1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHÍNH SÁCH KÍCH cầu của CHÍNH PHỦ TRONG sự tác ĐỘNG của KHỦNG HOẢNG tài CHÍNH TOÀN cầu

23 11 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 373,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I MỞ ĐẦUTheo lý thuyết kinh tế, khi nền kinh tế gặp khó khăn, phát triển quá nóng hoặc suy thoái, thì hai công cụ chính mà chínhphủ sẽ dựa vào là chính sách tiền tệ – tăng giảm lãi suất

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH

DANH SÁCH NHÓM LỚP CA HỌC

1 Nguyễn Thị Thu Thanh

8 Nguyễn Duy Tân

9 Lê Phước Thi

10 Cao Thị Hiếu Thảo

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN

KINH TẾ VĨ MÔ

Trang 2

Đề tài

CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA CHÍNH PHỦ TRONG SỰ TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN

CẦU

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Ts Hoàng Nguyên Khai

Khoa Quản trị Kinh doanh – 2021

DANH SÁCH NHÓM 9 LỚP 20DQTB2 CA HỌC Ca 4 thứ 3-6

1 Nguyễn Thị Thu Thanh

8 Nguyễn Duy Tân

9 Lê Phước Thi

10 Cao Thị Hiếu Thảo

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang 6

I MỞ ĐẦU

Theo lý thuyết kinh tế, khi nền kinh tế gặp khó khăn, phát triển quá nóng hoặc suy thoái, thì hai công cụ chính mà chínhphủ sẽ dựa vào là chính sách tiền tệ – tăng giảm lãi suất và một số biện pháp khác để điều chỉnh cung tiền trong nềnkinh tế và chính sách tài khóa – chính sách thuế và chi tiêu của chính phủ (ví dụ như gói kích cầu) Trong kinh tế học,gói kích cầu thường được hiểu là việc sử dụng chính sách tài khóa (miễn giảm thuế, tăng chi tiêu của chính phủ) để hỗtrợ nền kinh tế trong cơn suy thoái Mục tiêu của biện pháp kích cầu thông qua chính sách tài khóa là nhằm tăng cường

các hoạt động kinh tế trong giai đoạn suy thoái bằng việc làm tăng tổng cầu trong ngắn hạn Ý tưởng kinh tế của gói

kích cầu là khi tăng chi tiêu sẽ hạn chế được khả năng tổng cầu sụt giảm hơn nữa gây ra đổ vỡ nền kinh tế Trong giaiđoạn suy thoái kinh tế, vấn đề cơ bản của nền kinh tế chính là thiếu hụt cầu, chứ không phải là thiếu năng lực sản xuất.Trong các điều kiện bình thường, thì chính phủ nên có các biện pháp giúp tăng trưởng dài hạn thông qua nâng cao nănglực sản xuất của nền kinh tế Tuy nhiên, khi suy thoái thì mục tiêu của gói kích cầu là tạo thêm cầu để đối ứng với nănglực sản suất hiện tại của nền kinh tế, tránh để dư thừa năng lực sản xuất ở mức quá cao gây lãng phí nguồn lực cũng nhưgây ra những vấn đề về xã hội do thất nghiệp tăng cao gây ra Nếu không nhanh chóng ngăn chặn, thất nghiệp sẽ tiếnđến ngưỡng nguy hiểm đẩy suy giảm kinh tế vào vòng xoáy luẩn quẩn: thất nghiệp sẽ dẫn đến cắt giảm thu nhập (thực tế

và kỳ vọng) làm giảm tiêu dùng, càng làm khó khăn về đầu ra dẫn đến các doanh nghiệp phải tiếp tục cắt giảm sản xuất

và lao động, đẩy thất nghiệp tăng lên ở vòng tiếp theo và cứ tiếp tục như vậy Do vậy mục đích lớn nhất của gói kích

cầu là duy trì việc làm.

Trang 7

CHƯƠNG 1 Giới thiệu về khủng hoảng tài chính

1.1.Khủng hoảng tài chính (Finacial Crisis) là thị trường tài chính bị sụp đổ Vì các nguyên nhân cụ thể khiến thị trườngtài chính không thể luân chuyển vốn hiệu quả như trước Qua đó kéo theo nền kinh tế bị suy thoái Hay hiểu cách khác khủnghoảng tài chính là khi các tập đoàn tài chính mất khi khả năng thanh khoản Điều này kéo theo sự sụp đổ dây chuyền trong hệthống tài chính

Hình 1-1: Biểu đồ tài chính

https://images.app.goo.gl/rkQNdLJMH5GJwv9C8?

fbclid=IwAR0gQ2f3DIieBiordPY8Q_fQ9WXKhocXGcQEG8dXfkzGaD7cGH1lQKey3yM

1.2.Nguyên Nhân

1.2.1 Lãi suất tăng mạnh

Doanh nghiệp, cá nhân vay vốn với mức lãi suất cao Lãi suất thị trường tăng khiến xuất hiện tình trạng đối nghịch vayvốn giữa người có rủi ro tín dụng tốt và xấu Điều này dẫn đến tình trạng ngân hàng trở nên khắt khe hơn khi cho vay

Trang 8

Lãi suất tăng mạnh đột ngột dễ gây ra khủng hoảng tài chính

1.2.2 Bất ổn đột ngột tăng

Thị trường tài chính bất ổn do các tổ chức tài chính lớn bị sụp đổ Điều này ảnh hưởng nhiều khiến ngân hàng lựa chọnkhách hàng tiềm năng cho vay vốn càng khó hơn Khi hạn chế cho vay sẽ làm giảm tín dụng, giảm đầu tư, giảm hoạt động kinh

tế vĩ mô

1.2.3 Ảnh hưởng từ thị trường cổ phiếu

Thị trường cổ phiếu bị giảm sút ảnh hưởng xấu đến bảng cân đối doanh nghiệp Điều này kích thích tình trạng khủnghoảng tài chính dễ xảy ra Hậu quả làm giảm đi nguồn vốn sở hữu của các doanh nghiệp

1.2.4 Ngân hàng xuất hiện vấn đề

Bảng cân đối của ngân hàng gặp vấn đề, trở nên xấu đi làm hạn hẹp nguồn vốn cho vay Nguồn vốn vay giảm sút sẽ khiếntín dụng cũng giảm sút Hậu quả chính là các cuộc đầu tư giảm sút, nền kinh tế bị đình trệ

Trang 9

Ngân hàng xuất hiện vấn đề có thể dẫn đến tình trạng khủng hoảng về tài chính

1.2.5 Ngân sách chính phủ bị thâm hụt

Những nước vừa phát triển kinh tế nếu để thâm hụt ngân khách khả năng vỡ nợ sẽ rất cao Từ đó việc phát hành trái phiếu củachính phủ trở nên cực kỳ khó khăn Điều này dễ ảnh hưởng đến bảng cân đối ngân hàng khi bị chính phủ ép mua trái phiếu

Trang 10

Chương 2: Giới thiệu về kích cầu, ưu, nhược điểm

2.1.2.Ðặc trưng của những công cụ được dùng chủ yếu trong "liệu pháp kích cầu" ở các nền kinh tế thị trường thường là:

Áp dụng chính sách nới lỏng ở các mức độ khác nhau cả chính sách tài chính, lẫn tiền tệ và tín dụng, như miễn, giảm, hoàn thuế,tăng lương, tăng phát hành tiền và trái phiếu nợ Chính phủ, gia tăng quy mô và phạm vi các hoạt động chi tiêu công và đầu tưNhà nước, khoanh nợ, giãn nợ, nới lỏng các điều kiện tín dụng, giảm lãi suất và tăng quy mô dư nợ tín dụng ngân hàng cho cáchoạt động kinh doanh và tiêu dùng, ; Gia tăng mức độ tự do hóa trong kinh doanh, giảm bớt và thu hẹp lĩnh vực độc quyền Nhànước, mở rộng "room" (tỷ lệ sở hữu) của các nhà đầu tư nước ngoài và tư nhân trong các doanh nghiệp cổ phần có vốn Nhànước; khuyến khích các hoạt động mua lại, sáp nhập và tái cấu trúc cơ cấu kinh tế vĩ mô và vi mô ; Giảm bớt rào cản thủ tụchành chính các loại cho hoạt động kinh doanh và tiêu dùng; khuyến khích giảm giá, đồng thời có thể có sự gia tăng các hình thứcbảo hộ phi thuế quan đi đôi với kiểm soát an toàn vĩ mô đối với thị trường nội địa

2.2.Chính sách kích cầu (pum priming)

là khoản chi tiêu của chính phủ được hoạch định để kích thích tổng cầu và thông qua hiệu ứng nhân tử, cơ chế tăng tốc để tạo ramức gia tăng lớn hơn nhiều của thu nhập quốc dân Khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, chính phủ không phải tăng chitiêu đến mức đủ để bù lại mức thâm hụt sản lượng (chênh lệch giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực hiện), mà chỉ cần tăngchi tiêu đến mức đủ để tạo ra làn sóng lạc quan trong nền kinh tế Làn sóng lạc quan này sẽ làm cho khu vực tư nhân chi tiêunhiều hơn và nền kinh tế tiến tới trạng thái cân bằng toàn dụng

Trang 11

2.1.Ưu điểm của gói kích cầu :

Thứ nhất: "gói kích cầu" trước hết có hiệu ứng tâm lý tích cực, như một chiếc phao cứu sinh làm gia tăng tức thời lòng tin củacác doanh nghiệp, các ngân hàng và nhà đầu tư trong nước và quốc tế vào trách nhiệm và quyền năng của Nhà nước trong giảicứu các doanh nghiệp đang gặp khó khăn, cũng như vào triển vọng thị trường và môi trường đầu tư trong nước,

Thứ hai: "gói kích cầu" trực tiếp hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận được các nguồn vốn ngân hàng với chi phí lãi suất rẻ hơn, từ

đó giúp giảm bớt các chi phí kinh doanh, góp phần giảm giá, tăng cạnh tranh và tăng tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ trên thị trường.Thứ ba: "gói kích cầu" còn giúp các ngân hàng cải thiện hoạt động huy động và cho vay tín dụng của mình theo hướng: một mặt,ngân hàng không phải hạ thấp lãi suất huy động dễ gây giảm và biến động mạnh nguồn tiền gửi và huy động; mặt khác, cho phépngân hàng mở rộng đầu ra nhờ không buộc phải nâng lãi suất cho vay dễ làm thu hẹp cầu tín dụng trên thị trường Sự ổn định vàhoạt động lành mạnh của hệ thống ngân hàng trong khi gia tăng dòng tiền bơm vào thị trường là điều kiện tiên quyết cho sự ổnđịnh kinh tế vĩ mô và gia tăng các hoạt động đầu tư xã hội

Thứ tư: "gói kích cầu" còn trực tiếp góp phần gia tăng các hoạt động đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, duy trì tốc độtăng trưởng kinh tế, tạo nền tảng và động lực của sự phát triển xã hội cả hiện tại, cũng như tương lai

Thứ năm: ngoài ra, nhiều doanh nghiệp nhận được sự hỗ trợ kịp thời của "gói kích cầu" đã có thêm cơ hội giữ vững và mở rộngsản xuất, từ đó góp phần giảm bớt áp lực thất nghiệp và bảo đảm ổn định xã hội

Thứ sáu: những hoạt động xúc tiến đầu tư và thương mại quốc gia được tài trợ từ "gói kích cầu" nếu thực hiện có hiệu quả cũng

sẽ có tác động tích cực đến tăng dòng vốn chảy vào và mở rộng thị trường đầu ra cho doanh nghiệp và nền kinh tế, từ đó trực tiếpgóp phần vào phát triển kinh tế - xã hội đất nước

Trang 12

2.2.NHƯỢC ĐIỂM:

Sự lạm dụng và sử dụng không hiệu quả các "gói kích cầu" sẽ có thể gây ra một số hậu quả sau :

Thứ nhất: làm tăng nguy cơ thất thoát, lãng phí các nguồn vốn vay, nếu không được giám sát chặt chẽ; gia tăng gánh nặng nợ nần

và các hiện tượng "đầu cơ nóng" với những hệ quả đắt đi kèm cho cả Chính phủ, doanh nghiệp, nâng hàng và xã hội nói chungkhi các dự án vay đầu tư được lập ra có chất lượng thấp hoặc triển khai kém, giải ngân không đúng mục đích vay

Thứ hai: nếu không chú trọng kiểm tra, giám sát sẽ làm tăng nguy cơ nảy sinh tham nhũng, thậm chí có thể xuất hiện nhiều loạitội phạm mới có liên quan trực tiếp và gián tiếp tới các "gói kích cầu" này do sự bắt tay giữa các ngân hàng với các doanh nghiệptrong việc lập các dự án vay ảo để chiếm đoạt vốn hỗ trợ từ "gói kích cầu"; do nguy cơ ngân hàng nhũng nhiễu doanh nghiệp để

"ăn chia" phần vốn hỗ trợ trong khi thẩm định, cho vay vốn, làm tổn hại lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp

Thứ ba: nguy cơ làm ảnh hưởng sức cạnh tranh của nền kinh tế do việc cho vay theo "gói kích cầu" thiên về quy mô và thànhtích, tức góp phần níu kéo, duy trì cơ cấu kinh tế, cũng như cơ cấu sản phẩm và thị trường kinh doanh lạc hậu, kém hiệu quả;đồng thời, làm gia tăng hoặc kéo dài tình trạng bất bình đẳng thị trường giữa các loại hình doanh nghiệp, khu vực kinh tế và cácđịa phương nếu không tuân thủ tốt các nguyên tắc minh bạch và bình đẳng trong triển khai các "gói kích cầu"

Thứ tư: đặc biệt, về trung hạn, tăng nguy cơ tạo áp lực tái lạm phát trong tương lai nếu sử dụng không hiệu quả "gói kích cầu"khiến gia tăng tích tụ cân đối hàng - tiền và vi phạm quy luật lưu thông tiền tệ

Trang 13

Biện pháp

Một là, thực hiện tốt gói kích cầu đầu tư và tiêu dùng của Chính phủ để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, duy trì nền kinh tế phát

triển ổn định Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện để tránh tình trạng chi sai mục tiêu, đối tượng sửdụng; gây lãng phí các nguồn lực

Thực hiện tốt gói kích cầu đầu tư và tiêu dùng của Chính phủ để thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển ổn định Tăng cườngkiểm tra giám sát chặt chẽ việc thực hiện để tránh chi sai mục tiêu, đối tượng sử dụng, gây lãng phí nguồn lực Đối với nước ta làmột nước nông nghiệp, cần coi trọng ưu tiên cho khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, khu vực kinh tế tư nhân, các doanhnghiệp nhỏ và vừa

Hai là, tập trung chỉ đạo tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu, khẩn trương ban hành chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại,

hỗ trợ xuất khẩu; kiểm soát chặt chẽ nhập siêu, có chính sách phù hợp để khuyến khích sản xuất và tiêu dùng hàng trong nước

Ba là, đẩy mạnh tiến độ thực hiện và giải ngân các dự án sử dụng nguồn vốn đầu tư, đặc biệt chú trọng việc thực hiện và giải

ngân các nguồn vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ, ODA, FDI

Bốn là, điều hành chính sách tỷ giá ngoại tệ linh hoạt, hiệu quả nhằm thúc đẩy xuất khẩu và kiềm chế nhập nhẩu; bảo đảm cân

đối cung cầu ngoại tệ

Năm là, kiểm soát chặt chẽ tình hình giá cả thị trường; ngăn chặn tình trạng tăng giá dây chuyền ảnh hưởng tới sản xuất, kinh

doanh và đời sống của nhân dân

Sáu là, thường xuyên cập nhật thông tin, tình hình trong và ngoài nước, kịp thời có những đánh giá và dự báo chính xác tình hình

trong và ngoài nước để có những bước đi thích hợp, điều chỉnh hệ thống chính sách phù hợp với tình hình cụ thể

Bảy là, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, chủ động thông tin cả về thuận lợi và khó khăn, thách thức mà nền kinh tế

đang phải đối mặt nhằm tạo

sự đồng thuận của toàn xã hội trong việc vượt qua khó khăn trong giai đoạn hiện nay

Trang 14

Về các giải pháp kích cầu đã thực hiện

Về nguyên tắc, có ba nhóm giải pháp kích cầu cơ bản: (i) Nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho người dân bằng tiền; (ii) Nhà nước trợgiá, giảm thuế, giảm chi phí sản xuất sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp; (iii) Nhà nước đứng ra mua các sản phẩm,

Đối với nhóm giải pháp thứ nhất, Chính phủ đã thực hiện gói 62 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ, tuy nhiên, tỷ lệ giải ngân khá thấp1 và

Đối với nhóm giải pháp thứ hai, Chính phủ cũng đã triển khai các chính sách ưu đãi như cắt giảm lãi suất, cơ cấu lại nợ; thực

hiện các chương trình ưu đãi; giãn, hoãn các khoản phải nộp của doanh nghiệp về thuế, tiền thuê đất; cắt giảm giá điện, xăng dầu,dịch vụ, cho một số đối tượng ưu tiên; Việc Chính phủ cân nhắc, xem xét bảo lãnh và/hoặc trợ giúp một số doanh nghiệp lớngặp khó khăn cũng là điều có thể lý giải được, bởi các doanh nghiệp lớn là khách hàng quan trọng của nhiều doanh nghiệp nhỏ,

có khả năng tạo sức lan tỏa và động lực cho các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế

Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay khi hầu hết các doanh nghiệp giảm mạnh doanh thu, lợi nhuận và thua lỗ, các biện pháp vềgiảm thuế thu nhập nhìn chung không có tác dụng lớn như kỳ vọng Cái khó khăn và cần nhất đối với doanh nghiệp lúc này là hỗtrợ vốn cho duy trì sản xuất kinh doanh liên tục, song đến nay, ngoài các chính sách về thuế, phí và các biện pháp từ Ngân hàngNhà nước (NHNN) và các tổ chức tín dụng (TCTD) thì Nhà nước chưa có chính sách, biện pháp hỗ trợ tài chính đủ lớn để doanhnghiệp có được nguồn vốn cần thiết nhằm không chỉ vượt qua giai đoạn khó khăn này, mà còn tạo thế, lực, tận dụng cơ hội pháttriển bứt phá cho chu kỳ kinh tế mới sau khi dịch bệnh qua đi

Trong khi đó, chính sách giảm lãi suất chưa thực sự mang lại hiệu quả kích thích doanh nghiệp vay vốn cho sản xuất kinh doanhnhư mong muốn, bởi nhu cầu vay mới của doanh nghiệp thấp hoặc doanh nghiệp chưa đáp ứng các tiêu chuẩn vay2 Bên cạnh đó,khả năng giảm lãi suất cho các khoản nợ hiện hành cũng rất hạn chế do: (1) Chi phí huy động vốn trước đây của các ngân hàng

đã cao và các nguồn vốn huy động mới với lãi suất thấp hơn vẫn còn ít, bao gồm cả nguồn tái cấp vốn của NHNN; (2) Năng lựctài chính, lợi nhuận của các ngân hàng còn hạn chế để hỗ trợ khách hàng; (3) Một số ngân hàng nhỏ, khả năng huy động vốn thấpvẫn phải cạnh tranh huy động vốn bằng lãi suất cao; (4) Tình hình tài chính, hoạt động của doanh nghiệp ngày càng khó khăn, rủi

ro tín dụng đang gia tăng thì các ngân hàng khó giảm lãi suất cho vay để bù đắp rủi ro cao; (5) Các ngân hàng cũng sẽ gặp khókhăn hơn về tài chính, lợi nhuận giảm mạnh do chi phí dự phòng rủi ro cho các khoản nợ, tài sản giảm chất lượng tăng mạnh nênkhó có điều kiện chia sẻ khó khăn cho các khách hàng vay, nếu nguồn vốn huy động của các ngân hàng không sớm được cơ cấulại bằng các nguồn vốn có chi phí thấp, nhất là nguồn vốn hỗ trợ từ NHNN với lãi suất thấp

Trang 15

Trong bối cảnh đó, kích cầu cũng có thể được thực hiện thông qua giảm thuế giá trị gia tăng (VAT), đem lại lợi ích trực tiếp chokhách hàng và người tiêu dùng; đồng thời, gián tiếp hỗ trợ các doanh nghiệp giải phóng hàng hóa, tránh tình trạng tồn kho vàkích thích hoạt động sản xuất kinh doanh Điều lưu ý là cần xác định thời gian áp dụng chính sách này một cách chặt chẽ, căn cứvào diễn biến dịch bệnh và tình hình kinh tế - xã hội Trên thực tế, trong bối cảnh Covid-19, nhiều quốc gia thực hiện các giảipháp nhằm đảm bảo thu nhập cho người dân và sử dụng VAT như công cụ của chính sách tài khóa Chẳng hạn, ngày 12/6/2020,Chính phủ Đức đã quyết định phê chuẩn việc tạm thời giảm VAT nhằm khuyến khích và tăng cầu tiêu dùng của người dân3

Theo tính toán của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, kết quả cho thấy việc giảmVAT có tác động tích cực tới các chỉ tiêu vĩ mô của nền kinh tế Việt Nam như tổng cầu cuối cùng, GDP và tiêu dùng Cụ thể,trong ngắn hạn, việc giảm VAT 1% sẽ làm các yếu tố như tổng cầu cuối cùng tăng 0,42 điểm %, GDP tăng 0,13 điểm % và tiêudùng tăng 0,23 điểm % Nếu VAT giảm 2% sẽ có tác động tổng cầu cuối cùng tăng 0,76 điểm %, GDP tăng 0,23 điểm % và tiêudùng tăng 0,42 điểm % Trong trung và dài hạn, với giả thiết thuế VAT giảm từ 1% - 2% có thể làm tổng cầu cuối cùng tăng 0,32

- 0,58 điểm %, GDP tăng 0,09 - 0,15 điểm % và tiêu dùng tăng 0,1 - 0,2 điểm % (Hình 1)

Đối với nhóm giải pháp thứ ba, Chính phủ cũng đã triển khai nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh đầu tư công và kết quả cả năm

2020 giải ngân đạt hơn 91% kế hoạch cả năm, cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm 2019, nhưng vẫn chưa đạt được mục tiêu, yêucầu đề ra, đặc biệt các dự án sử dụng vốn ODA có tỷ lệ giải ngân rất thấp Tác động của giải ngân vốn đầu tư công đối với tăngtrưởng kinh tế được Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu (Hình 2)

Ngày đăng: 17/01/2022, 06:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w