1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) tác động của kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp, nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam

98 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác Động Của Kiệt Quệ Tài Chính Và Khủng Hoảng Tài Chính Đến Hành Vi Tránh Thuế Thu Nhập Doanh Nghiệp - Nghiên Cứu Thực Nghiệm Tại Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Lan Anh
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài Chính – Ngân Hàng
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 2,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ LAN ANH TÁC ĐỘNG CỦA KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH VÀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH ĐẾN HÀNH VI TRÁNH THUẾ THU NHẬP NGHIÊN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ LAN ANH

TÁC ĐỘNG CỦA KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH VÀ

KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH ĐẾN HÀNH VI TRÁNH THUẾ THU NHẬP

DOANH NGHIỆP NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ LAN ANH

TÁC ĐỘNG CỦA KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH VÀ

KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH ĐẾN HÀNH VI TRÁNH THUẾ THU NHẬP

NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

MÃ SỐ: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS NGUYỄN NGỌC HÙNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ “Tác động của kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp - Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam” do chính tôi nghiên cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Các thông tin, số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực

và được thu thập từ các nguồn đáng tin cậy, có trích dẫn rõ ràng Kết quả nghiên cứu chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào

Tp.HCM, ngày 17 tháng 04 năm 2017

Người thực hiện luận văn NGUYỄN THỊ LAN ANH

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3

1.5 NÉT MỚI CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CÚU 4

1.6 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 4

1.7 KẾT CẤU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 4

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 6

2.1 HÀNH VI TRÁNH THUẾ 6

2.1.1 Khái niệm hành vi tránh thuế 6

2.1.2 Các hành vi tránh thuế thường gặp 8

2.2 KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH 17

2.2.1 Định nghĩa kiệt quệ tài chính 17

2.2.2 Các mô hình dự báo kiệt quệ tài chính 19

2.3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 25

2.3.1 Lý thuyết lợi ích – chi phí (Benefit cost theory) 25

2.3.2 Lý thuyết chuyển đổi rủi ro (Risk-Shifting theory) 25

2.4 CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 26

2.4.1 Nghiên cứu thực nghiệm về kiệt quệ tài chính và hành vi tránh thuế 26

2.4.2 Nghiên cứu thực nghiệm về khủng hoảng tài chính và hành vi tránh thuế 28

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

Trang 5

3.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

3.2 GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 33

3.2.1 Giả thuyết nghiên cứu 33

3.2.2 Mô hình nghiên cứu 35

3.2.3 Đo lường các biến số 38

3.3 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CÁCH THỨC THU THẬP DỮ LIỆU 42

3.3.1 Xác định mẫu nghiên cứu 42

3.3.2 Nguồn dữ liệu nghiên cứu 43

3.3.3 Cách trích xuất nguồn dữ liệu 45

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47

4.1 THỐNG KÊ MÔ TẢ 47

4.2 PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN CÁC BIẾN SỐ 48

4.3 KẾT QUẢ MÔ HÌNH HỒI QUY 50

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 60

5.1 KẾT LUẬN 60

5.2 KHUYẾN NGHỊ 61

5.2.1 Đối với Tổng cục Thuế 61

5.2.2 Đối với Ủy ban chứng khoán Nhà nước 62

5.2.3 Đối với Bộ Tài chính 62

5.2.4 Đối với nhà quản lý doanh nghiệp 62

5.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BCLCTT : Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

BCTC : Báo cáo tài chính

CĐKT : Cân đối kế toán

CTCP : Công ty cổ phần

EAT : Earnings After Taxes – Thu nhập sau thuế

EBIT : Earnings Before Interest After Taxes – Thu nhập trước thuế và

lãi vay HoSE : Sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh

KQHĐKD : Kết quả hoạt động kinh doanh

TNDN : Thu nhập doanh nghiệp

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tóm tắt các phương pháp đo lường hành vi tránh thuế

Bảng 2.2 So sánh Z” điều chỉnh và phân loại xếp hạng tín nhiệm của S&P

Bảng 2.3 Bảng tóm tắt các mô hình dự báo kiệt quệ tài chính

Bảng 3.1 Bảng tổng hợp dự báo kỳ vọng các biến số

Bảng 3.2 Bảng tóm tắt đo lường các biến số

Bảng 3.3 Dữ liệu và nguồn thu thập dữ liệu các biến số

Bảng 4.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu

Bảng 4.2 Ma trận hệ số tương quan các biến

Bảng 4.3 Mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính, khủng hoảng tài chính và hành vi

tránh thuế bằng phương pháp ước lượng FEM, REM Bảng 4.4 Mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính, khủng hoảng tài chính và hành vi

tránh thuế bằng phương pháp ước lượng GLS Bảng 4.5 Tác động của khủng hoảng tài chính đến mối quan hệ giữa kiệt quệ tài

chính và hành vi tránh thuế bằng phương pháp ước lượng GLS

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Lựa chọn mô hình Pooled OLS, FEM và REM

Trang 8

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong bối cảnh toàn cầu hoá, dòng vốn di chuyển giữa các quốc gia cũng ngày một thuận lợi và nhanh chóng, xu hướng đa dạng hoá phạm vi quốc gia cũng ngày một tăng cao Cùng với đó, hệ thống pháp luật, chuẩn mực nghề nghiệp cũng được ban hành theo hướng “mở” hơn, dịch chuyển dần từ quy định (rule) sang nguyên tắc (principle) để doanh nghiệp hoạt động được thuận lợi, tạo động lực để phát triển kinh

tế Tuy nhiên, bên cạnh lợi ích đạt được, quá trình hội nhập cũng tồn tại nhiều mặt trái Trong đó, trốn thuế và tránh thuế nổi lên như một hiện tượng tất yếu, đặc biệt là sau sự kiện Hiệp hội Các nhà báo Điều tra Quốc tế (ICIJ) công bố Hồ sơ Panama ngày 09.05.2016 vừa qua Thông qua tránh thuế và trốn thuế, các doanh nghiệp đã trực tiếp “lấy” đi nguồn lực của Chính phủ, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển, mang đến sự thiệt thòi cho cộng đồng người nghèo Từ thực tế đó, tránh thuế và trốn thuế luôn được chính phủ, doanh nghiệp và người dân quan tâm Và cũng từ đó, nghiên cứu về chủ đề này không chỉ thu hút các học giả về tài chính doanh nghiệp mà còn có cả tài chính công, chính sách công và quản lý nhà nước

Trong khi “trốn thuế” là hành vi vi phạm pháp luật thì “tránh thuế” có thể giúp người nộp thuế giảm thiểu số tiền phải đóng mà không trái với quy định pháp luật hiện hành

Và nếu như khái niệm “trốn thuế” đã rất quen thuộc thì khái niệm “tránh thuế” còn khá mới mẻ tại Việt Nam và chỉ mới xuất hiện từ khoảng năm 1994 (Nguyễn Hữu Phước, 2010) Tuy nhiên, hành vi tránh thuế của doanh nghiệp lại ngày một phổ biến, phức tạp và tinh vi Chính vì vậy, trong đề tài này, tác giả tập trung vào hành vi tránh thuế của doanh nghiệp

Về phía doanh nghiệp, tối đa hoá lợi ích, gia tăng lợi nhuận luôn là các mục tiêu được hướng đến Mục tiêu này được thực hiện thông qua tối đa hoá doanh thu và/hoặc tối thiểu hoá chi phí Trong đó, thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là khoản chi phí luôn được doanh nghiệp cố gắng tối thiểu vì có tác động trực tiếp đến lợi nhuận thực nhận của doanh nghiệp Vì là hành vi không vi phạm pháp luật nên doanh nghiệp

Trang 9

luôn có động cơ để tối thiểu chi phí thuế TNDN thông qua hành vi tránh thuế Điều này càng được tận dụng triệt để nếu công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính vì công ty không thể gia tăng doanh thu Đặc biệt, khi khủng hoảng tài chính năm 2008 bùng nổ, số lượng công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính tại Việt Nam gia tăng nhanh chóng, thì động cơ tránh thuế càng được thực hiện một cách mạnh mẽ

Về phía nhà nước, thuế là một trong những nguồn thu ngân sách chính của Chính phủ Tại Viêt Nam, tỷ lệ tổng thu thuế/GDP hiện đang ở mức 22% (giai đoạn 2006 - 2012), cao hơn một số nước trong khu vực như Thái Lan (16,31%); Malaysia (14.79%) Điều này chứng tỏ Việt Nam phụ thuộc khá nhiều vào nguồn thu từ thuế

Về cơ cấu, thuế được chia thành hai phần: thuế trực thu và thuế gián thu, trong đó, thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại hình của thuế trực thu Theo xu thế phát triển,

tỷ lệ đóng góp thuế trực thu sẽ ngày càng tăng trong cơ cấu các nguồn thu ngân sách Nhà nước; và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó Xu thế này một lần nữa càng thúc đẩy doanh nghiệp có động cơ để thực hiện hành vi tránh thuế

Từ những vấn đề đặt ra, tác giả lựa chọn đề tài: “Tác động của kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp - Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam” làm chủ đề cho luận văn thạc sĩ của mình Tác giả kỳ vọng kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan quản lý Nhà nước sẽ có thêm căn cứ để đưa ra các chính sách, biện pháp phù hợp nhằm hạn chế hành vi tránh thuế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ khác nhau, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng tài chính

1.2 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp tại Việt Nam Để đạt được mục tiêu này, luận văn tiến hành làm rõ các vấn đề sau:

 Phân tích các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới và tại Việt Nam về tác động của kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế;

Trang 10

 Kiểm định thực nghiệm tác động của kiệt quệ tài chính đến đến hành vi tránh thuế;

 Kiểm định thực nghiệm tác động của khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế;

 Cuối cùng, kiểm định tác động của khủng hoảng tài chính đến mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính và hành vi tránh thuế

Các mục tiêu trên sẽ đạt được thông qua việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

 Kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính có tác động như thế nào đến hành vi tránh thuế ?

 Khủng hoảng tài chính có tác động đến mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính và hành vi tránh thuế hay không ?

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động của kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế

Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM (HoSE) trong giai đoạn 2006-2014

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với sự hỗ trợ của phần mềm Stata 12.0 để xem xét tác động của kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế Với dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu bảng không cân bằng, phương pháp nghiên cứu được sử dụng là mô hình tác động cố định (Fixed Effects Model, FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model, REM) Để lựa chọn

mô hình hồi quy phù hợp, tác giả sử dụng kiểm định Hausman Sau đó tác giả tiến hành kiểm định các khuyết tật của mô hình như hiện tượng phương sai sai số thay đổi

và hiện tượng tự tương quan Phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát (Generalized Least Squares Regression – GLS) được sử dụng để khắc phục các khuyết tật (nếu có)

Trang 11

1.5 NÉT MỚI CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CÚU

Nghiên cứu về hành vi tránh thuế đã được nhận được sự quan tâm của các học giả trên thế giới và Việt Nam nhưng nghiên cứu hành vi tránh thuế thông qua tác động của kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính vẫn chưa được quan tâm nhiều tại Việt Nam Đồng thời, việc xem xét tác động của khủng hoảng tài chính đến mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính và hành vi tránh thuế cũng được xem là một nét mới của đề tài

1.6 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Với mục tiêu nghiên cứu được xác định, đề tài kỳ vọng mang lại những ý nghĩa khoa học và thực tiễn sau:

Về ý nghĩa khoa học

 Bổ sung cho các kết quả nghiên cứu hiện có trên thế giới, cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế tại Việt Nam;

 Là cơ sở cho các hướng nghiên cứu tiếp theo về chủ đề này tại Việt Nam

Về ý nghĩa thực tiễn

 Kết quả nghiên cứu là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách, Tổng cục Thuế và

cơ quan quản lý Nhà nước đưa ra các chính sách, biện pháp nhằm hạn chế hành

vi tránh thuế của doanh nghiệp tại Việt Nam;

 Đối với nhà quản lý doanh nghiệp: đề tài cung cấp một cái nhìn toàn diện về mặt được và mất khi thực hiện hành vi tránh thuế, góp phần vào việc hoạch định các chính sách thuế phù hợp trong từng thời kỳ

1.7 KẾT CẤU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Toàn bộ nội dung nghiên cứu của đề tài được trình bày trong một báo cáo nghiên cứu cuối cùng Báo cáo này được sử dụng làm Luận văn Thạc sĩ của tác giả Bố cục của luận văn được chia thành năm chương, cụ thể:

Trang 12

Chương 1 Giới thiệu

Chương 2 Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm

Chương 3 Phương pháp nghiên cứu

Chương 4 Kết quả nghiên cứu và Thảo luận

Chương 5 Kết luận và Khuyến nghị

Trang 13

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

2.1 HÀNH VI TRÁNH THUẾ

2.1.1 Khái niệm hành vi tránh thuế

Trong quá trình điều hành doanh nghiệp, nhà quản lý luôn có động cơ để thực hiện hành vi tránh thuế nếu lợi ích từ hành vi này1 lớn hơn chi phí có thể xảy

ra2 Chính vì vậy, nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hành vi tránh thuế không chỉ thu hút các nhà quản lý, các cổ đông mà còn được các nhà hoạch định chính sách, Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính quan tâm Cũng chính vì lý do đó, mà đến nay đã có nhiều nghiên cứu về hành vi tránh thuế được thực hiện, cũng như tồn tại nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau xoay quanh khái niệm này Thuật ngữ tránh thuế trong tiếng Anh cũng được thể hiện bằng các cụm từ khác nhau như tax aggressiveness, tax avoidance, tax management, tax planning, tax shelters Nhiều tác giả xem các cụm từ trên là khác nhau nhưng đa phần các tác giả đều xem các cụm từ này cùng có nghĩa là tránh thuế

Theo Rego (2003), Chen & cộng sự (2010), hành vi tránh thuế là các hành vi làm giảm thu nhập tính thuế thông qua hoạt động lập kế hoạch thuế Hoạt động lập kế hoạch thuế có thể là các hoạt động hợp pháp, không hợp pháp, hoặc cũng

có thể rơi vào vùng xám (vùng giao thoa giữa hợp pháp và không hợp pháp) Hành vi tránh thuế cũng có thể là một chuỗi liên tục các hành vi rơi vào vùng xám Ngược lại, Frischmann, Shevlin & Wilson (2008) cho rằng hành vi tránh thuế được thực hiện khi thuế đóng một vị trí quan trọng trong khi các biện pháp quản lý lại lỏng lẻo Cụ thể hơn, Lisowsky, Robinson & Schmidt (2010) chỉ ra rằng hành vi tránh thuế là một tập hợp các hoạt động nhằm tránh bị đánh thuế

1 Như giảm được thuế phải đóng, tăng dòng tiền, duy trì xếp hạng tín dụng ở mức cao

2 Như chi phí kiểm toán và kiện tụng, các khoản phạt, thiệt hại danh tiếng

Trang 14

được thực hiện liên tục bắt nguồn từ việc lập kế hoạch thuế đúng với pháp luật, thông qua việc sử dụng các công ty ở nước ngoài (các công ty vỏ bọc), hoặc ở các thiên đường thuế3

Trong khi đó, một số tác giả xem hành vi tránh thuế là một phần của chiến lược quản trị doanh nghiệp (Desai & Dharmapala, 2006; Rego, 2003) Hành vi tránh thuế có liên quan đến việc sắp xếp hoặc cấu trúc lại nhằm tận dụng các lỗ hổng trong luật thuế và phạm vi quyền hạn cho phép để giảm số tiền thuế thu nhập phải trả (Lisowsky, 2010; Wilson, 2009) Do thuế thu nhập là một trong những chi phí đáng kể của doanh nghiệp nên các nhà quản lý doanh nghiệp có động cơ

để thực hiện các chiến lược nhằm giảm số tiền thuế phải nộp để đáp ứng các nhu cầu về vốn khác của doanh nghiệp

Tóm lại, mặc dù được diễn giải bằng những từ ngữ khác nhau với những cách diễn đạt khác nhau nhưng tránh thuế có thể hiểu là các hành vi làm giảm thu nhập tính thuế bằng các hành vi có chủ định từ trước mà vẫn đúng quy định của pháp luật Theo đó, tránh thuế được thực hiện bằng cách khai thác những quy định chưa chắc chắn, rõ ràng, những biến động trong chính sách thuế, hoặc các

kỹ thuật kế toán nhằm giảm thiểu số tiền thuế phải nộp Do đây là hành vi chủ định của của nhà quản lý nên mức độ thực hiện hành vi tránh thuế dựa trên mối quan hệ giữa lợi ích biên và chi phí biên khi thực hiện hành vi tránh thuế Cụ thể, lợi ích biên thể hiện ở số tiền thuế có thể tiết kiệm được và chi phí biên bao gồm cả thời gian, công sức, chi phí giao dịch, các khoản phạt tiềm tàng của cơ quan thuế, chi phí duy trì uy tín của công ty và sự sụt giảm giá cổ phiếu trong trường hợp công ty có thông tin xấu liên quan đến thuế (Chen & cộng sự, 2010)

3 Thiên đường thuế được hiểu là khu vực mà về mặt pháp lý mức thuế được ấn định rất thấp hoặc bằng

0 và các thủ tục pháp lý như thủ tục đăng ký thành lập công ty khá đơn giản và nhanh chóng

Trang 15

2.1.2 Các hành vi tránh thuế thường gặp

Trong thực tế, hành vi tránh thuế không chỉ được phát hiện trong thuế thu nhập doanh nghiệp mà còn bắt gặp trong thuế thu nhập cá nhân, thuế nhập khẩu, thuế trước bạ Một số hành vi tránh thuế thường gặp tại Việt Nam như:

Thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế TNDN)

- Trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng tổn thất các khoản đầu

tư tài chính, dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp làm tăng chi phí trong kỳ

- Chọn đăng ký phương thức khấu hao (phương thức đường thẳng; theo số dư giảm dần có điều chỉnh; hay theo số lượng, khối lượng sản phẩm) tùy theo

dự kiến doanh nghiệp sẽ có lãi hay bị lỗ

- Doanh nghiệp đi vay tiền chịu lãi để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh

và đưa tiền lãi đó vào chi phí để giảm thu nhập chịu thuế thay vì yêu cầu cổ đông, thành viên góp vốn tự đi vay tiền để góp vốn điều lệ

Thuế thu nhập cá nhân

- Chọn đối tượng nộp thuế là vợ hoặc chồng tùy theo thu nhập cao thấp của từng người trong việc kê khai giảm trừ gia cảnh đối với số người phụ thuộc trong gia đình nhằm mục đích giảm số thuế phải trả

- Doanh nghiệp không trả lương cho các cổ đông cá nhân tham gia hoạt động quản lý doanh nghiệp (thuế suất tối đa đối với tiền lương, tiền công chịu thuế TNCN ở mức 35%) để cổ đông nhận được cổ tức cao hơn (DN chỉ đóng thuế thuế TNDN 20% trên thu nhập trước thuế và cổ đông cá nhân đóng 5% thuế TNCN trên cổ tức nhận được)

Thuế nhập khẩu: nhập khẩu hàng hóa có xuất xứ từ những nước có ký các hiệp

định về ưu đãi thuế quan với Việt để được hưởng mức thuế suất thấp

Trang 16

Thuế trước bạ: mua trước hay mua sau một mốc thời gian quan trọng nhất định

đối với một số loại hàng hóa hay dịch vụ để tận dụng việc tăng hay giảm của mức thuế trước bạ dành cho loại hàng hóa hay dịch vụ đó

Trên đây là một số hành vi tránh thuế thường gặp tại Việt Nam Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào hành vi tránh thuế TNDN Sau đây cụm từ “hành

vi tránh thuế” hàm ý “hành vi tránh thuế TNDN”

2.1.3 Phương pháp đo lường hành vi tránh thuế

Tương tự với khái niệm tránh thuế, việc đo lường hành vi tránh thuế cũng tồn tại nhiều phương pháp khác nhau

2.1.3.1 Đo lường hành vi tránh thuế dựa trên các công ty vỏ bọc, thiên

đường thuế

Đầu tiên, dựa trên quan điểm hành vi tránh thuế thông qua các công ty vỏ bọc ở nước ngoài, hoặc ở các thiên đường thuế, Wilson (2009) đã đưa ra cách đo lường hành vi tránh thuế theo mô hình SHELTER như sau:

SHELTER = – 4.30 + 6.63 * BTD – 1.72 * LEV + 0.66 * SIZE

+ 2.26 * ROA + 1.62 * FOREIGN_INCOME + 1.56 * RD Trong đó:

- BTD (book-tax difference): chênh lệch thuế theo giá trị sổ sách, được tính bằng cách lấy hiệu số giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập tính thuế chia cho tổng tài sản;

- LEV: tỷ số giữa nợ dài hạn và tổng tài sản;

- SIZE: quy mô công ty, được tính bằng logarit của tổng tài sản;

- ROA: tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản, được tính bằng thu nhập ròng chia tổng tài sản;

- FOREIGN_INCOME: biến giả, bằng 1 nếu công ty có thu nhập ở nước ngoài, ngược lại bằng 0;

- RD: tỷ lệ chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D) trên tổng tài sản

Trang 17

Theo Wilson (2009), chỉ số SHELTER càng cao thì khả năng công ty có hành

vi tránh thuế càng lớn Cả Kim & cộng sự (2011), Rego & Wilson (2012) đều đồng ý rằng mô hình của Wilson (2009) đã xây dựng là hợp lý Tuy nhiên hoạt động tạo các công ty vỏ bọc hoặc thiên đường thuế là một hoạt động giao dịch mang tính chất đơn lẻ, nên mô hình của Wilson (2009) không phản ảnh đầy đủ tất cả các hoạt động tránh thuế của một công ty

2.1.3.2 Đo lường hành vi tránh thuế dựa trên khe hở thuế theo sổ sách

(Book-tax gap BTG)

Theo Desai & Dharmapala (2006); Lisowsky (2010); Manzon & Plesko (2001); Rego & Wilson (2012); Wilson (2009) đo lường hành vi tránh thuế bằng BTG là một cách đo lường hiệu quả, bởi có sự khác biệt lớn giữa thu nhập tính thuế theo quan điểm của kế toán và quan điểm của thuế làm xuất hiện hành vi tránh thuế

Ví dụ, Mills (1988) nhận thấy rằng các công ty có các khe hở thuế càng lớn thì càng phải thực hiện các điều chỉnh kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán quốc tế IRS, điều này cho thấy mức độ tránh thuế của công ty Thực tế, các công ty có thể cấu trúc lại các giao dịch để tạo ra các chênh lệch tạm thời hay chênh lệch vĩnh viễn khi xác định thu nhập tính thuế theo quan điểm của thuế và quan điểm của kế toán Ví dụ, sử dụng chi phí khấu hao có thể tạo ra chênh lệch tạm thời, trong khi đó các khoản tín dụng R&D có thể tạo ra chênh lệch vĩnh viễn Khe hở thuế được tạo ra một phần do mục đích “làm đẹp” các báo cáo thu nhập theo thời gian để đạt được một mục tiêu lợi nhuận nào đó, tránh báo cáo lỗ

và đạt được các mục tiêu khác (Desai & Dharmapala, 2006), và phần còn lại, được suy ra, do mục đích tránh thuế

Manzon & Plesko (2002) đã đưa ra một cách xác định BTG là tổng chênh lệch giữa thu nhập kế toán trước thuế và thu nhập tính thuế, khi đó phát sinh chênh lệch tạm thời và chênh lệch vĩnh viễn, thể hiện công ty đang thực hiện tránh thuế:

BTG = Thu nhập kế toán trước thuế − thu nhập tính thuế

Tổng tài sản đầu năm

Trang 18

Trong đó:

Thu nhập tính thuế = Chi phí thuế TNDN hiện hành

Thuế suất theo quy định Theo Manzon & Plesko (2002), BTG càng lớn sẽ thể hiện mức độ tránh thuế càng cao

2.1.3.3 Đo lường hành vi tránh thuế dựa trên phần dư của khe hở thuế

theo sổ sách (BTG residual)

Đồng quan điểm với Manzon & Plesko (2002) về cách đo lường hành vi tránh thuế dựa trên khe hở thuế theo sổ sách, Desai & Dharmapala (2006) đã xây dựng cách đo lường hành vi tránh thuế dựa trên quan điểm khe hở thuế theo sổ sách

và tổng giá trị kế toán dồn tích

Tổng giá trị kế toán dồn tích là chênh lệch giữa lợi nhuận trên Bảng KQHĐKD (lợi nhuận được ghi nhận trên cơ sở dồn tích4) và dòng tiền trên BCLCTT (dòng tiền được ghi nhận trên cơ sở tiền5) (Nguyễn Thị Minh Trang, 2012) Ghi nhận lợi nhuận cho phép nhà quản lý thực hiện điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn chủ quan nào đó, trong khi đó ghi nhận dòng tiền không cho phép nhà quản lý thực hiện điều chỉnh Theo các nhà nghiên cứu thì tổng giá trị kế toán dồn tích được chia làm hai phần: phần không thể điều chỉnh và phần có thể điều chỉnh từ ban giám đốc Ví dụ như giảm khoản nợ phải thu do phải tăng dự phòng phải thu khó đòi vì mức dự phòng cần trích lập lớn hơn so với năm trước, lựa chọn mức lập dự phòng nào trong giới hạn cho phép của chế độ kế toán đều là ý muốn chủ quan của ban giám đốc Như vậy biến kế toán này có thể điều chỉnh được Nhưng giảm khoản nợ phải thu do thắt chặt chính sách tín dụng của doanh nghiệp thì

4 Cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn

cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền Báo cáo tài chính lập trên cơ

sở dồn tích phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai (Chuẩn mức số 1: Chuẩn mực chung – Chuẩn mực kế toán Việt Nam).

5 Cơ sở tiền: phương pháp hạch toán dựa theo cơ sở thực thu – thực chi tiền Kế toán theo cơ sở tiền chỉ cho phép ghi nhận các giao dịch khi các giao dịch này phát sinh bằng tiền

Trang 19

không thể thay đổi theo ý muốn của ban giám đốc được (Nguyễn Thị Minh Trang, 2012) Vì thế, đo lường phần giá trị kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được cũng là đo lường hành vi điều chỉnh lợi nhuận của công ty

Khe hở thuế được tạo ra một phần do mục đích “làm đẹp” các báo cáo KQHĐKD theo thời gian để đạt được một mục tiêu lợi nhuận nào đó tránh báo cáo lỗ và đạt được các mục tiêu khác (Desai & Dharmapala, 2006), được thể hiện qua giá trị

kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được và phần còn lại, được suy ra, do mục đích tránh thuế, thể hiện qua giá trị kế toán dồn tích không thể điều chỉnh được Theo Desai & Dharmapala (2006):

BTG = 1ToA + μ + 

Với:

 BTG: khe hở thuế theo sổ sách

BTG = Thu nhập kế toán trước thuế − thu nhập tính thuế

Tổng tài sản đầu năm

 ToA: Tổng giá trị kế toán dồn tích

ToA =Thu nhập kế toán sau thuế − Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh

Tổng tài sản đầu năm

 μ: phần dư

 : sai số

Từ đó suy ra TA (Tax Aggressiveness - tránh thuế) = μ + ; TA càng lớn mức

độ tránh thuế càng lớn

2.1.3.4 Đo lường hành vi tránh thuế dựa trên chênh lệch vĩnh viễn

(Permanent book-tax differences - DTAX)

DTAX được Frank & cộng sự xây dựng năm 2009 DTAX được đo lường như phần dư của mô hình hồi quy:

PERMDIFFit = α0 + α1INTANGit + α2UNCON1it+ α3MIit + α4OSit

+ α5TTEit + α6ΔNOLit + α7 PERMDIFFit-1 + it

Trang 20

Trong đó:

PERMDIFF: hiệu số giữa khe hở thuế theo sổ sách và chênh lệch tạm thời, được tính toán bằng công thức

PERMDIFFit = {BIit − [(CFTEit + CFORit) / CSTRit]} − (DTEit / CSTRit)

 BI: Thu nhập kế toán trước thuế

 CFTE: Chi phí thuế TNDN hiện hành

 CFOR: Chi phí thuế tại nước ngoài hiện hành

 DTE: Chi phí thuế TNDN hoãn lại

 CSTR: Thuế suất thuế TNDN theo quy định

INTANG: Tài sản cố định vô hình

UNCON: Lãi (lỗ) khi đầu tư vào công ty liên kết theo phương pháp vốn chủ

sở hữu

MI: Lãi (lỗ) được phân bố trong lợi ích của cổ đông thiểu số, phản ánh sự khác biệt giữa các quan điểm kế toán và quan điểm của thuế liên quan đến lợi ích cổ đông thiểu số

ΔNOL: thay đổi vốn lưu động ròng

 DTAX = it

Chênh lệch giữa thu nhập kế toán trước thuế (theo quan điểm kế toán) và thu nhập tính thuế (theo quan điểm của thuế) bao gồm chênh lệch tạm thời và chênh lệch vĩnh viễn DTAX dựa trên ý tưởng đo lường hành vi tránh thuế dựa trên chênh lệch vĩnh viễn này Frank & cộng sự (2009) cho rằng một số sự kiện không thể lập kế hoạch thuế từ trước, như tài sản cố định vô hình, các chi phí thuế theo quy định Nhà nước, thay đổi trong vốn lưu động ròng và lợi ích cổ đông thiểu số sẽ làm phát sinh chênh lệch tạm thời, từ đó phát sinh hành vi tránh thuế Theo Frank & cộng sự (2009) thì DTAX càng lớn thì mức độ tránh thuế càng cao

Trang 21

2.1.3.5 Đo lường hành vi tránh thuế dựa trên thuế suất hiệu dụng

Ngoài ra, đo lường hành vi tránh thuế còn dựa trên thuế suất hiệu dụng (Cash effective tax rate CASHETR), phản ánh kết quả của các hành vi tránh thuế (Hanlon & Heitzman, 2010)

CASHETR = Số tiền thuế thực trả

Lợi nhuận kế toán trước thuếCASHETR dựa trên ý tưởng các nhà quản lý ý thức được rằng việc lập kế hoạch thuế hiệu quả có khả năng làm giảm chi phí thuế phải nộp (Dyreng & cộng sự, 2008) Trong thực tế, cách đo lường bằng CASHETR lại phản ánh các chiến lược tránh thuế, trì hoãn chi phí thuế phải nộp sang các giai đoạn sau, nhưng không tác động đến chi phí thuế TNDN hiện hành trên báo cáo tài chính Ngoài

ra, CASHETR cũng không bị tác động bởi sự thay đổi chính sách thuế bất ngờ hoặc dự phòng, do đó cung cấp một cách ước lượng chính xác cho hành vi tránh thuế ở cấp độ công ty (Dyreng & cộng sự, 2008) Tuy nhiên một hạn chế của CASHETR là không thể hiện sự khác biệt giữa hoạt động thực sự được ưu đãi

về thuế và các hoạt động khác nhằm mục đích tránh thuế (Hanlon & Heitzman, 2010) Theo Dyreng & cộng sự (2008) thì CASHETR càng thấp thì công ty có hành vi tránh thuế càng cao

Bảng 2.1 Tóm tắt các phương pháp đo lường hành vi tránh thuế

Phương pháp

Nhà nghiên cứu đại diện

Dựa trên các công ty vỏ bọc, thiên đường thuế

Đo lường hành vi tránh thuế thông qua hoạt động của các công ty vỏ bọc, các công ty tại các thiên đường thuế thông qua một mô hình hồi quy, được đại diện bằng chỉ số SHELTER

Wilson (2009)

Trang 22

Phương pháp

Nhà nghiên cứu đại diện

Chỉ số SHELTER càng cao thì khả năng công ty có hành vi tránh thuế càng lớn

Dựa trên khe

hở thuế theo

sổ sách

Đo lường hành vi tránh thuế thông qua chênh lệch giữa thu nhập kế toán trước thuế theo quan điểm của kế toán và quan điểm của thuế, được đại diện bằng chỉ số BTG

Chỉ số BTG càng cao thì khả năng công ty có hành vi tránh thuế càng lớn

Manzon & Plesko (2002)

Dựa trên phần

dư của khe hở

thuế theo sổ sách

Đo lường hành vi tránh thuế thông qua khe

hở thuế theo sổ sách và tổng giá trị kế toán dồn tích Khe hở thuế theo sổ sách được phân chia thành hai phần: một là tổng giá trị kế toán dồn tích và phần còn lại, suy ra, là tránh thuế, được đại diện bằng chỉ số RES_BTG

Chỉ số RES_BTG càng cao thì khả năng công ty có hành vi tránh thuế càng lớn

Desai & Dharmapala (2006)

Dựa trên chênh lệch vĩnh viễn

Đo lường hành vi tránh thuế dựa trên ý tưởng chênh lệch vĩnh viễn khi xác định thu nhập chịu thuế theo quan điểm của kế toán và quan của thuế Do một số sự kiện không thể lập kế hoạch thuế từ trước làm phát sinh chênh lệch vĩnh viễn, từ đó làm phát sinh hành vi tránh thuế, được đại diện bằng chỉ số DTAX

Frank & cộng sự (2009)

Trang 23

Phương pháp

Nhà nghiên cứu đại diện

Chỉ số DTAX càng cao thì khả năng công ty

có hành vi tránh thuế càng lớn

Dựa trên thuế suất hiệu dụng

Đo lường hành vi tránh thuế dựa trên ý tưởng

số tiền thuế thực trả trên thu nhập kế toán trước thuế, thể hiện một chiến lược tránh thuế, trì hoãn thuế sang các giai đoạn khác, được đại diện bằng chỉ số CASHETR

Chỉ số CASHETR càng cao thì khả năng công ty có hành vi tránh thuế thấp

Hanlon & Heitzman, (2010)

Trang 24

2.2 KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH

2.2.1 Định nghĩa kiệt quệ tài chính

Theo Fitzpatrick (2004), Weckbach (2004), nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng tổng hợp các định nghĩa khác nhau của kiệt quệ tài chính nhằm đưa ra một bức tranh tổng quát nhất, tuy nhiên đến nay vẫn chưa có nhà nghiên cứu nào có thể thực hiện được điều này Dựa trên các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm thì định nghĩa về kiệt quệ tài chính có thể phân thành 3 nhóm như sau: (i) Định nghĩa theo sự kiện; (ii) Định nghĩa theo quá trình; và (iii) Định nghĩa theo kỹ thuật

2.2.1.1 Kiệt quệ tài chính theo sự kiện

Trong phạm vi định nghĩa đầu tiên, kiệt quệt tài chính được hiểu là sự thất bại, hay phá sản Kiệt quệt tài chính được định nghĩa là “sự mất khả năng thanh toán các nghĩa vụ nợ của các công ty có thời gian hoạt động lâu dài (không áp dụng đối với các công ty khởi nghiệp)” Beaver (1966) là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên đã chỉ ra rằng kiệt quệ tài chính có nhiều hình thái, biểu hiện khác nhau, phụ thuộc vào loại sự kiện xảy ra như phá sản, không thể trả các khoản nợ trái phiếu, gia tăng các khoản vay thấu chi, hoặc không thể chi trả cổ tức cho cổ phiếu ưu đãi Các định nghĩa tương tự cũng có thể được tìm thấy ở các nghiên cứu của Andrade & Kaplan (1998) và Opler & Titman (1994)

2.2.1.2 Kiệt quệ tài chính theo quá trình

Tiếp theo, định nghĩa kiệt quệ tài chính được phát triển theo hướng quá trình, bằng nghiên cứu của Gordon (1971) Gordon (1971) nhấn mạnh rằng kiệt quệ tài chính chỉ là một trạng thái của một quá trình, theo sau là phá sản và quá trình tái cấu trúc Một công ty lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính khi khả năng tạo

ra thu nhập suy giảm và các khoản nợ đã vượt quá giá trị tài sản của công ty Kiệt quệ tài chính được mô tả khi tỷ suất sinh lợi từ trái phiếu của công ty thấp hơn lãi suất phi rủi ro và công ty khó nhận được sự tài trợ từ bên ngoài Purnanandam (2008) xem xét kiệt quệ tài chính trong mối tương quan với khả

Trang 25

năng thanh toán các khoản nợ của công ty Ông đã phát triển một mô hình về quản trị rủi ro công ty, trong đó có sự hiện diện của kiệt quệ tài chính Theo đó, kiệt quệ tài chính được xem như một trạng thái trung gian giữa trạng thái có khả năng thanh toán và mất khả năng thanh toán Một công ty lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính khi trễ hạn trả lãi các khoản vay hoặc vi phạm các khế ước nhận nợ Thời điểm chuyển từ trạng thái có khả năng thanh toán sang trạng thái mất khả năng thanh toán khi giá trị tài sản của công ty thấp hơn giá trị gốc của khoản nợ Do đó, định nghĩa này khẳng định kiệt quệ tài chính không phải là tình trạng vỡ nợ hay phá sản, theo đó, công ty có thể rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính nhưng không dẫn đến vỡ nợ Tuy nhiên việc công ty vỡ nợ hoặc phá sản có thể được dự đoán từ các thời kỳ kiệt quệ tài chính trước đó Ủng hộ quan điểm trên còn có Gilbert & cộng sự (1990), Ward & Foster (1997) và Pindado

& Rodrigues (2005)

2.2.1.3 Kiệt quệ tài chính theo kỹ thuật

Nhóm cuối cùng trong việc định nghĩa kiệt quệ tài chính là dựa vào các tỷ số tài chính Các tỷ số này được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu thực nghiệm nhằm dự báo kiệt quệ tài chính (Altman, 2002; Ohlson, 1980; Zmijewski, 1984), phân tích các công ty kiệt quệ tài chính (Altman, 1984), tái cấu trúc kiệt quệ tài chính và đánh giá tác động của các quy định pháp lý của quốc gia hay quốc tế tác động đến tái cấu trúc vốn thông qua các cuộc khảo sát (Acharya & cộng sự, 2004; Davydenko & Franks, 2004) Denis & Denis (1995) cho rằng công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính khi công ty có thu nhập trước thuế hoặc thu nhập ròng < 0 trong ít nhất 3 năm liên tục, công ty thường xuyên gặp vấn đề liên quan đến dòng tiền, giảm đột ngột hoặc không thể chi trả cổ tức Trong khi đó, Asquith và cộng sự (1991) chọn một tỷ số để xác định một công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính Theo đó, công ty có hai năm liên tiếp bất kỳ có EBITDA (thu nhập trước thuế, khấu hao và lãi vay) thấp hơn 80% chi phí lãi vay sẽ rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính Platt & Platt (2002) lại cho rằng công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính khi xảy ra một trong số các sự kiện: thu nhập

Trang 26

hoạt động ròng < 0 trong nhiều năm, đình chỉ việc thanh toán cổ tức, tái cấu trúc tài chính hoặc sa thải hàng loạt nhân viên

2.2.2 Các mô hình dự báo kiệt quệ tài chính

Trong suốt các thập kỷ gần đây, nhiều nhà nghiên cứu đã tiến hành phân tích sâu khái niệm kiệt quệ tài chính, trong đó có việc phát triển các các mô hình dự báo kiệt quệ tài chính, dưới các khía cạnh kinh tế, tài chính, kế toán, thống kê

và các thông tin khác Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này có thể được chia thành hai nhóm: trước những năm 90 và sau những năm 90

Trong gian đoạn trước những năm 90, các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung nghiên cứu các mô hình dựa trên các đặc điểm khác biệt giữa các công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính và các công ty không rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính trong một khoảng thời gian cụ thể, riêng lẻ, điển hình là mô hình của Altman (1984), Zavgren (1983), Foster (1986) Trong khi đó, giai đoạn sau những năm 90 lại hướng đến phát triển các mô hình dự báo các công ty có rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính trong tại một thời điểm nhất định, đại diện là Cybinski (2003), Weckbach (2004), Altman & Hotchkiss (2010) Trong mỗi một giai đoạn cũng có nhiều các mô hình khác nhau để dự báo kiệt quệ tài chính, nhưng các mô hình được sử dụng rộng rãi nhất, ứng dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu thực nghiệm có thể phân thành 3 nhóm: (a) Nhóm mô hình dự báo kiệt quệ tài chính dựa trên các thông tin kế toán; (b) Nhóm mô hình dự báo kiệt quệ tài chính dựa trên các dữ liệu thị trường; và (c) Nhóm mô hình dự báo kiệt quệ tài chính kết hợp thêm kinh tế vĩ mô (Outecheva, 2007)

2.2.2.1 Mô hình dự báo kiệt quệ tài chính dựa trên các thông tin kế toán

Các mô hình dự báo kiệt quệ tài chính dựa trên các thông tin kế toán sử dụng các thông tin hữu ích được trình bày trên báo cáo tài chính để cung cấp một cái nhìn cụ thể về xác suất các công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính Kỹ thuật chính của các mô hình này là tính toán các tỷ số tài chính và so sánh với một tỷ

số chuẩn, hoặc kết hợp các tỷ lệ khác nhau để xem xét công ty có rơi vào tình

Trang 27

trạng kiệt quệ tài chính hay không Các tỷ số tài chính được sử dụng ở đây chủ yếu là các tỷ số về lợi nhuận, nợ, thanh khoản Các thông tin trên báo cáo tài chính mặc dù đã được kiểm toán tuy nhiên cũng có những hạn chế nhất định như có thể bị chi phối bởi các mục đích khác, độ trễ của các thông tin trên báo cáo tài chính so với thực tế Tuy nhiên chính sự đơn giản, dễ sử dụng, dễ thu thập và thường xuyên cập nhật của các thông tin trên báo cáo tài chính đã khiến cho phương pháp này khá được ưa chuộng trong các nghiên cứu thực nghiệm trên toàn thế giới Nổi trội trong nhóm mô hình này là mô hình chỉ số Z (Z-score) của Altman (1968, 1984)

Mô hình này được đánh giá là dự báo được một cách tương đối chính xác các công ty sẽ bị phá sản trong vòng 2 năm thông qua việc xem xét đến giá trị Z - score Z - score là chỉ số kết hợp 5 tỷ số tài chính khác nhau với các trọng số khác nhau:

Z = 1.2 X1 + 1.4 X2 + 3.3 X3 + 0.6 X4 + 0.999 X5 Trong đó: X1 = Vốn luân chuyển/Tổng tài sản;

X2 = Lợi nhuận giữ lại/Tổng tài sản;

X3 = EBIT/Tổng tài sản;

X4 = Giá trị thị trường của vốn CSH/Tổng nợ phải trả;

X5 = Doanh thu/Tổng tài sản

 Nếu Z > 2.99: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản

 Nếu 1.8 < Z < 2.99: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy

cơ phá sản

 Nếu Z < 1.8: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, có nguy cơ phá sản cao

Từ chỉ số Z ban đầu được sử dụng cho các doanh nghiệp đã cổ phần hóa, Altman

đã phát triển thành nhiều phiên bản khác nhau, bao gồm Z’ – score dùng cho các

Trang 28

doanh nghiệp chưa cổ phần hóa, ngành sản xuất, Z’’ – score cho các doanh nghiệp khác, Z’’ - score điều chỉnh Đặc biệt, chỉ số Z’’ – socre điều chỉnh (Altman, Hartzell & Peck, 1995) nổi trội hơn cả do có sự tương đồng khá cao với phân loại trái phiếu S&P Điều này chứng tỏ rằng các phương pháp toán học

có sự liên thông với phương pháp chuyên gia trong việc phân loại rủi ro tín dụng

Z’’ điều chỉnh = 6.56 X1 + 3.26 X2 + 6.72 X3 + 1.05 X4 + 3.25

Bảng 2.2 So sánh Z” điều chỉnh và phân loại xếp hạng tín nhiệm của S&P

Z” điều chỉnh

5.25

BB

7.30 – 7.60

4.95

BB-

7.00 – 7.30

4.75

B+

6.85 – 7.00

4.50

B

6.65 – 6.85

4.15

B-

6.40 – 6.65

3.75

CCC+

6.25 – 6.40

3.20

CCC

5.85 – 6.25

2.50

CCC-

Trang 29

5.65 – 5.85

Nguồn: Altman & cộng sự (1995)

2.2.2.2 Mô hình dự báo kiệt quệ tài chính dựa trên các dữ liệu thị trường

Mặc dù các mô hình dự báo kiệt quệ tài chính dựa trên các thông tin kế toán được sử dụng rộng rãi nhưng nó cũng chứa đựng những hạn chế nhất định, đặc biệt khi dự báo kiệt quệ tài chính của một công ty trong một thời điểm cụ thể

Do đó, mô dựa trên dữ liệu thị trường đã khắc phục được các nhược điểm đó bằng cách kết hợp cấu trúc vốn của công ty và giá các tài sản trên thị trường

Mô hình dựa trên dữ liệu thị trường đầu tiên được giới thiệu vào năm 1974 bởi Merton (1974) dựa trên lý thuyết định giá quyền chọn của Black & Scholes (1973) và những giả thuyết quan trọng do Merton thiết lập Sau đó, công ty KMV đã phát triển mô hình Merton cổ điển để dự báo nguy cơ phá sản của công

ty, và từ đó xuất hiện mô hình KMV-Merton Mô hình này dựa trên ý tưởng là vốn chủ sở hữu của một công ty có thể được xem như một quyền chọn dựa trên giá trị tài sản của công ty trong một khoảng thời gian nhất định Một khi giá trị tài sản của công ty giảm xuống dưới điểm phá sản (Default Point), tại hoặc trước thời điểm cuối của khoảng thời gian được xét, công ty sẽ phá sản ngay lập tức Nói một cách đơn giản, mô hình KMV-Merton cho biết khả năng phá sản của mỗi công ty trong mẫu được chọn ở bất kỳ thời điểm nào được xem xét Mô hình này có hai giả định đặc biệt quan trọng:

 Một là tổng giá trị tài sản của công ty có thể diễn tả bằng chuyển động hình học Brown (Geometric Brownian Motion)

 Hai là của mô hình KMV-Merton là công ty chỉ có một loại nợ, đó là phát hành một loại trái phiếu không trả lãi theo kỳ (No coupon) có thời gian đến hạn là T

Trang 30

Sau khi mô hình KMV – Merton được công bố đã có nhiều nghiên cứu đánh giá

về mô hình này Đa số đều tập trung vào hai giả định quan trọng của Merton trong mô hình và đưa ra những "phiên bản" mở rộng của mô hình

2.2.2.3 Nhóm mô hình dự báo kiệt quệ tài chính kết hợp dữ liệu thông tin

kinh tế vĩ mô

Sự kết hợp các dữ liệu kinh tế vĩ mô trong mô hình rủi ro tín dụng sẽ nắm bắt được sự thay đổi của môi trường kinh tế vĩ mô, thêm vào các yếu tố năng động cho mô hình bằng cách điều chỉnh các chỉ số rủi ro (khả năng vỡ nợ) liên quan đến sự thay đổi của điều kiện kinh tế vĩ mô

Có một vài nghiên cứu đã kết hợp biến độc lập vĩ mô trong mô hình dự báo (Mare, 2012; Nam, Kim, Park & Lee, 2008; Qu, 2008) Trong các nghiên cứu này, tác giả kiểm soát các điều kiện vĩ mô, lạm phát và thay đổi tỷ lệ lãi suất Mare (2012) cho rằng các nhân tố kinh tế vĩ mô nên được xem xét bao gồm cả

ở mức độ vùng và mức độ quốc gia, gồm có 3 nhân tố đó là:

 Lãi suất tiền gửi liên ngân hàng

Dựa trên thông tin kế toán

Mô hình sử dụng các thông tin được trình bày trên BCTC để tính toán các tỷ

số tài chính Các tỷ số tài chính này được so sánh với một tỷ số chuẩn để dự báo khả năng một công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính

Ưu điểm: Đơn giản, dễ thực hiện, dữ liệu sẵn có

Nổi bật là chỉ số

Z, Z’, Z’’ của Altman (1968, 1984); Z’’ điều chỉnh (Altman & cộng sự, 1995) Chỉ số O của Ohlson (1980)

Trang 31

Các mô hình

Các nghiên cứu điển hình Nhược điểm: BCTC mặc dù đã được

kiểm toán nhưng có thể bị chi phối vì một mục đích nào đó thay vì trình bày một cách trung thực, hợp lý; độ trễ của BCTC so với thực tế

Chỉ số ZMIJ của Zmijewski

(1984)

Kết hợp giữa thông tin kế toán và thông tin thị trường

Mô hình kết hợp thông tin kế toán (cấu trúc vốn) và thông tin thị trường (giá các tài sản trên thị trường) Mô hình xem VCSH như là quyền chọn dựa trên giá trị tài sản của công ty Khi giá trị tài sản này giảm xuống dưới điểm phá sản thì công ty sẽ phá sản ngày lập tức

Ưu điểm: hiệu quả hơn do kết hợp thông tin thị trường

Nhược điểm: đòi hỏi kỹ thuật xử lý và thông tin phức tạp hơn

Mô hình cấu trúc Merton (1974)

Kết hợp giữa thông tin kế toán, thông tin thị trường

và thông tin kinh tế vĩ mô

Mô hình kết hợp cả 3 yếu tố: thông tin

kế toán, thông tin thị trường và thông tin kinh tế vĩ mô cung cấp cái nhìn toàn diện các yếu tố (bên trong và bên ngoài) tác động đến tình trạng kiệt quệ tài chính của công ty

Ưu điểm: hiệu quả hơn 2 mô hình dự báo trên

Nhược điểm: đòi hỏi kỹ thuật xử lý và thông tin phức tạp hơn

Các nghiên cứu của Mare (2012); Nam, Kim, Park

& Lee (2008); Qu (2008)

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Trang 32

2.3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.3.1 Lý thuyết lợi ích – chi phí (benefit cost theory)

Khi một công ty quyết định có thực hiện hành vi tránh thuế hay không, công ty

đó phải cân nhắc nhiều vấn đề liên quan đến lợi ích, chi phí và rủi ro có thể xảy

ra khi thực hiện hành vi tránh thuế Đây cũng chính là nội dung chính của lý thuyết lợi ích chi phí – lý thuyết cung cấp một quy trình đánh giá để ra quyết định thực hiện có xét đến những hậu quả có thể có Lý thuyết lợi ích chi phí được

áp dụng trong nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau, đặc biệt trong việc quyết định thực hiện các dự án đầu tư công Khi thực hiện hành vi tránh thuế, nhà quản trị cân nhắc giữa lợi ích (giảm được số thuế phải đóng, tăng dòng tiền, duy trì xếp hạng tín dụng ở mức cao) và chi phí có thể xảy ra (như chi phí kiểm toán và kiện tụng, các khoản phạt, thiệt hại danh tiếng) Nếu lợi ích từ việc tránh thuế lớn hơn chi phí thực hiện thì nhà quản lý sẽ quyết định thực hiện hành vi tránh thuế

2.3.2 Lý thuyết chuyển đổi rủi ro (Risk-Shifting theory)

Lý thuyết lợi ích và chi phí chỉ giải thích được tại sao các công ty lại thực hiện hành vi tránh thuế, nhưng chưa giải thích được tại sao khi rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính, các công ty lại thực hiện hành vi tránh thuế Câu hỏi này sẽ được giải thích thông qua lý thuyết chuyển đổi rủi ro

Lý thuyết chuyển đổi rủi ro được Bulow & Shoven đưa ra lần đầu vào năm 1978 trong bài viết “The bankruptcy decision” được xuất bản trong tạp chí Bell Journal

of Economics (autumn) Sau đó vào năm 1981, Golbe đề cập lại lý thuyết này trong tác phẩm “The effects of imminent bankruptcy on stockholder risk preference and behavior” cũng được xuất bản trên tạp chí Bell Journal of Economics Lý thuyết chuyển đổi rủi ro được đưa trong bối cảnh khi các công ty rơi vào tình trạng phá sản thì đâu là lựa chọn hữu hiệu nhất

Theo đó, khi công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính, các cổ đông và nhà quản lý công ty thường có xu hướng thực hiện các hành vi chuyển đổi rủi ro (Eberhart & Senbet, 1993; Maksimovic & Titman, 1991) Khi đó, vốn chủ sở

Trang 33

hữu của công ty được xem như một tài sản trên thị trường Galai & Masulis (1976); Jensen & Meckling (1976) cho thấy rằng các cổ đông thường chuyển đổi rủi ro sang các trái chủ, chủ nợ bằng cách thực hiện các dự án có rủi ro cao bằng hình thức vay nợ để tài trợ dự án Tuy nhiên, các trái chủ, chủ nợ cũng nhận ra các hành vi chuyển đổi rủi ro về phía họ và do đó, họ đòi hỏi một chi phí sử dụng vốn cao hơn khi xem xét mua trái phiếu, cho vay nợ đối với các công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính Điều này khiến cho các công ty sẵn sàng thực hiện các chính sách quản lý có tính rủi ro cao hơn Trong đó, thực hiện hành vi tránh thế cũng được xem là môt chính sách quản lý có tính rủi ro cao

2.4 CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

2.4.1 Nghiên cứu thực nghiệm về kiệt quệ tài chính và hành vi tránh thuế

Trong những năm gần đây, các học giả đã thực hiện nhiều nghiên cứu thực nghiệm tại các thị trường khác nhau để kiểm chứng mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính và hành vi tránh thuế Lược khảo qua các nghiên cứu thực nghiệm, kết quả từ các nghiên cứu đều cho thấy khi công ty rơi vào kiệt quệ tài chính thì công

ty sẽ càng gia tăng thực hiện hành vi tránh thuế

Theo Edwards & cộng sự (2013), chính sách thuế của một công ty khi công ty

đó rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính ẩn chứa nhiều hàm ý, như gia tăng chi phí

sử dụng vốn, giảm khả năng tiếp cận với các nguồn vốn bên ngoài (như vay nợ), đối mặt với tình trạng kiệt quệ tài chính nói chung Nhà quản lý sẵn sàng chấp nhận rủi ro bằng cách thay đổi chính sách tránh thuế đang sử dụng Khi ở trạng thái cân bằng, một công ty sẽ thực hiện chiến lược tránh thuế miễn là lợi ích biên vượt quá chi phí biên (Chen & cộng sự, 2010) Một công ty khi rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính sẽ có ít lựa chọn hơn và chấp nhận rủi ro cao hơn và càng thực hiện hành vi tránh thuế nhiều hơn như một sự cần thiết để tăng lượng tiền mặt (đặc biệt khi chi phí thuế thu nhập là một khoản chi phí đáng kể của những công

ty đang rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính) và bỏ qua việc làm giảm danh tiếng,

uy tín của công ty

Trang 34

Các công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính có khả năng sẽ sử dụng các thủ thuật kế toán để tăng thu nhập hoạt động tạm thời nhằm tránh điều chỉnh các khoản nợ hoặc ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của công ty Nếu các công ty linh hoạt trong việc thực hiện chính sách kế toán, ước tính kế toán và thuyết minh thông tin thì cũng thể hiện họ có kế hoạch thuế linh hoạt Đồng ý với nhận định trên, Frank & cộng sự (2009) đã tìm thấy mối quan hệ cùng chiều có ý nghĩa thống kê giữa hành vi tránh thuế thuế và “gây hấn” trên báo cáo tài chính Cụ thể, các công ty thực hiện việc “làm đẹp” lợi nhuận chịu thuế và lợi nhuận tài chính cũng đồng thời làm tăng thu nhập trên báo cáo tài chính và làm giảm thu nhập chịu thuế trong các nghiên cứu trước đây (Frank & cộng sự, 2009)

Các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy các bằng chứng của tiềm năng trong việc quản trị công ty để điều chỉnh thu nhập chịu thuế khi công ty phải đối mặt với tìrnh trạng lợi nhuận giảm liên tục hoặc dự báo hạ xếp hạng tín dụng Joos & cộng sự (2000) đã kết luận rằng tỷ suất sinh lời trên lợi nhuận sẽ giảm xuống khi khe hở thuế theo sổ sách tăng lên, và giải thích điều này như có sự xác nhận rằng các công ty có cơ hội thực hiện việc “làm đẹp” thu nhập chịu thuế, điều này đã được phản ánh trong mức tăng của khe hở thuế theo sổ sách Mills & Newberry (2001, 2005) đã nhận ra rằng khe hở thuế theo sổ sách có mối quan hệ cùng chiều với lợi nhuận trước đó và kiệt quệ tài chính Họ cũng chỉ ra rằng các công ty có mức xếp hạng tín dụng thấp thì chi phí lãi vay trong báo cáo kê khai thuế cao hơn trong báo cáo tài chính, và đây cũng là dấu hiệu thể hiện hành vi tránh thuế Wilson (2011) cũng đã chỉ ra rằng các công ty có các tài khoản ngoại bảng rộng, nhiều thì khả năng xảy ra các vấn đề trong tương lai và rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính lớn hơn, và điều đó cũng được phản ảnh trong khe hở thuế theo sổ sách Vì vậy, nhiều công ty luôn tìm cách giảm thu nhập chịu thuế khi đối mặt với tình trạng thu nhập giảm và/hoặc xếp hạng tín dụng thấp Nhìn chung, hợp

lý khi kỳ vọng mối quan hệ cùng chiều có ý nghĩa thống kê giữa kiệt quệ tài chính và tránh thuế

Trang 35

Một bằng chứng thực nghiệm gần đây là nghiên cứu của Richardson & cộng sự (2015) Với mẫu nghiên cứu là 300 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Úc trong giai đoạn 2006 – 2010, nghiên cứu đã cho thấy các khi rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính các công ty nhận thức được rằng rủi ro của việc thực hiện hành vi tránh thuế nhỏ hơn nhiều so với lợi ích việc tránh thuế mang lại Chính vì vậy các doanh nghiệp càng có động lực quản lý công ty theo hướng giảm thiểu nghĩa vụ thuế hiện hành

Nói chung, các nhà nghiên cứu đều cho thấy các công ty sẽ gia tăng hành vi tránh thuế khi rơi kiệt quệ tài chính Cụ thể, kiệt quệ tài chính có thể khuyến khích các công ty tích cực giữ vững lập trường trong việc giảm các nghĩa vụ thuế, một trong những chi phí đáng kể của công ty Thực tế, tiết kiệm thuế có thể cung cấp lượng vốn cần thiết để tài trợ cho hoạt động của công ty, duy trì xếp hạng tín dụng và giữ nguyên tình trạng các khế ước nhận nợ hoặc thậm chí để giảm thiểu nguy cơ phá sản (Brondolo, 2009)

2.4.2 Nghiên cứu thực nghiệm về khủng hoảng tài chính và hành vi tránh

thuế

Mối quan hệ giữa khủng hoảng tài chính và hành vi tránh thuế thu nhập đã thu hút được sự chú ý của một số học giả trên toàn thế giới Các bằng chứng thực nghiệm đã chỉ ra rằng việc gia tăng hành vi tránh thuế có mối quan hệ với tình trạng kinh tế khó khăn, khi mà nhiều công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính Công ty trở nên nhạy cảm hơn với tình trạng kiệt quệ tài chính bằng cách gia tăng hành vi tránh thuế hơn thông thường khi nền kinh tế gặp khó khăn (Edwards

& cộng sự, 2013) Nhìn chung, trong thời kỳ suy thoái kinh tế sẽ có nhiều công

ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính (Brondolo, 2009) Cụ thể, trong thời kỳ khủng hoảng tài chính, các công ty gặp khó khăn về tài chính sẽ tăng cường cắt giảm đầu tư, công nghệ, marketing và nhân công (Campello & cộng sự, 2011) Ngoài ra, các công ty cũng buộc phải sử dụng một phần lớn lượng tiền mặt tiết kiệm của họ và cắt giảm kế hoạch chi trả cổ tức, chính điều đó càng làm công ty rơi vào tình trạng khó khăn hơn (Campello & cộng sự, 2011) Trong thực tế, tình

Trang 36

trạng tài chính khó khăn liên tục có thể khiến nhà quản lý giảm trách nhiệm pháp

lý khi cắt giảm nghĩa vụ thuế của công ty Khi đó, trong thời kỳ khủng hoảng tài chính, nhà quản lý có xu hướng tăng cường hành vi tránh thuế hơn các thời kỳ trước khủng hoảng tài chính

Nhiều nghiên cứu đã kiểm chứng chính sách tài chính, đầu tư của công ty trong thời kỳ khủng hoảng tài chính Brondolo (2009) đã chỉ ra rằng rủi ro không tuân thủ pháp luật thuế trong thời kỳ khủng hoảng tài chính, các công ty bị hạn chế tín dụng sẽ thực hiện hoặc tăng cường thực hiện hành vi tránh thuế như để thay thế nguồn vốn tín dụng Ngoài ra, các công ty khi đối mặt với tình trạng kiệt quệ tài chính, rủi ro phá sản trong hoặc sau thời kỳ khủng hoảng tài chính có thể nhận được các hậu quả khi thực hiện hành vi tránh thuế (như hình phạt), tuy nhiên hậu quả này có thể được công ty chấp nhận khi so sánh với các lợi ích tiềm tàng nếu thực hiện hành vi tránh thế (như tránh được phá sản)

Một bằng chứng khác giữa mối quan hệ giữa khủng hoảng tài chính và hành vi tránh thuế do IRS đưa ra Cụ thể, nhiều công ty đã gây thất thu thuế trong thời

kỳ khủng hoảng tài chính do giảm khả năng thanh khoản, nhà quản lý có xu hướng thực hiện các chiến lược sử dụng các khoản lỗ của công ty Các khoản lỗ của các năm trước được khấu trừ khi tính thu nhập tính thuế có thể là một cách hiệu quả để giảm thu nhập tính thuế của công ty Đồng ý với nhận định do IRS đưa ra là các nghiên cứu của Richardson & cộng sự (2015) tại thị trường Mỹ với mẫu nghiên cứu là 12.376 công ty trong cơ sở dữ liệu của Compusat giai đoạn

2006 – 2010

Tóm lại, trong thời kỳ khủng hoảng tài chính cả cả tình trạng kiệt quệ tài chính

và hành vi tránh thuế đều trở nên trầm trọng hơn, điều này cho thấy trong khủng hoảng tài chính phóng đại tác động của kiệt quệ tài chính và hành vi tránh thuế

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Nội dung chương 2 đã trình bày các vấn đề cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Đầu tiên, tác giả trình bày 2 khái niệm quan trọng của đề tài là hành vi tránh

Trang 37

thuế và kiệt quệ tài chính Tiếp theo, tác giả đề cập chi tiết các phương pháp đo lường hành vi tránh thuế và các mô hình dự báo kiệt quệ tài chính Đây là cơ sở

để thực hiện đo lường cách biến trong mô hình nghiên cứu được đề cập tại chương 3 Sau đó, lý thuyết lợi ích – chi phí và lý thuyết chuyển đổi rủi ro được xem là 2 lý thuyết nền tảng của đề tài nghiên cứu Cuối cùng, việc lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính, khủng hoảng tài chính và hành vi tránh thuế cho thấy chủ đề này vẫn đang nhận được sự quan tâm của rất nhiều học giả và vẫn còn nhiều tranh luận về vấn đề này

Trang 38

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với sự hỗ trợ của phần mềm Stata 12.0 để xem xét tác động của kiệt quệ tài chính, khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế

Với dữ liệu nghiên cứu dạng bảng, phương pháp nghiên cứu được sử dụng để ước lượng bao gồm mô hình tác động cố định (Fixed Effects Model, FEM) và

mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model, REM)

 Mô hình tác động cố định (Fixed Effects Model, FEM)

Mô hình FEM cho rằng mỗi cá nhân có thể có những đặc điểm riêng, vì vậy tung độ gốc trong mô hình hồi quy được phép khác nhau giữa các cá nhân

Để xem xét các tung độ gốc khác nhau, ta có thể sử dụng các biến giả Mô hình FEM sử dụng biến giả được gọi là mô hình biến giả bình phương tối thiểu (Least Square Dummy Variable, LSDV) Mô hình FEM phù hợp trong những tình huống mà tung độ gốc của mỗi công ty tương quan với một hay nhiều biến độc lập, hay thành phần sai số của mô hình tương quan với các biến độc lập trong mô hình Nhược điểm của LSDV là làm mất nhiều bậc tự

do khi số đơn vị N rất lớn (N là số lượng đơn vị chéo), vì phải đưa vào 1) biến giả (nhưng khống chế số hạng tung độ gốc chung)

(N- Mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model, REM)

Một phương án khác thay cho mô hình FEM là mô hình REM hay mô hình các thành phần sai số (Error Components Model, ECM) Mô hình ECM giả định tung độ gốc của một đơn vị riêng lẻ được rút ngẫu nhiên từ một tập hợp lớn hơn nhiều với một trị trung bình không đổi Tung độ gốc công ty khi đó được biểu thị như sự sai lệch so với trị trung bình không đổi này Mô hình ECM thích hợp trong những tình huống mà tung độ gốc (ngẫu nhiên) của từng đơn vị không tương quan với các biến giải thích

Trang 39

Khi đó, mô hình FEM hay REM sẽ phù hợp với dữ liệu nghiên cứu hơn Câu trả lời cho câu hỏi này xoay quanh giả định về mối tương quan khả dĩ giữa thành phần sai số theo cá nhân (hay theo đơn vị) εi và các biến hồi quy độc lập Nếu

ta giả định rằng εi và các biến độc lập không tương quan, thì REM có thể phù hợp, trong khi nếu εi và các biến độc lập tương quan, thì FEM có thể thích hợp Đây là sự khác nhau cơ bản giữa FEM và REM Năm 1978, Hausman đã xây dựng một kiểm định để lựa chọn mô hình FEM và REM, sau đó kiểm định này được đặt tên là kiểm định Hausman và được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới Kiểm định này dựa trên giả thuyết:

H0: εi và biến độc lập không tương quan

H1: εi và biến độc lập tương quan Nếu bác bỏ giả thuyết H0 thì εi và biến độc lập tương quan thì mô hình FEM phù hợp hơn; và ngược lại

Khi lựa chọn được mô hình hồi quy phù hợp với dữ liệu nghiên cứu, cần xem xét sự hiện diện của các khuyết tật có thể khiến mô hình đã lựa chọn không còn phù hợp Do đó, tác giả tiếp tục kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi

và hiện tượng tự tương quan Đối với kiểm định phương sai sai số thay đổi, tác giả sử dụng kiểm định Wald Test cho mô hình FEM và kiểm định Breusch-Pagan Lagrange Multiplier cho mô hình REM Còn đối với kiểm định hiện tượng tự tương quan, tác giả sử dụng kiểm định Wooldridge Trường hợp mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan, tác giả sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát (Generalized Least Squares Regression – GLS) để giải thích kết quả nghiên cứu đạt được

Trang 40

Hình 3.1 Lựa chọn mô hình Pooled OLS, FEM và REM 6

Nguồn: vietlod.com

3.2 GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

3.2.1 Giả thuyết nghiên cứu

Kiệt quệ tài chính và hành vi tránh thuế

Từ các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, kết quả cho thấy các công ty sẽ gia tăng hành vi tránh thuế trong suốt giai đoạn kiệt quệ tài chính Cụ thể, kiệt quệ tài chính có thể khuyến khích các công ty tích cực giữ vững lập trường trong việc giảm các nghĩa vụ thuế, một trong những chi phí đáng kể của công ty Thực

tế, tiết kiệm thuế có thể cung cấp lượng vốn cần thiết để tài trợ cho hoạt động của công ty, duy trì xếp hạng tín dụng và giữ nguyên tình trạng các khế ước nhận nợ hoặc thậm chí để giảm thiểu nguy cơ phá sản (Brondolo, 2009) Từ đó, tác giả đặt ra giả thuyết về mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính và hành vi tránh thuế như sau:

6 Với dự liệu dạng bảng, các nhà nghiên cứu thường sử dụng phương pháp ước lượng Pooled OLS, FEM

& REM hoặc chỉ sử dụng FEM & REM Trong nghiên cứu này, tác giả ủng hộ quan điểm 2 do Pooled OLS đã không xét đến bình diện dạng bảng Tuy nhiên, tác giả vẫn sử dụng kiểm định F (F.test) để kiểm định thêm cho lập luận của mình

Ngày đăng: 15/07/2022, 20:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tóm tắt các phương pháp đo lường hành vi tránh thuế Phương pháp - (LUẬN văn THẠC sĩ) tác động của kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp, nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam
Bảng 2.1. Tóm tắt các phương pháp đo lường hành vi tránh thuế Phương pháp (Trang 21)
Bảng 2.2. So sánh Z” điều chỉnh và phân loại xếp hạng tín nhiệm của S&amp;P - (LUẬN văn THẠC sĩ) tác động của kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp, nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam
Bảng 2.2. So sánh Z” điều chỉnh và phân loại xếp hạng tín nhiệm của S&amp;P (Trang 28)
Các mơ hình - (LUẬN văn THẠC sĩ) tác động của kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp, nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam
c mơ hình (Trang 31)
Hình 3.1. Lựa chọn mơ hình Pooled OLS, FEM và REM6 - (LUẬN văn THẠC sĩ) tác động của kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp, nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam
Hình 3.1. Lựa chọn mơ hình Pooled OLS, FEM và REM6 (Trang 40)
CAPINT = Tài sản cố định hữu hình - (LUẬN văn THẠC sĩ) tác động của kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp, nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam
i sản cố định hữu hình (Trang 47)
Bảng 3.2. Bảng tóm tắt đo lường các biến số - (LUẬN văn THẠC sĩ) tác động của kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp, nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam
Bảng 3.2. Bảng tóm tắt đo lường các biến số (Trang 48)
Bảng 4.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu - (LUẬN văn THẠC sĩ) tác động của kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp, nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam
Bảng 4.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu (Trang 54)
Bảng 4.2 trình bày thống kê mơ tả của các biến nghiên cứu. Mẫu nghiên cứu là các cơng ty phi tài chính trên HoSE, giai đoạn 2006-2014 - (LUẬN văn THẠC sĩ) tác động của kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp, nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam
Bảng 4.2 trình bày thống kê mơ tả của các biến nghiên cứu. Mẫu nghiên cứu là các cơng ty phi tài chính trên HoSE, giai đoạn 2006-2014 (Trang 56)
Bảng 4.3. Mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính, khủng hoảng tài chính và hành vi tránh thuế bằng phương pháp ước lượng FEM, REM - (LUẬN văn THẠC sĩ) tác động của kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp, nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam
Bảng 4.3. Mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính, khủng hoảng tài chính và hành vi tránh thuế bằng phương pháp ước lượng FEM, REM (Trang 58)
Bảng 4.3 trình bày kết quả hồi quy cho mẫu toàn bộ với biến phụ thuộc lần lượt là CASHETR, BTG, RES_BTG - (LUẬN văn THẠC sĩ) tác động của kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp, nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam
Bảng 4.3 trình bày kết quả hồi quy cho mẫu toàn bộ với biến phụ thuộc lần lượt là CASHETR, BTG, RES_BTG (Trang 59)
kiểm định Wooldridge. Kết quả cho thấy tất cả các mơ hình được chọn đều tồn tại hiện tượng tự tương quan (các giá trị p_value đều &lt; 5%, bác bỏ giả thuyết  mơ hình khơng tồn tại tự tượng quan) - (LUẬN văn THẠC sĩ) tác động của kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp, nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam
ki ểm định Wooldridge. Kết quả cho thấy tất cả các mơ hình được chọn đều tồn tại hiện tượng tự tương quan (các giá trị p_value đều &lt; 5%, bác bỏ giả thuyết mơ hình khơng tồn tại tự tượng quan) (Trang 61)
Bảng 4.4 trình bày kết quả hồi quy cho mẫu toàn bộ với biến phụ thuộc lần lượt là CASHETR, BTG, RES_BTG - (LUẬN văn THẠC sĩ) tác động của kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp, nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam
Bảng 4.4 trình bày kết quả hồi quy cho mẫu toàn bộ với biến phụ thuộc lần lượt là CASHETR, BTG, RES_BTG (Trang 62)
Bảng 4.5. Tác động của khủng hoảng tài chính đến mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính và hành vi tránh thuế bằng phương pháp ước lượng GLS - (LUẬN văn THẠC sĩ) tác động của kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp, nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam
Bảng 4.5. Tác động của khủng hoảng tài chính đến mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính và hành vi tránh thuế bằng phương pháp ước lượng GLS (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm