1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG CHI PHÍ kế TOÁN các CHÊNH LỆCH THỰC tế SO với ĐỊNH mức

34 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 881,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG (2)
    • 1.1. Khái niệm biến động (2)
    • 1.2. Các nguyên nhân gây biến động (3)
    • 1.3. Các nguyên tắc điều tra biến động (4)
  • CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG CHI PHÍ (6)
    • 2.1. Biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (6)
      • 2.1.1. Chênh lệch do biến động giá (6)
      • 2.1.2. Chênh lệch do biến động lượng (6)
      • 2.1.3. Tổng mức biến động (7)
      • 2.1.4. Nguyên nhân gây biến động CPNVLTT biến động lượng (7)
    • 2.2. Biến động chi phí nhân công (10)
    • 2.3. Biến động chi phí sản xuất chung (14)
      • 2.3.1. Phân tích biến động biến phí sản xuất chung (14)
      • 2.3.2. Biến động của định phí sản xuất chung (16)
  • CHƯƠNG 3. KẾ TOÁN CÁC CHÊNH LỆCH THỰC TẾ SO VỚI ĐỊNH MỨC 17 3.1. Kế toán chênh lệch nguyên vật liệu trực tiếp (19)
    • 3.1.1. Chênh lệch giá nguyên vật liệu trực tiếp (19)
    • 3.1.2. Chênh lệch lượng nguyên vật liệu (0)
    • 3.2. Kế toán chênh lệch chi phí nhân công trực tiếp (0)
      • 3.2.1. Chênh lệch của giá thành nhân công trực tiếp (0)
      • 3.2.2. Chênh lệch lượng lao động (0)
    • 3.3. Kế toán chênh lệch chi phí sản xuất chung (0)
    • 3.4. Kế toán xử lý chênh lệch giữa chi phí thực tế và chi phí định mức (0)
      • 3.4.1. Kế toán chênh lệch chi phí NVLTT (0)
      • 3.4.2. Kế toán chênh lệch chi phí NCTT (0)
      • 3.4.3. Kế toán chênh lệch chi phí sản xuất chung (0)
      • 3.4.4. Kế toán xử lý các chênh lệch không trọng yếu (0)

Nội dung

Biến động chi phí là sự chênh lệch giữa chi phí thực tế và chi phí định mức, dùng để chỉ các loại chi phí có xu hướng thay đổi cùng với quy mô sản lượng đồng thời là khoản tiền trả cho c

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

Khái niệm biến động

Chi phí định mức là chi phí dự tính cho việc sản xuất một sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ, là chi phí mong muốn liên quan đến một khối lượng hoạt động Chi phí dự toán là chi phí mong muốn liên quan đến một thời kỳ hoạt động.

Biến động chi phí là sự chênh lệch giữa chi phí thực tế và chi phí định mức, dùng để chỉ các loại chi phí có xu hướng thay đổi cùng với quy mô sản lượng đồng thời là khoản tiền trả cho các đầu vào nhân tố biến đổi như nguyên liệu, lao động…

Phần lớn các khoản mục chi phí sản xuất bị biến động là những chi phí khả biến như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung khả biến Tất cả những loại chi phí này đều bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố là giá và lượng.

- Biến động về giá là sự chênh lệch giữa giá đơn vị thực tế với giá đơn vị dự toán nhân với sản lượng sản phẩm, hàng hóa hay dịch vụ thực tế (như sản lượng bán, mua hoặc sử dụng)

- Biến động về lượng là sự chênh lệch giữa khối lượng thực tế và khối lượng dự toán nhân với giá dự toán. Đối với từng khoản mục chi phí mà tên gọi các biến động có thể thay đổi:

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

+ Biến động giá nguyên liệu + Biến động lượng nguyên liệu

- Chi phí nhân công trực tiếp

+ Biến động giá lao động + Biến động năng suất.

- Chi phí sản xuất chung

+ Biến động chi phí + Biến động năng suất

- Biến động chung > 0: Chi phí thực tế lớn hơn chi phí định mức → D

- Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không hiệu quả (biến động bất lợi).

- Biến động chung < 0: Chi phí thực tế nhỏ hơn chi phí định mức → Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn so với định mức đề ra (Biến động hiệu quả)

Các nguyên nhân gây biến động

Bất cứ một doanh nghiệp nào khi tiến hành kinh doanh một loại sản phẩm, hàng hóa hoặc dịch vụ đều đặt ra mục tiêu là tối ưu hóa lợi nhuận Nhưng để đạt được mức lợi nhuận ở ngưỡng tối ưu, điều đó đòi hỏi các nhà quản trị phải tìm ra các phương pháp, cách thức tăng mức doanh thu lên cao nhất đồng thời phải giảm mức chi phí xuống thấp nhất Biến động chi phí là một trong những nhân tố tác động mạnh vào chi phí sản xuất của doanh nghiệp Do đó, việc tìm ra nguyên nhân gây ra biến động chi phí là một việc hết sức quan trọng đối với một doanh nghiệp.

Có nhiều nguyên nhân gây ra biến động chi phí:

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

+ Biến động về giá nguyên liệu: sự thay đổi đơn giá bình quân, chất lượng nguyên vật liệu, phương pháp tính giá nguyên vật liệu xuất kho (Tùy thuộc vào giá cả thị trường đang có xu hướng tăng hay giảm mà các phương pháp bình quân, phương pháp FIFO sẽ cho những kết quả khác nhau về đơn giá nguyên vật liệu).

+ Biến động về lượng nguyên liệu: quản lý nguyên vật liệu không tốt, tay nghề nhân viên sản xuất trực tiếp kém, tình trạng hoạt động của các máy móc, thiết bị không tốt, điều kiện môi trường, tình hình cung cấp nguyên vật liệu hoặc do biện pháp quản lý sản xuất tại phân xưởng kém.

Biếến đ ng chung = T ng chi phí th c tếế - T ng chi phí đ nh m c.ộ ổ ự ổ ị ứ

- Chi phí nhân công trực tiếp

+ Biến động về giá lao động: đơn giá bình quân thay đổi (đơn giá bình quân của các bậc thợ thay đổi, cơ cấu lao động thay đổi tỷ trọng công nhân bậc cao và tỷ trọng công nhân bậc thấp tính trên tổng số giờ lao động được sử dụng), công ty đã sử dụng lãng phí lực lượng lao động hoặc thay đổi cơ cấu lao động không hợp lý.

+ Biến động năng suất: sự thay đổi cơ cấu lao động, năng suất lao động cá biệt của từng bậc thợ, tình trạng hoạt động của máy móc thiết bị, chất lượng của nguyên vật liệu được sử dụng, các biện pháp quản lý sản xuất tại phân xưởng, chính sách trả lương, ưu đãi cho nhân công của công ty,

- Chi phí sản xuất chung (thay đổi theo sự biến thiên của mức độ hoạt động sản xuất của doanh nghiệp)

+ Biến động chi phí: sự biến động giá cả chung của thị trường, nhà nước quy định thay đổi mức lương,…

+ Biến động năng suất: trang thiết bị không phù hợp nên giảm lượng sản xuất hoặc dẫn đến năng suất máy móc thiết bị giảm,…

Các nguyên tắc điều tra biến động

Đầu tiên trước khi đi vào điều tra biến động, ta có thể quan sát và đưa ra các tiêu chí, mục tiêu cụ thể để có thể tiến hành điều tra nguyên do tại sao chi phí lại biến động Kế toán quản trị cần xác định rõ đối tượng là loại chi phí nào cần được đánh giá phân tích điều tra biến động và những chi phí ấy có thể tính toán được mới có thể hiểu được nguyên do gây biến động Sau khi tính toán được các chi phí, kế toán quản trị phải biết so sánh giữa các chi phí với nhau và đưa ra được hướng giải quyết cho các kết quả điều tra này.

Xác định chỉ tiêu cần phân tích: xác định rõ các chỉ tiêu cần phân tích và biểu diễn thông qua các công thức tính toán hoặc các mô hình.

Xác định đối tượng phân tích: các đối tượng kế toán được chú trọng khi xảy ra biến động gần như là các khoản chi phí khả biến như chi phí về NVL, nhân công, …

Hầu hết các loại chi phí này bị chi phối bởi yếu tố lượng và giá.

Xác định chênh lệch chi phí: từ sự chênh lệch giữa các số liệu đã phân tích so với các số liệu thực tế, kế toán quản trị tìm ra nguyên nhân gây ra sự chênh lệch đó.

Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến đối tượng phân tích: trong quá trình tính toán, kế toán quản trị cần phải chỉ ra mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của chi phí theo chiều hướng hiệu quả hay bất lợi, nếu là biến động hiệu quả thì sẽ giữ lại để phát huy thêm, ngược lại sẽ điều chỉnh để giảm thiểu rủi ro và chi phí.

Xác định nguyên nhân cho sự biến động chi phí theo từng nhân tố: cần phải chỉ rõ người có trách nhiệm trong sự biến động này để có thể giải thích nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch của các chi phí này. Đề xuất các giải pháp cho kỳ sau: thông qua việc tính toán, đo lường, kế toán quản trị đề ra các giải pháp thích hợp để quản lý chi phí và khai thác các tiềm năng đã phát hiện trong quá trình phân tích.

Qua việc phân tích biến động chi phí nêu trên, các nhà quản lý từ đó xác định đúng các nguyên nhân gây ra biến động để đưa ra được các biện pháp đúng đắn và kịp thời nhằm đưa ra các giải pháp khắc phục hoặc phát huy các biến động đó theo hướng có lợi nhất cho doanh nghiệp.

PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG CHI PHÍ

Biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường chiếm tỷ trọng lớn trong quá trình sản xuất cho nên việc tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu có ý nghĩa lớn trong việc kiểm soát giá thành sản phẩm.

2.1.1 Chênh lệch do biến động giá:

Quan hệ cung cầu trên thị trường;

Loại hàng, chất lượng, chủng loại nguyên vật liệu;

Công tác quản lý của bộ phận thu mua

Lựa chọn nhà cung ứng

● Giá NVL thực tế < Giá NVL định mức

 Biến động giá là biến động thuận lợi

● Giá NVL thực tế > Giá NVL định mức

 Biến động giá là biến động bất lợi

2.1.2 Chênh lệch do biến động lượng

Biếến đ ng giá nguyến v t li u = (Giá NVL th c tếế - Giá đ nh m c) x M cộ ậ ệ ự ị ứ ứ tếu hao th c tếếự

Biến động mức tiêu hao nguyên vật liệu= (Mức tiêu hao thực tế - Mức tiêu hao định mức) * Đơn giá định mức

Mức tiêu hao NVL thực tế > Mức tiêu hao NVL định mức

Mức tiêu hao NVL thực tế < Mức tiêu hao NVL định mức

2.1.4 Nguyên nhân gây biến động CPNVLTT biến động lượng:

- Quản lý nguyên vật liệu không tốt.

- Tay nghề của công nhân trực tiếp sản xuất kém.

- Tình trạng hoạt động của các máy móc, thiết bị không tốt.

- Các điều kiện khác tại nơi sản xuất như môi trường, tình hình cung cấp nguyên vật liệu không tốt,…

- Các biện pháp quản lý sản xuất tại phân xưởng kém.

- Mức giá và chủng loại nguyên liệu thay đổi nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm.

- Chính sách thuế thay đổi dẫn đến tác động đến chỉ số hàng hóa.

- Nguyên liệu đầu vào không chất lượng làm ảnh hưởng đến chất lượng

Tổng mức biến động = CP NVLTT thực tế - CP NVLTT cho phép phát sinh

= Biến động mức tiêu hao NVL + Biến động giá NVL

- Trong quá trình thu mua nguyên vật liệu, chi phí trung gian bị tăng cao gây tăng giá sản phẩm.

- Lựa chọn nguồn mua không uy tín làm ảnh hưởng đến số nguyên vật liệu mua vào.

⮚ Ví dụ: Tại công ty X có số liệu như sau:

Chi phí sản xuất định mức

Chi phí NVLTT 5kg/sp 7.000đ/kg 35.000đ/sp

Giả sử trong kỳ công ty mua đã mua 12.000kg nguyên liệu với giá bình quân là

7.500 đ/kg và đã sử dụng hết để sản xuất 2.000 sp X.

Với số lượng sản phẩm sản xuất thực tế, lượng nguyên liệu định mức sử dụng là

5kg/sp x 2.000 sp = 10.000 kg Các loại biến động sẽ được tính toán như sau:

- Chi phí tiêu chuẩn = 10.000 x 7.000 = 70.000.000đ Biến động giá = CP TT – CP DM = 90.000.000 – 84.000.00 = 6.000.000đ

 Biến động lượng = CP DM – CP tiêu chuẩn = 84.000.000 – 70.000 000

 Biến động lượng = CP DM – CP tiêu chuẩn = 84.000.000 – 70.000 000

.000.000đ Tổng biến động = 6.000.000 + 14.000.000 = 20.000.000 đ Đơn giá bình quân tăng 500 đ/kg (từ 7.000 đ/kg lên 7.500 đ/kg) tính theo

12.000 kg nguyên liệu sử dụng thực tế đã làm tổng chi phí nguyên liệu trực tiếp tăng 6.000.000đ.

Ngoài ra việc phân tích biến động giá sẽ còn phụ thuộc vào các phương pháp tính giá trị nguyên liệu xuất kho Tuỳ thuộc vào giá cả thị trường đang có xu hướng tăng hay giảm mà các phương pháp bình quân, phương pháp nhập trước xuất trước, phương pháp nhập sau xuất trước sẽ cho những kết quả khác nhau về đơn giá nguyên liệu và tất nhiên có thể ảnh hưởng đến kết quả tính toán.

Theo định mức tiêu hao là 5kg/SP thì với 2.000 SP sản xuất lẽ ra doanh nghiệp chỉ cần sử dụng 10.000 kg nguyên liệu, việc tăng thêm 2.000 kg nguyên liệu này đã làm tổng chi phí nguyên liệu trực tiếp tăng thêm 2.000 kg

(x) 7.000 đ/kg = 14.000.000đ. Đây là một biểu hiện không tốt, có thể do ảnh hưởng của các nguyên nhân:

- Quản lý nguyên vật liệu không tốt.

- Tay nghề của công nhân trực tiếp sản xuất kém.

Lượng thực tế x Giá thực tế: 12.000 x 7.500 =

Lượng thực tế x Giá định mức: 12.000x7.000 = 84.000.000đ

Lượng định mức x Giá định mức: 10.000 x 7.000

- Tình trạng hoạt động của các máy móc, thiết bị không tốt.

- Các điều kiện khác tại nơi sản xuất nhu môi trường, tình hình cung cấp năng lượng,…không tốt.

- Các biện pháp quản lý sản xuất tại phân xưởng kém.

Sự phân tích các biến động nói trên phải được tiến hành càng sớm càng tốt, nhằm phát hiện kịp thời những bất hợp lý để điều chỉnh những biến động này thuộc trách nhiệm của những bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp biến động giá thuộc trách nhiệm của bộ phận cung ứng nhiên liệu, biến động lượng chủ yếu thuộc về bộ phận quản lý sản xuất tại các phân xưởng Tuy nhiên nếu bộ phận cung ứng mua những nguyên liệu có chất lượng thấp với giá rẻ để tiết kiệm chi phí, nhưng gây tình trạng tăng lượng tiêu hao thì trách nhiệm chính về việc giảm hiệu quả sử dụng nguyên liệu sẽ thuộc về bộ phận cung ứng.

Biến động chi phí nhân công

Chi phí nhân công trực tiếp (CP NCTT) là phần giá trị tương xứng với sức lao động mà nhân công đã bỏ ra để thực hiện sản xuất mang lại lợi nhuận cho công ty.

Chi phí nhân công trực tiếp bị ảnh hưởng lớn bởi hai yếu tố chính: Lượng lao động (Là lượng lao động hay thời gian lao động của NCTT) và đơn giá lao động (Là đơn giá lao động hay định mức đơn giá tiền lương cho một giờ lao động trực tiếp).

Nguyên nhân chênh lệch NCTT và ảnh hưởng:

- Chuyên môn của công nhân;

- Sự linh hoạt của máy móc, tốc độ xử lý công việc của máy móc;

- Cách thức, yêu cầu khi quản lý công nhân của bộ phận quản lý

- Trình độ, tay nghề công nhân;

- Năng suất làm việc của công nhân;

- Sự thay đổi về cơ cấu lao động;

- Chính sách trả lương cho công nhân Ảnh hưởng của mức chênh lệch:

- Chi phí thực tế > Chi phí định mức: Biến động bất lợi

Tổng số giờ ĐM (x) ĐG DM

Chênh lệch do biến động giá

Chênh lệch do biến động năng suất

- Chi phí thực tế < Chi phí định mức : Biến động thuận lợi Đơn giá lao động của một chính sách trả lương của công ty tăng hay giảm phản ánh mức ảnh hưởng đến lợi nhuận công ty là thuận lợi hay bất lợi, nó thể hiện tầm nhìn của nhà quản lí sẽ mang lại lợi ích cho đơn vị hay làm lãng phí nguồn lực, tài sản của đơn vị.

Biến động giá thuận lợi có nghĩa là CP TT < CP DM, do chi phí doanh nghiệp bỏ ra thấp hơn so với đối thủ nhưng chất lượng là như nhau Thúc đẩy

LN của đơn vị, mang hình ảnh của đơn vị đến gần hơn với người tiêu dùng vì

SP chất lượng mà giá lại hợp lý, và ngược lại.

Biến động lượng thuận lợi có nghĩa là SLLĐ thực tế < SLLĐ định mức, đơn vị thực hiện tốt công tác phân bổ nhân công, tiết kiệm CPNC Thực hiện tốt chính sách QLDN, nâng cao uy tín, hình ảnh của đơn vị trên thị trường và ngược lại.

Các biến động bất lợi có thể xảy ra khi bố trí vị trí công việc không phù hợp với năng lực của nhân công, thời gian máy móc thực hiện quá chậm mà số lượng nhân công đông gây lãng phí Mặt khác, công ty đánh giá chỉ dựa trên số giờ làm việc mà không kể đến năng xuất thực hiện công việc của nhân công, nếu quản lý không thực hiện kiểm tra thì sẽ gây lãng phí nếu nhân công không làm việc nghiêm túc, mất thời gian.

Bên cạnh đó, biến động thuận lợi giúp doanh nghiệp có thể giảm giá thành sản phẩm trên thị trường do chi phí doanh nghiệp bỏ ra thấp hơn so với đối thủ nhưng chất lượng là như nhau Thúc đẩy lợi nhuận của đơn vị, mang hình ảnh của đơn vị đến gần hơn với người tiêu dùng vì giá thành hợp lý, chất lượng tốt.

⮚ Ví dụ: Tại công ty SX cơ sở vật chất y tế Bạch Tuyết có lượng sản xuất định mức là 2 giờ/sp với giá định mức là 15.000đ/giờ Thực tế, trong kỳ công ty đã sản xuất được 1500 sản phẩm, tổng thời gian được sử dụng là 3500 giờ lao động, chi phí nhân công trực tiếp là 54.250.000đ.

Giải: (Liên quan đến VD trước, SP thực tế ra 2.000SP) Đơn giá tiền lương bình quân thực tế: 54.250.000/3.500 = 15.500đ

Tổng số giờ định mức cho 2.000 sản phẩm thực tế: 2 x 2.000 = 4.000 giờ Đơn giá tiền lương bình quân thực tế tăng 500đ so với đơn giá dự toán (từ

15.000 lên 15.500), do đó hiệu số trên mang giá trị dương và làm giá nhân công trực tiếp tăng 1.750.000đ so với dự toán ban đầu Đơn giá tiền lương bình quân tăng do nhiều nguyên nhân, có thể tổng thành 2 nguyên nhân: Do đơn giá tiền lương của các bậc thợ tăng lên; Do sự thay đổi về cơ cấu lao động Tiền lương bình quân tăng lên khi cơ cấu lao động thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng công nhân bậc cao và giảm tỷ trọng công nhân bậc thấp tính trên tổng số giờ lao động được sử dụng Tuy nhiên không phải bất kỳ lúc nào hay công việc nào, công nhân bậc cao đều có hiệu quả làm việc tốt hơn công nhân bậc thấp Những công việc khác nhau sẽ phù hợp với từng bậc thợ khác nhau Việc tăng đơn giá tiền lương bình quân có thể đánh giá tốt, nếu đó là nguyên nhân trực tiếp làm tăng năng suất lao động bình quân, chứng tỏ rằng sự thay đổi cơ cấu lao động là hợp lý Ngược lại, nếu năng suất lao động giảm, không tăng hay tăng với tốc độ thấp hơn tốc độ tăng đơn giá tiền lương bình quân thì có thể đánh giá là công ty đã sử dụng lãng phí lực lượng lao động của minh do thay đổi cơ cấu lao động không hợp lý.

Năng suất lao động của công nhân sản xuất đã tăng lên, vì để sản xuất

2.000 sản phẩm lẽ ra theo định mức cần sử dụng 4.000h lao động trực tiếp, nhưng thực tế công ty chỉ sử dụng 3.500h Việc giảm 500h lao động này đã giúp công ty tiết kiệm được 7.500.000 đồng chi phí nhân công trực tiếp Vì vậy nếu chất lượng sản phẩm không giảm, có thể xem đây là một ưu điểm lớn trong việc sử dụng lao động.

Biến động chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung là một loại chi phí khá phức tạp trong lập dự toán và phân tích.

Chi phí SXC sử dụng phương pháp phân tích bốn biến động Theo phương pháp phân tích này, bốn biến động chi phí sản xuất chung bao gồm:

- Hai biến động của biến phí sản xuất chung: Biến động chi tiêu và biến động năng suất.

- Hai biến động của định phí sản xuất chung: Biến động dự toán và biến động khối lượng sản xuất.

2.3.1 Phân tích biến động biến phí sản xuất chung:

Biến động chi tiêu: Giá cả thực tế tăng lên so với giá định mức trong dự toán linh hoạt: Sự lãng phí hoặc sử dụng vượt quá định mức của chi phí sản xuất chung.

Biến động năng suất: Tình trạng máy móc; tình hình cung cấp NVL; tình trạng lao động của công nhân…

⮚ Ví dụ minh họa: Công ty Bạch Tuyết đã sử dụng thực tế 12.500 giờ máy để sản xuất được 10.000 SP và biến phí SXC thực tế được ghi nhận là: Chi phí nhân công phụ 10.000.000 đồng, chi phí dầu nhớt 6.250.000 đồng, chi phí nguyên vật liệu phụ 3.000.000 (số giờ định mức theo số lượng sản phẩm thực tế là 11.000 giờ) Đơn giá phân bổ biến phí SXC ước tính như sau: chi phí NVL phụ là 650 đồng/giờ máy; chi phí nhân công phụ là 300 đồng/giờ máy và chi phí dầu nhớt là 250 đồng/giờ máy.

Phân tích ví dụ: Đơn giá phân bổ biến phí sản xuất chung thực tế:

Biến động đơn giá phân bổ:

Số giờ định mức x Đơn giá phân bổ biến phí sản xuất chung ước tính = 11.000 x

Số giờ máy thực tế x Đơn giá phân bổ biến phí sản xuất chung ước tính = 12.500 x 1200 = 15.000.000đ

Số giờ máy thực tế x Đơn giá phân bổ biến phí sản xuất chung thực tế = 12.500 x

BIẾN PHÍ SXC DỰ TOÁN + ĐỊNH PHÍ SXC DỰ TOÁN

CHÊNH LỆCH DO BIẾN ĐỘNG GIÁ, DỰ TOÁN (Kiểm soát được)

CHÊNH LỆCH DO BIẾN ĐỘNG LƯỢNG, CÔNG SUẤT(Không kiểm soát được)

BỘ PHẬN NGOÀI SẢN XUẤT

Sơ đồ phân tích biến động CPSXC

2.3.2 Biến động của định phí sản xuất chung Định phí là những chi phí không thay đổi theo mức độ hoạt động Điều này dẫn đến một sự khác biệt cơ bản so với biến phí là: đối với biến phí thì biến phí đơn vị sẽ không thay đổi khi mức hoạt động thay đổi, trong khi định phí đơn vị sẽ thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi (trong phạm vi phù hợp) Vì vậy, đối với định phí sản xuất chung cần phải có một phương pháp tiếp cận khác hơn so với phương pháp phân tích biến động biến phí sản xuất chung Định phí sản xuất chung bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố sau đây:

Biến động kế hoạch: Biến động kế hoạch phản ánh chênh lệch giữa định phí SXC thực tế với định phí SXC dự toán Được sử dụng để đánh giá thành quả kiểm soát định phí SXC

Biến động khối lượng: Biến động khối lượng sản xuất là biến động giữa định phí

SXC dự toán so với định phí SXC định mức Phát sinh do khối lượng sản xuất thực tế khác với khối lượng sản xuất ở dự toán

- Thể hiện doanh thu và chi phí dự kiến xảy ra tại mức độ hoạt động thực tế

- Có thể lập cho bất kỳ mức độ hoạt động nào trong phạm vi phù hợp

- Chỉ ra những biến động nào là do kiểm soát tốt chi phí, thiếu kiểm soát chi phí

- Hoàn thiện việc đánh giá hoạt động.

⮚ Ví dụ: Công ty A có kế hoạch sản xuất 1000 sản phẩm E trong tháng 3/202X

Giờ công định mức là 5 giờ và định mức sản xuất chung dự toán là 30.000 giờ.

Vì thế định phí định mức cho sản phẩm Z là 5.000 x 4.000 = 20.000 đ/sp.

Trong tháng 3 định phí sản xuất chung là 20.500.000đ, sản lượng sản xuất là 1.200 sản phẩm

Yêu cầu: Tính tổng biến động định phí sản xuất chung

Tính tổng biến động chi tiêu (biến động kế hoạch )

Tính biến động hiệu suất (biến động khối lượng)

Tổng biến động định phí sản xuất chung (F) = Định phí sản xuất thực tế - Định phí định mức phân bổ theo sản lượng thực tế = 20.500.000 – 20.000 x 1.200 = - 3.500.000

 Biến động chi tiêu: Chi phí tăng, doanh nghiệp không có lợi

 Biến động hiệu suất : Chi phí giảm, doanh nghiệp có lợi.

KẾ TOÁN CÁC CHÊNH LỆCH THỰC TẾ SO VỚI ĐỊNH MỨC 17 3.1 Kế toán chênh lệch nguyên vật liệu trực tiếp

Chênh lệch giá nguyên vật liệu trực tiếp

● Kế toán nhập kho nguyên vật liệu:

- Khoản biến động tốt( Gtt < Gđm): Khi đó, kế toán sẽ định khoản:

Nợ TK 152- Nguyên vật liệu Ltt*Gđm

Có TK 152- Chênh lệch Chênh lệch giá nguyên vật liệu

- Khoản biến động không tốt( Gtt > Gđm): khi đó, kế toán sẽ định khoản:

Nợ TK 152- Nguyên vật liệu Ltt*Gđm

Nợ TK 152- Chênh lệch Chênh lệch giá nguyên vật liệu

● Kế toán xuất kho nguyên vật liệu:

Nợ TK 621- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Có TK 152- Nguyên vật liệu

⮚ Ví dụ : Tại công ty chế biến gỗ Trường Thành trong tháng 5/2021 có tài liệu như sau:

1 Ngày 9: Mua và nhập kho 10m3 gỗ, chưa trả tiền người bán, đơn giá mua ghi trên hóa đơn là 2.000.000 đ/m3 Theo công ty, loại gỗ này phải thực hiện theo giá mua định mức là 1.800.000 đ/m3

2 Ngày 18: Xuất kho 8m3 gỗ dùng để SX ghế Theo định mức để SX 1 cái ghế cần 0,15 m3 gỗ.

Ta thấy: Giá mua thực tế = 2.000.000đ/m3 > giá định mức = 1.800.000đ/m3

=> Đây là trường hợp biến động giá không tốt.

Kế toán tiến hành định khoản:

Có TK 331 20.000.000 ( 2.000.000*10) Đơn giá tiền lương bình quân thực tế: 54.250.000/3.500 = 15.500đ

Tổng số giờ định mức cho 2.000 sản phẩm thực tế: 2 x 2.000 = 4.000 giờ Đơn giá tiền lương bình quân thực tế tăng 500đ so với đơn giá dự toán (từ 15.000 lên 15.500), do đó hiệu số trên mang giá trị dương và làm giá nhân công trực tiếp tăng 1.750.000đ so với dự toán ban đầu Đơn giá tiền lương bình quân tăng do nhiều nguyên nhân, có thể tổng thành 2 nguyên nhân: Do đơn giá tiền lương của các bậc thợ tăng lên; Do sự thay đổi về cơ cấu lao động Tiền lương bình quân tăng lên khi cơ cấu lao động thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng công nhân bậc cao và giảm tỷ trọng công nhân bậc thấp tính trên tổng số giờ lao động được sử dụng Tuy nhiên không phải bất kỳ lúc nào hay công việc nào, công nhân bậc cao đều có hiệu quả làm việc tốt hơn công nhân bậc thấp Những công việc khác nhau sẽ phù hợp với từng bậc thợ khác nhau Việc tăng đơn giá tiền lương bình quân có thể đánh giá tốt, nếu đó là nguyên nhân trực tiếp làm tăng năng suất lao động bình quân, chứng tỏ rằng sự thay đổi cơ cấu lao động là hợp lý Ngược lại, nếu năng suất lao động giảm, không tăng hay tăng với tốc độ thấp hơn tốc độ tăng đơn giá tiền lương bình quân thì có thể đánh giá là công ty đã sử dụng lãng phí lực lượng lao động của minh do thay đổi cơ cấu lao động không hợp lý.

Năng suất lao động của công nhân sản xuất đã tăng lên, vì để sản xuất

2.000 sản phẩm lẽ ra theo định mức cần sử dụng 4.000h lao động trực tiếp, nhưng thực tế công ty chỉ sử dụng 3.500h Việc giảm 500h lao động này đã giúp công ty tiết kiệm được 7.500.000 đồng chi phí nhân công trực tiếp Vì vậy nếu chất lượng sản phẩm không giảm, có thể xem đây là một ưu điểm lớn trong việc sử dụng lao động.

2.3 Biến động chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung là một loại chi phí khá phức tạp trong lập dự toán và phân tích.

Chi phí SXC sử dụng phương pháp phân tích bốn biến động Theo phương pháp phân tích này, bốn biến động chi phí sản xuất chung bao gồm:

- Hai biến động của biến phí sản xuất chung: Biến động chi tiêu và biến động năng suất.

Biến động chi tiêu: Giá cả thực tế tăng lên so với giá định mức trong dự toán linh hoạt: Sự lãng phí hoặc sử dụng vượt quá định mức của chi phí sản xuất chung.

Biến động năng suất: Tình trạng máy móc; tình hình cung cấp NVL; tình trạng lao động của công nhân…

⮚ Ví dụ minh họa: Công ty Bạch Tuyết đã sử dụng thực tế 12.500 giờ máy để sản xuất được 10.000 SP và biến phí SXC thực tế được ghi nhận là: Chi phí nhân công phụ 10.000.000 đồng, chi phí dầu nhớt 6.250.000 đồng, chi phí nguyên vật liệu phụ 3.000.000 (số giờ định mức theo số lượng sản phẩm thực tế là 11.000 giờ) Đơn giá phân bổ biến phí SXC ước tính như sau: chi phí NVL phụ là 650 đồng/giờ máy; chi phí nhân công phụ là 300 đồng/giờ máy và chi phí dầu nhớt là 250 đồng/giờ máy.

Phân tích ví dụ: Đơn giá phân bổ biến phí sản xuất chung thực tế:

Biến động đơn giá phân bổ:

Số giờ định mức x Đơn giá phân bổ biến phí sản xuất chung ước tính = 11.000 x

Số giờ máy thực tế x Đơn giá phân bổ biến phí sản xuất chung ước tính 12.500 x 1200 15.000.000đ

Số giờ máy thực tế x Đơn giá phân bổ biến phí sản xuất chung thực tế = 12.500 x

BIẾN PHÍ SXC DỰ TOÁN + ĐỊNH PHÍ

2.3.2 Biến động của định phí sản xuất chung Định phí là những chi phí không thay đổi theo mức độ hoạt động Điều này dẫn đến một sự khác biệt cơ bản so với biến phí là: đối với biến phí thì biến phí đơn vị sẽ không thay đổi khi mức hoạt động thay đổi, trong khi định phí đơn vị sẽ thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi (trong phạm vi phù hợp) Vì vậy, đối với định phí sản xuất chung cần phải có một phương pháp tiếp cận khác hơn so với phương pháp phân tích biến động biến phí sản xuất chung Định phí sản xuất chung bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố sau đây:

Biến động kế hoạch: Biến động kế hoạch phản ánh chênh lệch giữa định phí SXC thực tế với định phí SXC dự toán Được sử dụng để đánh giá thành quả kiểm soát định phí SXC

Biến động khối lượng: Biến động khối lượng sản xuất là biến động giữa định phí SXC dự toán so với định phí SXC định mức Phát sinh do khối lượng sản xuất thực tế khác với khối lượng sản xuất ở dự toán

- Thể hiện doanh thu và chi phí dự kiến xảy ra tại mức độ hoạt động thực tế

- Có thể lập cho bất kỳ mức độ hoạt động nào trong phạm vi phù hợp

- Chỉ ra những biến động nào là do kiểm soát tốt chi phí, thiếu kiểm soát chi phí

- Hoàn thiện việc đánh giá hoạt động.

⮚ Ví dụ: Công ty A có kế hoạch sản xuất 1000 sản phẩm E trong tháng 3/202X

Giờ công định mức là 5 giờ và định mức sản xuất chung dự toán là 30.000 giờ.

Vì thế định phí định mức cho sản phẩm Z là 5.000 x 4.000 = 20.000 đ/sp Trong tháng 3 định phí sản xuất chung là 20.500.000đ, sản lượng sản xuất là 1.200 sản phẩm

Yêu cầu: Tính tổng biến động định phí sản xuất chung

Tính tổng biến động chi tiêu (biến động kế hoạch )

Tính biến động hiệu suất (biến động khối lượng)

Tổng biến động định phí sản xuất chung (F) = Định phí sản xuất thực tế - Định phí định mức phân bổ theo sản lượng thực tế = 20.500.000 – 20.000 x 1.200 = - 3.500.000 Biến động chi tiêu = 20.500.000 – 20.000 x 1000 = 500.000

 Biến động chi tiêu: Chi phí tăng, doanh nghiệp không có lợi

 Biến động hiệu suất : Chi phí giảm, doanh nghiệp có lợi.

CHƯƠNG 3 KẾ TOÁN CÁC CHÊNH LỆCH THỰC TẾ SO VỚI ĐỊNH MỨC

3.1 Kế toán chênh lệch nguyên vật liệu trực tiếp

Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phản ánh số lượng và giá trị nguyên vật liệu xuất kho sử dụng thực tế theo giá mua định mức Khoản chi phí chênh lệch do chênh lệch giữa lượng nguyên vật liệu sử dụng thực tế và lượng nguyên vật liệu định mức sẽ được phản ánh vào tài khoản chênh lệch. Đến cuối kì, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp sẽ được kết chuyển sang tài khoản chi phí sản xuất kinh doanh dở dang theo chi phí định mức.

3.1.1 Chênh lệch giá nguyên vật liệu trực tiếp

Có TK 152- Chênh lệch Chênh lệch giá nguyên vật liệu

Ngày đăng: 10/08/2022, 10:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w