LỜI MỞ ĐẦULịch sử Kinh tế Thế giới liên tiếp ghi nhận những cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra trên diện rộng trong thời kỳ phát triển của các quốc gia.. Gần đây nhất, trong lĩnh vực kinh
Trang 1KHOA TÀI CHÍNH – KẾ TOÁN
HỌC PHẦN: THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
BÀI TIỂU LUẬN VỀ CUỘC KHỦNG HOẢNG TIỀN TỆ 1997
VÀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI
2008
GV: TS Nguyễn Văn Nông
HỌ TÊN SV: Nguyễn Thanh Thảo MSSV: 2112320181
LỚP: CKE1121
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Lịch sử Kinh tế Thế giới liên tiếp ghi nhận những cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra trên diện rộng trong thời kỳ phát triển của các quốc gia Trong những năm 90 của thế kỷ 20, thế giới đã đón nhận nhiều nền Kinh tế mới nổi như Mexico, Argentine, Thái Lan, Singapore, Hàn Quốc , đồng nghĩa với việc đó là sự liên kết giữa các nền Kinh tế ngày càng chặt chẽ hơn Mặt khác, cuộc khủng hoảng từ những năm 1987 vẫn tiếp tục gây dư chấn ở thập niên này, minh chứng là cuộc Khủng hoảng Bảng Anh 1992, Khủng hoảng Peso Mexico 1994, Khủng hoảng tiền tệ Đông Á 1997, Khủng hoảng tài chính Nga 1998, Khủng hoảng Argentina 1999-2002 Trong số đó, gây ảnh hưởng rộng nhất và có thiệt hại mạnh mẽ nhất chính là cuộc Khủng hoảng tiền tệ Đông Á 1997 mà còn có tên gọi khác là Khủng hoảng tiền tệ Đông Á
Gần đây nhất, trong lĩnh vực kinh tế, sự kiện được nhắc đến nhiều nhất trong năm, hay nói chính xác hơn là vào nửa cuối năm 2008, là cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ và đã lan ra khắp thế giới, kéo kinh tế toàn cầu đi xuống và báo hiệu những mảng màu xám xịt của bức tranh kinh tế toàn cầu 2009
Vậy đâu là nguyên nhân khiến nền kinh tế liên tiếp gặp phải các cuộc khủng hoảng đó? Diễn biến và hậu quả của nó như thế nào? Chúng ta rút ra được những bài học gì? Bài tiểu luận này sẽ giúp trả lời các câu hỏi ấy
Trang 3Chương 1:
CUỘC KHỦNG HOẢNG TIỀN TỆ 1997
Khủng hoảng tài chính châu Á là cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ tháng 7 năm 1997 ở Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền
tệ lớn, và giá cả của những tài sản khác ở vài nước châu Á, nhiều quốc gia trong đó được coi như là "những con Hổ Đông Á" Cuộc khủng hoảng này còn được gọi là Khủng hoảng tiền tệ châu Á
Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan là những nước bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi cuộc khủng hoảng này Hồng Kông, Malaysia, Lào, Philippines cũng bị ảnh hưởng bởi sự sụt giá bất thình lình Còn Đại lục Trung Hoa, Đài Loan, Singapore và Việt Nam không bị ảnh hưởng Nhật Bản cũng không bị ảnh hưởng nhiều bởi sự khủng hoảng, song nền kinh tế Nhật phải kinh qua những khó khăn kinh tế dài hạn của chính bản thân mình
Mặc dù được gọi là cơn khủng hoảng "Đông Á" bởi vì nó bắt nguồn từ Đông Á, nhưng ảnh hưởng của nó lại lan truyền toàn cầu và gây nên sự khủng hoảng tài chính trên toàn cầu, với những tác động lớn lan rộng đến cả các nước như Nga, Brasil và Hoa Kỳ
I Nguyên nhân gây nên cuộc khủng hoảng:
1 Nền tảng kinh tế vĩ mô yếu kém
Thái Lan và một số nước Đông Nam Á đã cố gắng thực hiện cái mà các nhà kinh tế gọi là Bộ ba chính sách không thể đồng thời Họ vừa cố định giá trị đồng tiền của mình vào Dollar Mỹ, vừa cho phép tự do lưu chuyển vốn (tự do hóa tài khoản vốn) Kinh tế Đông Nam Á tăng trưởng nhanh trong thập niên 1980 và nửa đầu thập niên
1990 đã tạo ra sức ép tăng giá nội tệ Để bảo vệ tỷ giá cố định, các ngân hàng trung ương Đông Nam Á đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng Kết quả là cung tiền tăng gây ra sức ép lạm phát Chính sách vô hiệu hóa (sterilization policy) đã được áp dụng để chống lạm phát vô hình chung đẩy mạnh các dòng vốn chảy vào nền kinh tế
2 Các dòng vốn nước ngoài kéo vào
Chính sách tiền tệ nới lỏng và việc tự do hóa tài chính ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bản cuối thập niên 1980 đã khiến cho tính thanh khoản toàn cầu trở nền cao quá mức Các nhà đầu tư ở các trung tâm tiền tệ nói trên của thế giới tìm cách thay đổi danh
Trang 4mục tài sản của mình bằng cách chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài Trong khi đó, các nước châu Á lại thực hiện chính sách tự do hóa tài khoản vốn Lãi suất ở các nước châu Á cao hơn ở các nước phát triển Chính vì thế, các dòng vốn quốc tế đã ồ ạt
chảy vào các nước châu Á
Ngoài ra, những xúc tiến đầu tư của chính phủ và những bảo hộ ngầm của chính phủ cho các thể chế tài chính cũng góp phần làm các công ty ở châu Á bất chấp mạo hiểm để đi vay ngân hàng trong khi các ngân hàng bắt chấp mạo hiểm để đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro
3 Tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt
Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 là những cuộc tấn công đầu cơ và việc rút vốn đồng loạt khỏi các nước châu Á
Những nguyên nhân sâu xa nói trên rồi cũng bộc lộ Thị trường bất động sản của Thái Lan đã vỡ Một số thể chế tài chính bị phá sản Người ta không còn tin rằng chính phủ đủ khả năng giữ nổi tỷ giá hối đoái cố định Khi phát hiện thấy những điểm yếu chết người trong nền kinh tế của các nước châu Á, một số thể chế đầu cơ
vĩ mô đã tiến hành tấn công tiền tệ châu Á Các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút vốn ra
Một nguyên nhân trực tiếp nữa của khủng hoảng là năng lực xử lý khủng hoảng yếu kém
II Diễn biến và hậu quả (tại Thái Lan) :
Từ 1985 đến 1995, kinh tế Thái Lan tăng trưởng với tốc độ bình quân hàng năm là
9% Cuối năm 1996, báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới của IMF đã cảnh báo nền
kinh tế Thái Lan tăng trưởng quá nóng và bong bóng kinh tế có thể không giữ được lâu Cuối năm 1996, thị trường chứng khoán Thái Lan bắt đầu có sự điều chỉnh Cả mức vốn hóa thị trường vốn lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm đi
Ngày 14 tháng 5 và ngày 15 tháng 5 năm 1997, đồng baht Thái bị tấn công đầu cơ quy mô lớn Ngày 30 tháng 6, thủ tướng Thái Lan Chavalit Yongchaiyudh tuyên bố
sẽ không phá giá baht, song rốt cục lại thả nổi baht vào ngày 2 tháng 7 Baht ngay lập tức mất giá gần 50% Chỉ số thị trường chứng khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối năm 1997 Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ USD xuống còn 23,5 tỷ USD Finance One, công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản Ngày 11 tháng 8, IMF tuyên bố sẽ cung cấp
Trang 5một gói cứu trợ trị giá 16 tỷ dollar Mỹ cho Thái Lan Ngày 20 tháng 8, IMF thông qua một gói cứu trợ nữa trị giá 3,9 tỷ dollar
Khủng hoảng đã gây ra những ảnh hưởng vĩ mô nghiêm trọng, bao gồm mất giá tiền
tệ, sụp đổ thị trường chứng khoán, giảm giá tài sản ở một số nước châu Á Nhiều doanh nghiệp bị phá sản, dẫn đến hàng triệu người bị đẩy xuống dưới ngưỡng nghèo trong các năm 1997-1998
Khủng hoảng kinh tế còn dẫn tới mất ổn định chính trị với sự ra đi của Suharto ở Indonesia và Chavalit Yongchaiyudh ở Thái Lan
Một ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng, đó là GDP và GNP bình quân đầu người tính bằng Dollar Mỹ theo sức mua tương đương giảm đi Nội tệ mất giá là nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng này
Cuộc khủng hoảng không chỉ lây lan ở khu vực Đông Á mà nó góp phần dẫn tới khủng hoảng tài chính Nga và khủng hoảng tài chính Brasil Một số nước không bị khủng hoảng, nhưng kinh tế cũng chịu ảnh hưởng xấu do xuất khẩu giảm và do FDI vào giảm
III Bài học kinh nghiệm :
Cuộc khủng hoảng đã để lại những vết sẹo lớn trong tâm trí người Thái Thái Lan
hôm nay đang phải đối đầu với một vấn đề trái ngược – có quá nhiều tiền nước ngoài được đổ vào để mua những tài sản với giá rẻ của Thái Lan Điều đó làm củng
cố đồng tiền bath và gây hại cho các nhà xuất khẩu 1997 cũng là năm đánh dấu giai đoạn mà chiếc gậy của phép màu kinh tế được chuyển sang cho các nước Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam
Có ba bài học lớn mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra trong thời gian gần đây để tránh một kịch bản lặp lại trong cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008:
1 Phải có công cụ điều tiết luồng vốn
2 Cần xây dựng hành lang pháp lý phù hợp
3 Nguy cơ dư thừa vốn
Trang 6Chương 2 KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI NĂM 2008
Khủng hoảng tài chính thế giới 2008 là cuộc khủng hoảng trong nhiều lĩnh vực tài chính (tín dụng, bảo hiểm, chứng khoán) diễn ra từ năm 2007 cho đến tận nay Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp Và bản thân nó lại là nguồn gốc trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2010
I Nguyên nhân gây nên cuộc khủng hoảng :
1 Chứng khoán hóa
Chứng khoán hóa và việc ra đời các sản phẩm của quá trình này như chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS), giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (CDO) và các loại tương tự là một phát minh lớn về công cụ tài chính Tuy nhiên, vì có ít nhất tới
4 loại chủ thể kinh tế liên quan đến chứng khoán hóa (thay vi 2 loại chủ thế kinh tế
là người thế chấp - đi vay và tổ chức tín dụng cho vay - nhận thế chấp như giao dịch tín dụng truyền thống), vì sự xuất hiện của bảo hiểm cho các sản phẩm chứng khoán hóa như hợp đồng hoán đổi tổn thất tín dụng (CDS), vì sự ra đời của các thể chế như các thể chế mục đích đặc biệt (SPV) và những công cụ đầu tư kết cấu (SIV) để mua bán MBS và CDO, nên đã tồn tại những rủi ro hệ thống bao gồm cả rủi ro đạo đức
và lựa chọn trái ý Trong khi đó, mô hình giám sát tài chính của Hoa Kỳ trước khủng hoảng không đủ năng lực giám sát các rủi ro này
Những rủi ro mang tính hệ thống đã tồn tại và một khi sự cố đối với bong bóng thị trường tài sản xảy ra thì những rủi ro này sẽ làm mất lòng tin ghê gớm của các bên liên quan Thêm vào đó, việc thực hành cho vay liên ngân hàng sẽ làm cho những tổn thất tín dụng lây lan ra toàn hệ thống ngân hàng; một ngân hàng phá sản sẽ kéo theo nhiều ngân hàng khác phá sản
Thực tế, thị trường nhà ở bắt đầu tự điều chỉnh từ năm 2005 khiến cho giá nhà đất giảm và chất lượng tài sản đảm bảo cho các MBS và các CDO giảm theo Rủi ro mang tính hệ thống đã làm cho khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra vào tháng
5 năm 2006 Tiếp theo đó, khủng hoảng tài chính nổ ra vào tháng 8 năm 2007 khi
Trang 7đến lượt cả các SPV và SIV cũng sụp đổ, rồi phát triển thành khủng hoảng tài chính toàn cầu từ tháng 9/2008 khi cả những tổ chức tài chính khổng lồ như Lehman Brothers sụp đổ
2 Bong bóng thị trường nhà ở
Sau khi bong bóng Dot-com vỡ vào năm 2001 và suy thoái kinh tế hiện rõ sau sự kiện 11 tháng 9, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đã có những biện pháp tiền tệ để cứu nền kinh tế nước này khỏi suy thoái, đó là hạ lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hang Chỉ trong thời gian ngắn từ tháng 5 năm 2001 đến tháng 12 năm 2002, lãi suất liên ngân hàng giảm 11 đợt từ 6,5% xuống còn 1,75% Tín dụng thứ cấp cũng giảm lãi suất theo Điều này kích thích sự phát triển của khu vực bất động sản và ngành xây dựng làm động lực cho tăng trưởng kinh tế Trong môi trường tín dụng dễ dãi, những tổ chức tài chính đã có xu hướng cho vay mạo hiểm, kể cả cho những người nhập cư bất hợp pháp vay Hệ quả là vay và đi vay ồ ạt nhằm mục đích đầu cơ dẫn tới hình thành bong bóng nhà ở Năm 2005, có tới 28% số nhà được mua là để nhằm mục đích đầu cơ và 12% mua chỉ để không Năm này, bong bóng nhà ở này phát triển đến mức cực đại và vỡ
Sau khi bong bóng nhà ở vỡ, các cá nhân gặp khó khăn trong việc trả nợ Nhiều tổ chức tín dụng cho vay mua nhà gặp khó khăn vì không thu hồi được nợ Giá nhà ở giảm nhanh khiến cho các loại giấy nợ đảm bảo bằng tài sản và chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp do các tổ chức tài chính phát hành bị giảm giá nghiêm trọng Kết quả là bảng cân đối tài sản của các tổ chức này xấu đi và xếp hạng tín dụng của họ bị các tổ chức đánh giá đánh tụt Cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra
II Diễn biến và hậu quả (tại Hoa Kỳ) :
Tháng 8 năm 2007, một số tổ chức tín dụng của Mỹ như New Century Financial Corporation phải làm thủ tục xin phá sản Một số khác thì rơi vào tình trạng cổ phiếu của mình mất giá mạnh Nhiều người gửi tiền ở các tổ chức tín dụng này đã lo
sợ và đến rút tiền, gây ra hiện tượng đột biến rút tiền gửi khiến cho các tổ chức đó càng thêm khó khăn Nguy cơ khan hiếm tín dụng hình thành Cuộc khủng hoảng tài chính thực thụ chính thức nổ ra
Trước tình hình đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã tiến hành các biện pháp nhằm tăng mức độ thanh khoản của thị trường tín dụng như thực hiện nghiệp vụ thị trường mở mua vào các loại công trái Mỹ, trái phiếu cơ quan chính phủ Mỹ và trái phiếu cơ
Trang 8quan chính phủ Mỹ đảm bảo theo tín dụng nhà ở Tháng 9 năm 2007, Cục Dự trữ Liên bang còn tiến hành giảm lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hàng từ 5,25% xuống 4,75% Trong khi đó, Ngân hàng Trung ương Châu Âu đã bơm 205 tỷ Dollar
Mỹ vào thị trường tín dụng để nâng cao mức thanh khoản
Tháng 12 năm 2007, cuộc khủng hoảng tiến sang nấc trầm trọng hơn khi những báo cáo kinh tế cuối năm cho thấy sự điều chỉnh của thị trường bất động sản diễn ra lâu hơn dự tính và quy mô của khủng hoảng cũng rộng hơn dự tính Tình trạng đói tín dụng trở nên rõ ràng
Tháng 3 năm 2008, Ngân hàng dự trữ liên bang New York cố cứu Bear Sterns, nhưng không nổi Việc Ngân hàng dự trữ liên bang New York cứu không nổi Bear Sterns và buộc lòng để công ty này bị bán đi với giá quá rẻ đã khiến cho sự lo ngại
về năng lực can thiệp của chính phủ cứu viện các tổ chức tài chính gặp khó khăn Tháng 8 năm 2008, đến lượt Lehman Brothers, một tổ chức tài chính vào loại lớn nhất và lâu đời nhất của Mỹ, bị phá sản Tiếp sau Lehman là một số công ty khác Tháng 9 năm 2008, Thượng viện Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Ổn định Kinh tế Khẩn cấp 2008 cho phép bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ chi tới 700 tỷ USD cứu nền tài chính của nước này bằng cách mua lại các khoản nợ xấu của ngân hàng, đặc biệt là các chứng khoán đảm bảo bằng bất động sản
Cuộc khủng hoảng này là nguyên nhân chính làm cho kinh tế Hoa Kỳ rơi vào suy thoái từ tháng 12 năm 2007 Bình quân mỗi tháng từ tháng 1 tới tháng 9 năm 2008,
có 84 nghìn lượt người lao động Hoa Kỳ bị mất việc làm
Hàng loạt tổ chức tài chính trong đó có những tổ chức tài chính khổng lồ và lâu đời
bị phá sản đã đẩy kinh tế Hoa Kỳ vào tình trạng đói tín dụng Thất nghiệp gia tăng ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập và qua đó tới tiêu dùng của các hộ gia đình lại làm cho các doanh nghiệp khó bán được hàng hóa Nhiều doanh nghiệp bị phá sản hoặc
có nguy cơ bị phá sản, trong đó có cả 3 nhà sản xuất ô tô hàng đầu của Hoa Kỳ là General Motors, Ford Motor và Chrysler LLC Tiêu dùng giảm, hàng hóa ế thừa đã dẫn tới mức giá chung của nền kinh tế giảm liên tục, đẩy kinh tế Hoa Kỳ tới nguy cơ
có thể bị giảm phát
Cuộc khủng hoảng còn làm cho dollar Mỹ lên giá Điều này làm cho xuất khẩu của Hoa Kỳ bị thiệt hại
III Bài học kinh nghiệm :
Trang 9Thứ nhất, không có ngoại lệ và miễn dịch phá sản cho bất kỳ đại gia nào trong cuộc chơi trên sân kinh tế thị trường Nói cách khác, một doanh nghiệp dù lớn đến đâu, thâm niên dài bao nhiêu và trước đó có thành công như thế nào, cũng có thể sụp đổ nếu vi phạm luật chơi, mà cụ thể ở cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ hiện nay là vi phạm chuẩn cho vay bất động sản có sự dung túng của chính phủ…
Thứ hai, vai trò của công tác thông tin, dự báo và giám sát, cảnh báo an toàn, nhất là
an toàn hệ thống tài chính – ngân hàng là hết sức quan trọng và không thể coi nhẹ trong bất luận trường hợp nào và vào thời điểm nào… Ngoài ra, cần luôn tỉnh táo với các tác động lan tỏa, dây chuyền của các sự biến kinh tế trên thị trường trong nước và quốc tế
Thứ ba, Nhà nước có vai trò không thể thiếu được và ngày càng to lớn trong cuộc chiến với các chấn động kinh tế chu kỳ hoặc bột phát, nhất là khủng hoảng tài chính – ngân hàng, dù nó xảy ra không trực tiếp từ sai lầm của chính phủ hoặc trong khu vực kinh tế nhà nước… Tuy nhiên, sự can thiệp này phải tuân thủ các yêu cầu và lợi ích thị trường, không làm xấu đi sự ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm hài hòa các lợi ích, nhất là không đổ gánh nặng khủng hoảng lên người dân, người tiêu dùng Sử dụng các công cụ nợ, biến nợ xấu thành chứng khoán có thể mua – bán trên thị trường nợ là một trong các lựa chọn cần thiết và hiệu quả trong trường hợp này và cho mục tiêu đó
Trang 10KẾT LUẬN
Nhìn lại gần thập kỷ vừa qua để thấy, những cuộc khủng hoảng xuất phát từ nhiều nguyên nhân Rõ ràng nhất chính là từ bản thân các tổ chức tài chính, đặc biệt là các
tổ chức theo trường phái Anglo-Saxon (vốn đã làm thay đổi căn bản bộ mặt kinh tế
và xã hội phương Tây trong thập kỷ 1980), tuyên bố đã tìm ra cách để xua đuổi những nguy cơ khi trong thực tế, nhưng đơn giản, họ chỉ đang mất dấu những nguy
cơ này Ngân hàng trung ương và cơ quan quản lý khác cũng chịu trách nhiệm bởi
đã dung thứ cho sự điên rồ này Bối cảnh kinh tế vĩ mô cũng đóng vai trò rất quan trọng
5 năm sau khi trải qua quãng thời gian đen tối của khủng hoảng tài chính, các nhà lãnh đạo G20 đã đạt được những tiến bộ quan trọng Cách thức chúng ta hoàn tất những cải cách này sẽ quyết định đến sự thịnh vượng của nền kinh tế toàn cầu Việc nhượng bộ và ngả theo các lời kêu gọi các hành động đơn phương nhằm bảo vệ hệ thống nội địa có nguy cơ làm rạn vỡ hệ thống toàn cầu, khiến tăng trưởng kinh tế toàn cầu và lao động chậm lại Đó là lý do tại sao các nhà lãnh đạo G20 đã cam kết trong phiên họp tại St Peterburg sẽ tiếp tục nỗ lực xây dựng một hệ thống tài chính
mở, tích hợp và vững mạnh
Để đạt được mục tiêu này, cần phải có sự triển khai và áp dụng đồng nhất các chuẩn mực mới, cơ chế chia sẻ thông tin và hợp tác tốt hơn nhằm giải quyết các vấn đề xuyên quốc gia Chúng ta cần phải sẵn sàng tham khảo luật lệ của các quốc gia láng giềng khi cơ chế này cho ra các kết quả tương tự nhau FSB và các quốc gia G20 sẽ thúc đẩy tiến trình này nhanh hơn nhằm xây dựng một hệ thống tài chính mà nền kinh tế toàn cầu thực sự cần
HẾT
Nguồn tài liệu:
Wikipedia
www.tapchitaichinh.vn
www.cafef.vn