1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khủng hoảng tài chính là gì

26 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Các tổ chức giám sát tài chính quốc gia cũng giảm sút I.3 Các loại khủng hoảng tài chính Khủng hoảng tài chính gồm các loại tiêu biểu như sau:  Khủng hoảng tiền tệ  Khủng hoảng ngân

Trang 1

I Khái niệm

1 Khủng hoảng tài chính là gì?

I.1 Khái niệm

Khủng hoảng tài chính (tiếng Anh: Financial crisis) có thể hiểu là sự mất khả năng thanh khoản

của các tập đoàn tài chính, dẫn tới sự sụp đổ và phá sản dây chuyền trong hệ thống tài chính.

Khủng hoảng tài chính xuất hiện khi thị trường tài chính sụp đổ nguyên nhân bởi sự lựa chọn đốinghịch và rủi ro đạo đức trở nên gay gắt trên các thị trường tài chính, làm cho các thị trường nàykhông còn khả năng luân chuyển vốn hiệu quả từ những người tiết kiệm đến những nhà đầu tưtiềm năng Kết quả là nền kinh tế suy thoái

I.2 Các yếu tố dẫn đến khủng hoảng tài chính:

 Ngân hàng thương mại không được hoàn trả tiền ký quỹ

 Chính phủ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái một cách cố định

 Một số lý do dẫn đến việc không có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán là do vấn

đề thanh khoản, khả năng chi trả đã được giải quyết hoặc cố tình chiếm dụng vốn, vì điềunày có thể có lợi ở một số khía cạnh

 Không có khả năng thanh toán là do phá sản, kinh doanh thua lỗ và các vấn đề chi tiêucông Bản thân Chính phủ cũng đang gặp khó khăn trong việc tìm nguồn tài chính trongđiều kiện khó thanh toán do kỳ vọng thuận lợi, mặc dù trong điều kiện bình thường nềnkinh tế hoàn toàn có thể thanh toán được Không có khả năng thanh toán thường bị xiềngxích Vì vậy cuộc khủng hoảng tài chính là không mong muốn

 Khách hàng vay vốn ngân hàng, bao gồm cả những khách hàng tiềm năng, không thể trả

nợ đầy đủ

 Chính phủ không tiếp tục áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định

 Tình hình tài chính đã được tự do hóa

 Hệ thống ngân hàng quốc gia suy yếu và suy thoái

 Các tổ chức giám sát tài chính quốc gia cũng giảm sút

I.3 Các loại khủng hoảng tài chính

Khủng hoảng tài chính gồm các loại tiêu biểu như sau:

 Khủng hoảng tiền tệ

 Khủng hoảng ngân hàng

 Khủng hoảng đầu cơ

Trang 2

 Khủng hoảng nợ nần

II Khủng hoảng tài chính 2008

1 Bối cảnh trước khủng hoảng

Cuộc khủng hoảng tài chính ở Hoa Kỳ năm 2008 là một cuộc khủng hoảng lớn nhất kể từ cuộcđại suy thoái cũng tại Hoa Kỳ từ năm 1929 - 1930 Có thể nói cuộc khủng hoảng đã âm ỷ từnhững năm 2000 với cuộc khủng hoảng Dot-com và vụ khủng bố 11/9/2001, làm cho nền kinh tếHoa kì suy yếu Cuộc khủng hoảng đã có mầm mống từ nhiều năm về trước, cụ thể như sau:

Bong bóng Dot-com 2000

Thời điểm chuyển giao giữa thiên niên kỷ cũ với thiên niên kỷ mới, lúc mạng internet phát triểnmạnh, tất cả những công ty có dính líu tới internet đều rất phát triển, hầu hết xu hướng của mọicông ty đều muốn sở hữu một công ty liên quan đến internet

Năm 1995, Microsoft giới thiệu hệ điều hành Window 95 với nhiều cải tiến mang tính đột phá socác phiên bản trước

Ngày 09/08/1995, công ty Netscape thực hiện phát hành cổ phiếu ra lần đầu, ngay trong ngàyhôm đó, giá cổ phiếu của Netscape đã tăng từ 28 lên 71 USD Hiện tượng này đã kéo theo hàngloạt các công ty máy tính phát hành cổ phiếu và niêm yết trên thị trường chứng khoán

Người dân đổ xô đi mua cổ phiếu của những công ty có com, dotcom mua rất nhiều Cơn sốtđầu tư vào các cổ phiếu của ngành công nghệ thông tin kéo dài từ năm 1995-2000 làm cho chứngkhoán tăng điểm mạnh Cho dù các công ty hoạt động không có lãi nhưng giá cổ phiếu vẫn tăngmạnh không còn phản ánh đúng giá trị thực của công ty Bong bóng chứng khoán xuất hiện,bong bóng lớn và vỡ năm 2000 dẫn tới việc hàng loạt công ty công nghệ thông tin bị phá sản, mởđầu thời kì suy thoái kinh tế đầu thập niên 2000 của Hoa kỳ

Trang 3

Chỉ số tổng hợp NASDAQ trong thời kỳ bong bóng Dot – com

Ngày 11/9 2001/ , Hai chiếc máy thuộc 2 chuyến bay của American Airlines United UnitedAirlines đã đâm vào Tòa Tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới New York

àSau khi bị mất quá nhiều tiền ở cuộc khủng hoảng dotcom, người dân có tâm lý lo lắng, hoangmang không biết nên đầu tư vào đâu nữa Và nhà nước đã ra mặt cứu trợ bằng cách bơm tiền chongười dân thông qua việc đưa tiền cho các ngân hàng và giảm lãi suất cho vay xuống để ngườidân vay nhiều -> kích cầu

 Bong bóng nhà đất 2001-2006.

Năm 2001- 2004, FED thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng nhằm cứu nền kinh tế thoát khỏi suythoái, sử dụng biện pháp hỗ trợ đầu tư và kích thích tiêu dùng Cụ thể là việc giảm lãi xuất từ6,25% năm 2001 xuống còn 1,75% năm 2003 và duy trì ở mức 1% giữa năm 2003 tới giữa năm

2004 Điều này là động lực cho sự phát triển của khu vực bất động sản và ngành xây dựng Ngânhàng dễ dàng cung cấp tín dụng cho khách hàng, hệ quả là việc đi vay ồ ạt nhằm mục đích đầu

cơ dẫn tới hình thành bong bóng nhà ở Giá cả ở các bang Arizona, California, Florida, Hawaii…tăng lên trên 25% một năm Sự bùng nổ nhà đất ở Mĩ bắt đầu

Năm 2005: có tới 28% số nhà được mua là để nhằm mục đích đầu cơ và 12% mua chỉ để không.Năm này, bong bóng nhà ở phát triển đến mức cực đại và bùng nổ Từ quý IV đến quý I năm

2006, giá trị trung vị của giá nhà giảm 3,3% Khi đó tổng giá trị tích lũy các khoản tín dụng nhà

Trang 4

ở lên 600 tỷ USD Nhiều người vay tiền không có khả năng trả nợ dẫn tới bị tịch biên nhà thếchấp Giá nhà xuống khiến cho tài sản tịch biên không bù đắp được các khoản ngân hàng chovay, nhiều ngân hàng rơi vào khó khăn.

Năm 2006: thị trường BĐS tiếp tục suy giảm Giá giảm mạnh dẫn tới 1 lượng nhà dư thừa đáng

kể Chỉ số xây dựng nhà ở tại Mỹ hồi giữa tháng 8 giảm 40% so năm trước

Doanh số bán nhà tại Mỹ từ năm 1987 – 2008

→ trước 2005, do Nhà nước giảm lãi suất để hỗ trợ, thì người dân mua nhà nhiều, và có xuhướng đầu cơ→ quá mức nên vỡ bong bóng→ nhà đất bị dư thừa, không ai mua nữa →nên sau

2005 lượng nhà bán bị sụt giảm

Tóm lại: Những vấn đề này đã tồn tại thị trường bất động sản và ngân hàng trong nhiều nămtrước khi bùng nổ, tạo hiệu ứng domino lên hoạt động của toàn nền kinh tế

2 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng

II.1 Nguyên nhân trực tiếp

Thứ nhất, tình trạng kinh doanh thua lỗ và sự sụp đổ hàng loạt các tổ chức tài chính hàng đầu.

- Kinh tế khó khăn, giá bất động sản giảm mạnh, người đi vay đã không có khả năng trảđược nợ lại cũng rất khó bán bất động sản để trả nợ Như vậy, các tổ chức tín dụng chovay phải đối mặt với nguy cơ mất vốn Các tổ chức tài chính kinh doanh thua lỗ

- MBS (Mortgage – backed securities) các loại chứng khoán phái sinh bất động sản Cáchợp đồng cho vay bất động sản dùng để bảo đảm cho MBS là nợ khó đòi MBS mất giátrên thị trường các nhà đầu tư nắm giữ chứng khoán này bị thua lỗ, dần rơi vào khókhăn về tính thanh khoản Do các nhà đầu tư qua lại nên dẫn đến sụy đổ hệ thống

- Tổ chức tài chính và Công ty bảo hiểm phải hoàn trả tiền bảo hiểm theo các hợp đồngbảo hiểm tiền gửi và tiền vay (CDS) do các tổ chức tài chính và bảo hiểm này bán ra

Trang 5

Theo ước tính Mỹ có khoảng 35000 tỷ USD và toàn thế giới là khoảng 54600 tỷ USD(CDS) Tập đoàn tài chính hàng đầu thế giới AIG bị đổ vỡ, một phần là do đầu tư vàoMBS và phần lớn là các hợp đồng CDS

Thứ hai, sự khủng hoảng niềm tin của người dân

- Chính sách kinh tế giải cứu tài chính không được Hạ Viện thông qua

- Chính sách điều tiết kinh tế thì không phù hợp và không theo kịp thị trường

- Giải pháp tức thời không hiệu quả

Thứ ba, lòng tham thị trường

- Các nhà đầu tư tập trung chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận đã không dừng lại ở việc sáng tạo

ra nhiều công cụ tài chính mới, mà không cần biết mức độ rủi ro như thế nào và các sảnphẩm này có phù hợp với nhu cầu của người dân hay không

- Từ những rủi ro và không quản lý chặt chẽ, chỉ chạy theo lợi nhuận Đã dẫn đến bùng nổquả bóng đã căng hơi từ lâu

II.2 Nguyên nhân sâu xa

- Chính sách chung của Chính phủ bấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo

và các nhóm dân da màu được vay tiền dễ dàng hơn để mua nhà Việc này phần lớn đượcthực hiện qua hai công ty được bảo trợ bởi chính phủ là Fannie Mae và Freddie Mac Đã

đổ vốn vào thị trường bất động sản bằng cách mua lại các khoản cho vay của các ngânhàng thương mại, biến chúng thành các loại chứng từ được đảm bảo bằng các khoản vaythế chấp (MBS), rồi bán lại cho các nhà đầu tư ở Phố Wall, đặc biệt là các ngân hàng đầu

tư khổng lồ như Bear Steams và Merrill Lynch

- Hủy bỏ đạo luật Glass-Steagall Mục tiêu của Đạo luật Glass-Steagall là "để cung cấp choviệc sử dụng tài sản của các ngân hàng một cách an toàn và hiệu quả hơn, điều chỉnh

Trang 6

kiểm soát liên ngân hàng và ngăn chặn việc chuyển các quỹ không hợp lý sang đầu cơhoạt động

Làm cho doanh số đất bán ra rất nhiều

Thứ hai, Chứng khoán hóa các khoản tín dụng bất động sản

- Những hoạt động chứng khoán hóa lại được che đậy qua các hoạt động đầu cơ của cácquỹ đầu tư nắm giữ tới gần 3000 tỷ đô la giá trị tài sản nhưng không phải công bố tài sảnvới công chúng và gần như không chịu sự giám sát của bất kì một cơ quan nhà nước nào

- Giá cổ phiếu xa rời giá trị thực

Thứ 3, Sự tự do trong điều hành kinh tế

- Không đánh giá chính xác thị trường

- Quản lý lỏng lẻo

- Nới lỏng điều kiện vay vốn

- Cho vay dưới chuẩn

Nợ dưới chuẩn là hình thức cho vay rất phổ biến, đặc biệt tại Hoa Kỳ Những đối tượng đi vay

thường có mức tín nhiệm thấp, không có công ăn việc làm ổn định, vị thế xã hội thấp hoặc có lịch sử thanh toán tín dụng không tốt trong quá khứ Cho vay thế chấp nhà đất dưới tiêu chuẩn

là một trong những loại hình thuộc lĩnh vực cho vay dưới tiêu chuẩn”.

3 Diễn biến

Bong bóng bất động sản càng lúc càng phình to đã đặt thị trường nhà đất và tiếp đó là tín dụngtại Mỹ và nhiều quốc gia Châu Âu vào thế nguy hiểm Cho vay dưới chuẩn tăng mạnh là khởiđiểm tăng mạnh là khởi điểm cho quả bóng bóng tại thị trường nhà đất, các ngân hàng cho vaycầm cố bất động sản mà không quan tâm đến khả năng chi trả của khách, từ dư nợ 160 tỷ USDcủa năm 2001 lên 540 tỷ USD vào năm 2004 và bùng nổ 1300 USD vào 2007, theo ước tính vàocuối quý III năm 2008, hơn 1 nửa giá trị thị trường nhà đất Mỹ là tiền đi vay với 1/8 các khoảnnày là nợ khó đòi Trước đó, để đối phó với lạm phát, FED đã liên tiếp tăng lãi suất từ 1% vàogiữa năm 2004 lên 5,25% vào giữa năm 2006 khiến cho lãi vay phải trả trở thành áp lực lớn đốivới người mua nhà Thị trường bất động sản thời điểm này bắt đầu có dấu hiệu sụt giảm Trướctình hình trên, các ngân hàng, công ty bảo hiểm, tổ chức tài chính đã mua lại các hợp đồng thếchấp và biến chúng thành tài sản đảm bảo, được phát hành trái phiếu trên thị trường Khôngdừng lại ở đó, nhiều công ty bảo hiểm còn sẵn sàng bảo lãnh cho những hợp đồng hám lợi này.Chiến lược trên được đưa ra với mục đích giảm rủi ro cho những khoản vay bất động sản Tuy

Trang 7

nhiên, trái lại, nó tạo ra nhiều hiệu ứng sụp đổ dây chuyền và khiến cho rủi ro bị đẩy lên cao hơn.Những bất ổn từ hoạt động cho vay dưới chuẩn khiến giá nhà đất sụt giảm, thị trường nhà đấtđóng băng, cuộc khủng hoảng bất động sản lan sang thị trường tín dụng và cuối cùng dẫn đếnkhủng hoảng tài chính tại Mỹ

3.1 Đối với Hoa Kỳ

- Ngày 16/03/2008, Bear Stearm bị mua lại bới ngân hàng JP Morgan Chase với giá 2 USD/cổ

phiếu, thấp hơn 10 lần giá cổ phiếu giao dịch trên thị trường trước thời điểm mua Do sự sụtgiảm không kiểm soát được của các khoản đầu tư tài chính- bất động sản

- Ngày 11/7/2008, Indy Mac – ngân hàng cho vay địa ốc hàng đầu đã bị Ủy ban giám sát tiết

kiệm của nước này (OTS) đóng cửa và chuyển giao lại cho tập đoàn Bảo hiểm tiền gửi Liênbang (FDIC)

- Ngày 7/9/2008, Mỹ chi 200 tỷ USD để tiếp quản Fannie Mae và Freddie Mac, bảo lãnh cho số

bất động sản trị giá 5000 tỷ USD trên khắp nước Mỹ, chiếm 50% thị trường Sự kiên này nổ

ra đã gây nên cơn địa chấn tài chính thực sự

- Ngày 14/9/2008, Bank of America đồng ý mua hãng đầu tư tài chính Merrill Lynch với giá 50

tỷ USD

- Ngày 15/9/2008, FED không cho Lehman Brother vay tuyên bố phá sản Tổng số tiền nợ

của Lehman Brothers lên tới 768 tỉ USD (bao gồm 614 tỷ USD nợ ngân hàng và 155 Tỷ USD

nợ trái phiếu) Giá trị tài sản xác định trên giấy tờ là 639 tỷ USD bao gồm nhiều tài sản mà giátrị thực tế có thể thấp hơn nhiều giá trị sổ sách Sự phá sản của Lehman Brothers và những sựkiện diễn ra trước đó đánh dấu sự leo thang của cuộc khủng hoảng tài chính mà theo đánh giácủa nhiều chuyên giá là tồi tệ nhất sau cuộc Đại suy thoái kinh tế năm 1930 của thế kỉ trước

- Ngày 16/09/2008, FED và bộ tài chính chi 85 tỷ USD để quốc hữu hóa AIG

- Ngày 26/9, JP Morgan Chase & Co mua lại tài sản Washington Mutual với giá 1,9 tỷ USD.

Washington Mutual tạo nên vụ phá sản ngân hàng lớn nhất trong lịch sử với tổng tài sản thiệthại lên tới 307 tỷ USD

- Tháng 9 và 10/2008 cũng trở thành giai đoạn đen tối với Wall Street khi chỉ số Dow Jone sụt

tới 25% giá trị chỉ sau một tháng kể từ ngày 15/9/2008 Kể từ giai đoạn này, biến động tạiWall Street trở nên khó lường hơn với nhiều kỷ lục cả tăng và giảm tồn tại trong hàng chụcnăm đã bị phá

Trang 8

- 9 tháng đầu năm 2008 cũng chứng kiên các cơn sốt dầu, lương thực, và lạm phát làm khuynh

đảo nền kinh tế toàn cầu

Khủng hoảng lan rộng ra toàn nước Mỹ

3.2 Đối với Châu Âu

- “Bảo nổi” tại Iceland: 3 ngân hàng lớn nhất Iceland là Kaupthing, Landsbanki và Glitnir lần

lượt bị quốc hữu hóa, thị trường chứng khoán đóng cửa 3 ngày, Chính phủ neo buộc đồng nội

tệ Krona vào đồng Euro nhưng sau đó lại tháo neo vì không thể ngăn nổi sự trượt dốc khôngphanh của đồng tiền này…

- Anh: nhiều ngân hàng khó khăn về tiền mặt: Halifax bank với ngân hàng LOYDTSB,

Northern Rock thiếu tiền mặt trầm trọng do khách hàng ùn ùn kéo đến đòi rút tiền

Đoàn người xếp hàng rút tiền gửi khỏi Northern Rock

- Úc: Cuộc khủng hoảng tín dụng đã lan sang châu Úc với nạn nhân là Tập đoàn Centro

Properties, một chủ sở hữu của các phố buôn bán lớn ở Mỹ tại Úc sau khi tập đoàn này đưa ra

Trang 9

cảnh báo lợi nhuận giảm Cổ phiếu Centro Properties đã tụt giá 70% tại các giao dịch ởSydney.

- Tại Thụy Sĩ: ngân hàng bỏ 44 tỷ, chính phủ bơm 60 tỷ

- Tại Pháp: BNP đóng 3 quỹ đầu tư: 2.2 tỷ $ tại Mỹ, bỏ 320 tỷ USD vào hệ thống tín dụng ngân

hàng

- Tại Ý: tuyên bố “Chi bao nhiêu cũng được để ngăn khủng hoảng”

- Tại Đức: bỏ 400 tỷ UEU bảo hiểm cho tín dụng ngân hàng, Bơm 50 tỷ vào ngân hàng

- Hà Lan và Tây Ban Nha lần lượt bỏ 200 và 100 tỷ EUR vào ngân hàng

3.3 Đối với Châu Á

- Trung Quốc: 10/2008 xuất khẩu công nghiệp chỉ tăng 6.8%, thấp hơn năm trước

- Nhật Yamato Life Insurance Co phá sản

- Hàn: Đồng Won mất giá 40%

Diễn biến tỷ giá KRW/USD

- Singapore: Nhiều tập đoàn lớn đều thông báo thua lỗ hay lợi nhuận thấp

- Ở Mông Cổ, chính phủ đã phải bơm tiền vào các ngân hàng; tiến hành quốc hữu hoá các quỹ

đầu tư hưu trí

Trang 10

- Ấn Độ và Nga đều vật lộn với các khó khăn kinh tế, giảm việc làm và đầu tư Khủng hoảng

kinh tế toàn cầu làm xăng dầu rớt giá, khiến cho một phần các dự tính lớn của Nga cũng nhưcủa các nước xuất khẩu dầu khác tan biến

- Việt Nam của chúng ta trong quý đầu của năm 2008, chỉ số Vn-Index giảm gần 70%, thuộc

nhóm có chỉ số giảm mạnh nhất thế giới Hàng chục nghìn tỷ đồng bị tan biến một cách nhanhchóng và không thể lường trước được

4 Tác động

Cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra dẫn đến tình trạng đóng băng của hệ thống tài chính quốc tế.Các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp cũng đi xuống theo Dẫn đến nhiều doanh nghiệpkhông trụ nổi đã phá sản, tỷ lệ thất nghiệp tại nhiều quốc gia tăng mạnh, chỉ số lòng tin củangười dân và chi tiêu mức sống đứng ở mức thấp nhất

4.1 Tác động lên toàn cầu

- Về tăng trưởng kinh tế thế giới: Tốc độ tăng trưởng GDP của toàn thế giới năm 2008 giảm

xuống còn 2,8% (bằng một nửa so với 2007) và rơi xuống trạng thái tăng trưởng âm (-0,6%)năm 2009 Theo thống kê của IMF, trong năm 2009 đã có 88 trong tổng số 233 nước (chiếmgần 40%) có tăng trưởng âm

- Về thương mại và du lịch: Từ quý IV/2008, thương mại toàn cầu đã giảm 8,3% so với quý III

và giảm 7,6% so với cùng kỳ năm 2007 Tỷ lệ tăng trưởng thương mại đã chậm lại từ 6,4%trng năm 2007 xuống còn 2,1% trong năm 2008 và năm 2009 rơi xuống -12,2% là mức chưatừng có trong lịch sử

- Về đầu tư: Nhờ chính sách tiền tệ nới lỏng duy trì mức lãi suất thấp tại các nền kinh tế lớn

như Mỹ, Châu Âu, cùng với sự mở rộng của thị trường chứng khoán và sự phát sinh cảu nhiềusản phẩm tài chính phái sinh đã khiến cho dòng vốn lưu chuyển rất dễ dàng Khi khủng hoảngbùng nổ, các dòng vốn đầu tư nhanh chóng giảm sút

- Kiều hối: Khủng hoảng tài chính kéo theo tình trạng thất nghiệp gia tăng tại các nước phát

triển đã khiến cho xuất khẩu lao động từ các nước đang phát triển giảm sút nhanh chóng Kiềuhối về các nước Mỹ La Tinh và Caribe năm 2008 đạt 69,2 tỷ Usd, chỉ tăng 1% so với năm

2007 Tổng kiều hồi cảu toàn thế giới năm 2009 đã giảm xuống còn 317 tỷ USD, giảm 21 tỷ

so với năm 2007

Trang 11

- Về việc làm: Thất nghiệp gia tăng, số lượng việc làm giảm sút khiến đời sống của người lao

động rơi vào tình trạng khó khăn Tỷ lê thất nghiệp toàn cầu đã tăng từ 5,6% năm 2007 lênmức 6.3% năm 2009

4.2 Tác động lên hệ thống tài chính quốc tế

- Thị trường tiền tệ: các đồng vốn bị ảnh hưởng rất do các nhà đầu tư và tái cơ cấu dòng vốn

đầu tư đều giảm và dòng vốn quốc tế đã tăng trưởng âm Quý III/2008, đây là thời kỳ dòngvốn quốc tế suy giảm mạnh nhất, khủng hoảng sâu nhất Các nước phát triển bị ảnh hưởngnặng nề nhất về dòng vốn trong hệ thống ngân hàng trong cuộc khủng hoảng tài chính Cáchoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng như cho vay qua biên giới trong hệ thống trêntoàn thế giới giảm đáng kể Sau đó, giai đoạn khôi phục kinh tế, tại các nước phát triển dòngvốn trong ngân hàng vẫn tiếp tục giảm, còn các nước đang phát triển dòng vốn hầu như khôngtăng, chỉ có những dòng vốn phi ngân hàng mới tăng trưởng mạnh mẽ trở lại

- Thị trường chứng khoán: vỡ bong bóng chứng khoán ở một số nước, các nhà đầu tư chuyển

hướng đầu tư sang đầu tư tiền tệ như USD, Yên Nhật, làm cho đồng tiền này tăng giá nhiều sovới các đơn vị tiền tệ khác, tạo ra nhiều bất lợi cho xuất khẩu của Mỹ, Nhật, làm rối loạn thịtrường tiền tệ, một số nước phải đi xin IMF Trong năm 2008, để giải quyết vấn đề bong bóngchứng khoán, giá cổ phiếu xuống giá nghiêm trọng, ảnh hưởng lên chứng khoán toàn cầukhoảng 17000 tỷ USD, trong đó các thị trường chứng khoán mới nổi giảm 54,72%, thị trườngcác nước phát triển giảm 42,72%

- Thị trường bất động sản: bóng bóng bất động sản cùng với giám sát tài chính thiếu hoàn thiện

do cho vay thế chấp bất động sản ở Mỹ lan rộng và làm cho nhiều ngân hàng Châu u cho vaybất động sản đã bị quốc hữu hoá tài sản

- Nhiều tổ chức tài chính của các nước phát triển, nhất là các nước Châu Âu, cũng tham gia vào

thị trường tín dụng nhà ở thứ cấp ở Hoa Kỳ Chính vì vậy, bong bóng nhà ở của Hoa Kỳ bị vỡcũng làm các tổ chức tài chính này gặp nguy hiểm tương tự như các tổ chức tài chính của Hoa

Kỳ Những nước châu Âu bị rối loạn tài chính nặng nề nhất là Anh, Iceland, Ireland, Bỉ vàTây Ban Nha

4.3 Tác động đến Mỹ và một số nước phát triển

Trang 12

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã gây ra sự suy thoái kinh tế nghiêm trọng cho nước Mỹ,

nó được xem là thảm họa kinh tế tồi tệ nhất của Mỹ kể từ cuộc Đại suy thoái 1929

- Khiến cho thị trường chứng khoán giảm mạnh, xóa sạch gần 8,000 tỷ USD giá trị từ cuối năm

2007 đến năm 2009

- Tỷ lệ thất nghiệp tăng hơn gấp đôi, đạt đỉnh 10% vào tháng 10 năm 2009.

Tình trạng thất nghiệp tăng nhanh sẽ ảnh hưởng đến khả năng tự khôi phục của nền kinh tế, làmgiảm mức thu nhập dẫn đến giảm lượng cầu hàng hóa và làm kéo dài cuộc suy thoái Thất nghiệptăng cũng khiến thị trường bất động sản ở Mỹ tiếp tục đóng băng

Trang 13

Vì người Mỹ chủ yếu đầu tư tiền tiết kiệm của họ vào bất động sản hoặc thị trường chứng khoánnên khi các thị trường này giảm mạnh thì giá trị tài sản của họ cũng giảm theo Người Mỹ mất9,800 tỷ USD tài sản khi giá trị nhà của họ giảm mạnh và tài khoản hưu trí của họ bốc hơi Trungbình giá trị ròng của các gia đình Hoa Kỳ đã giảm khoảng 40% trong khoảng thời gian ba năm từ

2007 - 2010 Theo một ước tính, khoảng 16 năm tiết kiệm của phần lớn các hộ gia đình Hoa Kỳ

đã bị xóa sổ bởi cuộc khủng hoảng này Chính vì vậy, sau cuộc khủng hoảng người dân sẽ dè dặthơn trong việc chi tiêu, giao dịch đặc biệt là trong lĩnh vực bất động sản, chứng khoán Từ đónền kinh tế Mỹ chưa thể nào hồi phục hoàn toàn một cách nhanh chóng

- Tổng sản phẩm quốc nội của Mỹ cũng sụt giảm mạnh Năm 2008, GDP tăng trưởng âm:

-2.66%, năm 2009 GDP vẫn đã tăng trưởng âm: -4.17% Nền kinh tế lúc này sa sút nghiêmtrọng

- Các tập đoàn lớn phá sản như General Motors, Ford Motor, Chrysler LLC, Dow Jones, S&P

500

Ngày đăng: 10/08/2022, 10:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w