011 xuống còn 25,61% năm 2019) và tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến chế tạo (từ 49,82% năm 2011 lên 54,57% năm 2019)

và trở thành động lực tăng trưởng chính của ngành công nghiệp (ước VA tăng 10,99% giai đoạn 2011-2020 và 12,64% giai đoạn 2016-2020

Năm 2020 được xem là một năm với những khó khăn, thách thức lớn không chỉ với kinh tế thế giới nói chung mà trong đó có Việt Nam Kinh tế thế có thể nói bị ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng, suy thoái nghiêm trọng nhất trong lịch sử, tăng trưởng của các nền kinh tế lớn đều giảm sâu do ảnh hưởng tiêu cực của dịch

Covid-19 Tuy nhiên, đối với Việt Nam, nền kinh tế vẫn duy trì tăng trưởng cùng với tốc độ tăng GDP đạt 2,91% trong tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế, khu vực công nghiệp và xây dựng đạt tốc độ tăng cao nhất với 3,98%, đóng góp 1,62 điểm phần trăm vào mức tăng chung Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ chốt dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế với mức tăng 5,82%, đóng góp 1,25 điểm phần trăm Chỉ số sản xuất công nghiệp của một số ngành như thuốc, hóa dược và dược liệu; sản xuất kim loại; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu

mỏ tinh chế; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học… tăng khá với tốc độ tăng tương ứng: 27,1%; 14,4%; 11,4% và 11,3%, góp phần đưa ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có mức tăng trưởng khả quan trong bối cảnh dịch, làm đứt gãy chuỗi cung ứng nguyên liệu sản xuất đầu vào

1.2.4 Thời cơ và thách thức quá tình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong giai đoạn 4.0

1.2.4.1 Thời cơ

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 với đặc trưng cơ bản là trí tuệ nhân tạo và điều khiển học có bước phát triển vượt bậc nơi cho phép con người có thể kiểm soát từ

xa mọi thứ, không giới hạn về không gian, thời gian; tương tác nhanh hơn, tốt hơn

và chính xác hơn Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 tác động mạnh mẽ đến mọi quốc gia, mọi lĩnh vực, trong đó có Việt Nam

Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa có thể rút ngắn thời gian nếu chúng ta sẵn sàng và chủ động hơn nữa trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang phát triển và lan tỏa vô cùng mạnh mẽ Phát triển những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ tiên tiến, đặc biệt đối với công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều

Trang 7

hơn, ở mức độ cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ; song, từng bước dần tiến hành cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0

Cần phải nắm bắt thời cơ, khẩn trương chuẩn bị mọi điều kiện để phát triển kinh tế, từng bước tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Công nghiệp hóa ở nước ta thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ cơ bản: chuyển từ kinh tế nông nghiệp truyền thống sang kinh tế nông nghiệp công nghệ cao và kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức và công nghiệp 4.0 Hai nhiệm vụ phải phát triển đồng thời, lồng ghép vào nhau, hỗ trợ cho nhau, bổ sung cho nhau Để làm được nhiệm vụ đó, tri thức và công nghệ của thời đại hiện nay phải được áp dụng triệt để, các ngành công nghiệp

và dịch vụ cũng cần đẩy mạnh phát triển

Chủ động hội nhập quốc tế đi cùng với năng lực nội sinh của dân tộc Yếu tố quyết định đối với năng lực nội sinh là văn hóa, giáo dục, khoa học, tức là sức mạnh tinh thần và trí tuệ dân tộc Đặc biệt đổi mới trong tư duy kinh tế để theo kịp sự phát triển của thời đại Phát triển kinh tế lấy hiệu quả làm đầu, sản xuất những thứ đạt hiệu quả cao nhất do có lợi thế so sánh để đổi mới và sẵn sàng thay đổi để hội nhập Phải kết hợp chặt chẽ các yếu tố tài nguyên, con người với tri thức, công nghệ hiện đại để chọn những ngành, những sản phẩm có nhiều lợi thế cạnh tranh đồng thời đem lại hiệu quả cao nhất Công nghiệp hóa là sử dụng tri thức và khoa học, công nghệ mới nhất để hiện đại hóa nền kinh tế, chuyển nền kinh tế từ chất lượng, hiệu quả thấp sang nền kinh tế chất lượng, hiệu quả cao trên cơ sở tiếp cận với công nghiệp 4.0 Và vì vậy, công nghiệp hóa phải đi đôi với hiện đại hóa Công nghiệp hóa ngày nay phải dựa vào tri thức và từng bước thực hiện cuộc cách mạng công nhiệp 4.0

Nhanh chóng phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, hình thành hệ thống mạng xa

lộ thông tin quốc gia, ứng dụng công nghệ thông tin và tự động hóa rộng tất cả các lĩnh vực, phát triển công nghệ thông tin, nhất là công nghệ phần mềm và tự động hóa (trí tuệ nhân tạo) giúp phát triển tất cả các lĩnh vực, dịch chuyển nhanh chóng

cơ cấu kinh tế Công nghệ thông tin là chìa khóa đi vào kinh tế tri thức và công nghiệp 4.0

Tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ mới của thế giới phải chọn lọc và vận dụng phù hợp với hoàn cảnh của nước nhà, nhằm đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất Vì vậy phải có bước đi thích hợp, đi nhanh nhưng thận trọng, vừa có nhảy vọt vừa có tuần tự, cân nhắc kỹ nhảy vọt, phát triển tuần tự, tận dụng công nghệ truyền thống tối ưu, để phát triển chung cả mạng lưới các ngành, hiện đại đồng thời cũng phải đồng bộ, hài hòa nhằm thúc đẩy nhanh quá trình phát triển

1.2.4.2 Thách thức

Trang 8

Một là, đứng trước yêu cầu về sự phát triển, giai cấp công nhân nước ta còn nhiều hạn chế, bất cập Tỷ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo còn thấp, thiếu

nghiêm trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề; tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn rất hạn chế; đa phần công nhân xuất phát từ nông dân, không được đào tạo cơ bản, có hệ thống Theo số liệu thống kê điều tra năm 2019 tỷ trọng lao động có việc làm được đào tạo chuyên môn kĩ thuật chiếm 23,1%, lao động có việc làm nhưng chưa qua đào tạo chiếm 76,9% Đa số lao động có việc làm chưa qua đào tạo tập trung ở khu vực nông thôn Tỷ trọng lao động có việc làm không có chuyên môn kĩ thuật ở khu vực nông thôn (84,4%) cao gấp 1,3 lần ở khu vực thành thị (60,7%)

Hai là, năng suất lao động còn thấp so với khu vực Năng suất lao động của Việt Nam cải thiện, bình quân giai đoạn 2016-2020 tăng 5,8%/năm, cao hơn giai đoạn 2011-2015 (4,3%) và vượt mục tiêu đề ra (5%) Tuy nhiên, mức tăng này chưa đủ nhanh để thu hẹp khoảng cách với các quốc gia khác Năng suất lao động của Việt Nam (2020), theo ước tính của Tổ chức Lao động Quốc tế, thấp hơn 7 lần so với Malaysia; 4 lần so với Trung Quốc; 3 lần so với Thái Lan, 2 lần so với Philippines

và 26 lần so với Singapore Báo cáo 2020 của Tổ chức Năng suất châu Á cũng cho thấy, năng suất lao động Việt Nam tụt hậu so với Nhật Bản 60 năm, so với

Malaysia 40 năm và Thái Lan 10 năm Điều này cho thấy Việt Nam cần phải có nhiều nỗ lực mạnh mẽ hơn nữa trong việc tập trung cải thiện năng suất quốc gia

Ba là, trình độ khoa học công nghệ nước ta đang ở mức trung bình thấp so với thế giới Số lượng nhà chuyên môn kỹ thuật bậc cao, bậc trung chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số lao động, mức độ cải thiện không nhiều qua các năm Tỷ trọng

chuyên môn kỹ thuật bậc cao chiếm khoảng 7,2% lao động (2017) Mặc dù Việt Nam có quy mô nhân lực đông, có sức khoẻ nhưng lại thiếu kỹ năng và năng lực đổi mới sáng tạo Đây là điểm bất lợi của lao động Việt Nam để hội nhập với lao động thế giới Theo đánh giá của WEF (2019), kỹ năng kỹ thuật số của người Việt Nam được đánh giá ở mức điểm 3,8/7 (xếp hạng 97), kỹ năng phản biện trong giảng dạy chỉ ở mức 3 điểm trên thang điểm 7 (xếp hạng 106/141 nền kinh tế) Thị trường khoa học công nghệ 4.0 còn phụ thuộc vào cầu thị trường, tuy nhiên tại Việt Nam, cầu thị trường còn phát triển khá sơ khai do cơ chế thị trường chưa được hoàn thiện, mức độ hội nhập quốc tế của phần lớn doanh nghiệp còn thấp, chưa thực sự đối đầu với cạnh tranh gay gắt nên mức cầu sản phẩm khoa học công nghệ còn thấp

Bốn là, quy mô doanh nghiệp Việt Nam rất nhỏ, số doanh nghiệp vừa , nhỏ và siêu nhỏ chiếm 98% tổng doanh nghiệp cả nước, phần lớn chưa đạt được quy mô tối ưu

để có mức năng suất lao động cao nhất Bên cạnh đó các doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa đủ năng lực cạnh tranh, chưa sẵn sàng tiếp cận công nghệ mới, còn bị động

Trang 9

với các xu thế phát triển hiện hành, chưa sẵn sàng chuyển hướng mô hình tổ chức kinh doanh Trong đó, áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt và áp lực về nguồn lực đầu tư để chuyển đổi, đổi mới sáng tạo, đột phá Sự liên kết của các doanh nghiệp vừa và nhỏ cảu Việt Nam yếu kém, có rất ít mối liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ

và doanh nghiệp có quy mô lớn hơn Theo báo cáo triển vọng phát triển Châu Á của Ngân hàng Phát triển Châu Á, hiện nay mới chỉ có 21% các doanh nghiệp vừa

và nhỏ của Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu so với 30% của Thái Lan và 46% của Malaysia

Năm là, các nước đang cạnh tranh quyết liệt, tìm cách thu hút, hợp tác để có đầu

tư, chuyển giao công nghệ, nhanh chóng ứng dụng những thành tựu công nghệ từ cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư đem lại để giành được lợi thế Đây cũng là một áp lực vô cùng to lớn đối với Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Tóm lại, công nghiệp hóa, hiện đại hóa có khả năng tạo ra những cơ hội thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, giúp chúng ta có thể từng bước phát triển sánh vai với các cường quốc trên thế giới Bên cạnh đó, tiến trình này cũng đặt ra những thách thức

có nguy cơ to lớn dẫn đến hậu quả khó lường Vì vậy, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức là vấn đề đặc biệt coi trọng

PHẦN 2: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA TRONG BỐI CẢNH CÔNG NGHIỆP 4.0

1 1 Dự báo bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế

1.1.1 Bối cảnh kinh tế quốc tế

Kinh tế - xã hội năm 2020 diễn ra trong bối cảnh dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona bùng phát mạnh và có những diễn biến khó lường trên phạm vi toàn cầu đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới Các nền kinh tế lớn đối mặt với tình trạng suy thoái sâu, tồi tệ chưa từng có tiền lệ Tuy nhiên, trong những tháng cuối năm khi phần lớn các nền kinh tế tái khởi động sau phong tỏa, dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới có những dấu hiệu khả quan hơn Thương mại toàn cầu, giá cả hàng hóa dần được phục hồi, thị trường chứng khoán toàn cầu tăng mạnh trong tháng 11 và tháng 12 nhờ tín hiệu tích cực từ sản xuất và hiệu quả của vắc-xin phòng chống Covid-19 Những nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Cộng đồng chung châu Âu vẫn đối mặt với nhiều khó khăn nhưng đã có xu hướng phục hồi trong những tháng cuối năm 2020 và được dự báo tăng trưởng khả quan hơn trong năm 2021

Theo Ngân hàng Thế giới, sau suy thoái trong năm 2020, tăng trưởng kinh tế toàn

Trang 10

cầu dự kiến tăng 4% trong năm 2021 Dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2022 chỉ đạt 3,8% do tác động lâu dài của đại dịch đối với tăng trưởng tiềm năng Kinh tế toàn cầu dự kiến phục hồi mạnh khi niềm tin, tiêu dùng và thương mại được cải thiện nhờ nỗ lực tiêm chủng trên toàn thế giới Cũng theo WB, chỉ số nhà quản trị mua hàng tổng hợp toàn cầu tăng trong 2 tháng đầu năm 2021, đạt 53,2 điểm (2/2021) từ mức 52,3 điểm (1/2021) Những diễn biến tích cực trong việc đối phó với đại dịch giúp cải thiện tâm lý nhà đầu tư Chỉ số niềm tin kinh tế toàn cầu tăng

11 tháng liên tiếp, đạt 20,5 điểm trong tháng 3/2021, mức cao nhất kể từ tháng 3/2018 Quỹ Tiền tệ Quốc tế cho rằng việc thực hiện các chính sách hỗ trợ và triển khai vắc xin sẽ thúc đẩy các hoạt động kinh tế toàn cầu Sau khi tăng trưởng - 3,5% vào năm 2020, nền kinh tế toàn cầu dự kiến sẽ tăng 5,5% vào năm 2021 và 4,2% vào năm 2022

Theo Tổ chức Thương mại Thế giới, thương mại sẽ được phục hồi mạnh mẽ nhưng động lực có thể không kéo dài Thương mại hàng hóa phục hồi mạnh mẽ nhưng triển vọng tăng trưởng thương mại dịch vụ còn khá mong manh Giá cả trên thị trường hàng hóa có xu hướng phục hồi, điều kiện tài chính toàn cầu giúp tăng niềm tin của nhà đầu tư Đã xuất hiện một số dấu hiệu của lạm phát nhưng chưa thực sự

rõ ràng Tại các nền kinh tế mới nổi , lạm phát có thể cao hơn dự kiến nếu đồng nội

tệ giảm giá so với đồng đô la Mỹ Giá hàng hóa cao hơn cũng làm tăng lạm phát các nước nhập khẩu hàng hóa ròng như Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ Dòng vốn vào các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi mất dần động lực, thất nghiệp có xu hướng

tăng

1.1.2 Bối cảnh kinh tế trong nước

Sau những thành tựu đạt được trong 30 năm đổi mới đã làm cho tiềm lực của đất nước ta không ngừng được mở rộng, và đặc biệt trong đó là tiềm lực tài chính quốc gia Quá trình tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới trong mô hình tăng trưởng đã đạt được các kết quả bước đầu, tạo ra một môi trường thuận lợi và tiền đề quan trọng để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ước tính về kinh tế tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân khoảng 7%/năm; GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đến năm 2030 đạt khoảng 7.500 USD3, tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 50%, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt 50%, tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân đã đạt trên 6,5%/năm Về xã hội chỉ số phát triển con người (HDI) duy trì trên 0,74, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40%

1.2 Giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Ngày đăng: 20/08/2022, 19:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình “ Kinh tế chính trị Mác - Lê nin ” – Bộ giáo dục và đào tạo (2019) 2. “ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế chính trị Mác - Lê nin
7. “ Kinh tế Việt Nam 2020: Một năm tăng trưởng đầy bản lĩnh ” - Tổng cục thống kê (01/2021) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam 2020: Một năm tăng trưởng đầy bản lĩnh
8. “ Việt Nam nỗ lực cải thiện năng suất lao động” - Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (28/04/2021) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam nỗ lực cải thiện năng suất lao động
9. “ Tổng quan về Việt Nam” - The World Bank (07/04/2021) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về Việt Nam
10.“ Khoa học và Công nghệ Việt Nam - 60 năm xây dựng và phát triển ” - Báo Nhân dân (29-11-2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và Công nghệ Việt Nam - 60 năm xây dựng và phát triển
11. “ Phát triển thị trường KHCN - khâu yếu của 4.0 tại Việt Nam” - Báo điện tử Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (17/02/2020) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển thị trường KHCN - khâu yếu của 4.0 tại Việt Nam
12. “ Tổng quan tình hình thế giới năm 2021” – Tổng cục thống kê cục thống kê Thành phố Hải Phòng (26/03/2021) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan tình hình thế giới năm 2021

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w