1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khủng hoảng tài chính tín dụng tại mỹ và tác động của nó đối với nền kinh tế toàn cầu 2

25 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khủng hoảng Tài chính Tín dụng Tại Mỹ Và Tác Động Của Nó Đối Với Nền Kinh Tế Toàn Cầu 2
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Nghiên cứu đề xuất
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, các hoạt động thương mại, đầu tư, tiêu dùng của mỗi quốc gia đều sụt giảm mạnh, dẫn tới nguy cơ suy thoái kinh tế c

Trang 1

Mục lục

1 Lý thuyết về khủng hoản Tài chính 3

1.1 Khái niệm về khủng hoảng Tài chính (Financial crisis) 3

1.2 Dấu hiệu nhận dạng khủng hoảng tài chính 3

1.3 Các loại khủng hoảng tài chính 3

1.3.1 Khủng hoản tiền tệ (Currency crisis) 3

1.3.2 Khủng hoảng ngân hàng (Banking Crisis) 5

1.3.3 Khủng hoảng kép (Twin crisis) 5

1.4 Nguyên nhân khủng hoảng tài chính 5

1.4.1 Lãi suất tăng cao 5

1.4.2 Gia tăng sự bất ổn 6

1.4.3 Ảnh hưởng của thị trường cổ phiếu lên bảng cân đối kế toán 6

1.4.4 Các vấn đề trong lĩnh vực ngân hàng 6

1.4.5 Thâm hụt ngân sách chính phủ 7

1.5 Hậu quả của khủng hoảng tài chính 7

1.5.1 Dưới tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, các hoạt động thương mại, đầu tư, tiêu dùng của mỗi quốc gia đều sụt giảm mạnh, dẫn tới nguy cơ suy thoái kinh tế của mỗi nước Thậm chí, nhiều nước lâm vào tình trạng phá sản cấp quốc gia 7

1.5.2 Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu có tác động phức tạp đến an ninh, quốc phòng và bảo vệ quốc gia 9

1.6 Các cuộc khủng hoảng tài chính trong lịch sử 11

2 Khủng hoảng tài chính Tín dụng tại Mỹ và tác động của nó đối với nền kinh tế toàn cầu 11 2.1 Nguyên nhân và diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính – tín dụng tại Mỹ 11

2.1.1 Nguyên nhân 11

2.1.2 Diễn biến 12

2.2 Tác động 13

2.2.1 Đối với Hoa Kỳ 14

2.2.2 Đối với thế giới 15

2.3 Các giải pháp của Mỹ và các nước khác để đối phó với khủng hoảng tài chính 16

2.4 Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ đối với nền kinh tế Việt Nam 16

2.5 Một số giải pháp hạn chế tác động của cuộc khủng hoảng tài chính đến nền kinh tế Việt Nam và những bài học kinh nghiệm 21

MỘT SỐ GIẢI PHÁP 21

BÀI HỌC KINH NGHIỆM 23

Trang 2

PHẦN 1: LÝ THUYẾT VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH

1.1 Khái niệm về khủng hoảng Tài chính (Financial crisis)

Thuật ngữ khủng hoảng tài chính được sử dụng khá phổ biến nhằm mô tả cáctình huống, ở đó các định chế tài chính hoặc các tài sản tài chính mất đi phần lớn giátrị của chúng Vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, nhiều cuộc khủng hoảng tài chính cóliên quan đến sự hoảng loạn ngân hàng, và nhiều sự suy thoái kinh tế có liên quan đến

sự hoảng loạn này Một số tình huống khác thường được gọi là khủng hoảng tài chínhnhư sự sụp đổ của thị trường cổ phiếu và sự nổ tung của các bong bóng giá tài sản tàichính, khủng hoảng tiền tệ, và sự vỡ nợ quốc gia

Khủng hoảng tài chính: trạng thái sụt giảm mạnh trong ngắn hạn về giá trị củacác tài sản tài chính, các tổ chức tài chính, và sự đổ vỡ của hệ thống tài chính

1.2 Dấu hiệu nhận dạng khủng hoảng tài chính

Có thể nhận dạng tình trạng khủng hoảng tài chính thông qua các dấu hiệu cơbản như sau:

- Người gửi tiền vào ngân hàng tuy nhiên các ngân hàng không thể hoàn trả đượckhoản tiền gửi đó

- Những khách hàng vay vốn từ ngân hàng, kể cả khách vay vốn tiềm năng cũngkhông thể hoàn trả khoản vay đầy đủ

- Chính phủ không tiếp tục áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định

- Tình trạng tài chính đã bị tự do hóa

- Hệ thống ngân hàng trong nước bị yếu kém và suy thoái

- Thể chế giám sát tài chính trong nước cũng bị suy giảm

1.3 Các loại khủng hoảng tài chính

1.3.1 Khủng hoản tiền tệ (Currency crisis)

Khủng hoảng tiền tệ, còn được gọi là khủng hoảng tỷ giá hối đoái hay khủnghoảng cán cân thanh toán nổ ra khi hoạt động đầu cơ tiền tệ dẫn đến sự giảm giá mộtcách đột ngột của đồng nội tệ hoặc trường hợp buộc các cơ quan có trách nhiệm phảibảo vệ đồng tiền của nước mình bằng cách nâng cao lãi suất hay chi ra một khối lượnglớn dự trữ ngoại hối

Trang 3

Mô hình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ nhất

Mô hình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ hai

(Mô hình kỳ vọng xoay vòng)

Trang 4

Mô hình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ ba

1.3.2 Khủng hoảng ngân hàng (Banking Crisis)

Đây là tình trạng diễn ra khi các khách hàng đồng loạt rút tiền ồ ạt khỏi ngânhàng Vì ngân hàng cho vay phần lớn số tiền gửi vào nên khi khách hàng đồng loạt rúttiền, sẽ rất khó để các ngân hàng có khả năng hoàn trả các khoản nợ Sự rút tiền ồ ạt

có thể dẫn tới sự phá sản của ngân hàng, khiến nhiều khách hàng mất đi khoản tiềngửi của mình, trừ khi họ được bồi thường nhờ bảo hiểm tiền gửi Nếu việc rút tiền ồ ạtlan rộng sẽ gây ra khủng hoảng ngân hàng mang tính hệ thống Cũng có thể hiệntượng trên không lan rộng, nhưng lãi suất tín dụng được tăng lên (để huy động vốn)

do lo ngại về sự thiếu hụt trong ngân sách Lúc này, chính các ngân hàng sẽ trở thànhnhân tố gây ra khủng hoảng kinh tế

1.3.3 Khủng hoảng kép (Twin crisis).

Khủng hoảng kép xảy ra khi khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng ngân hàngxảy ra đồng thời với nhau

1.4 Nguyên nhân khủng hoảng tài chính

Trang 5

1.4.1 Lãi suất tăng cao

Các cá nhân và công ty với các dự án mạo hiểm rủi ro cao lại là những ngườisẵn sàng trả mức lãi suất cao Nếu lãi suất thị trường nhạy cảm tăng theo nhu cầu tíndụng tăng hoặc do cung tiền giảm, làm cho những người có rủi ro tín dụng tốt sẽkhông còn thiết tha vay vốn nữa, trong khi đó, những người có rủi ro tín dụng xấu vẫnmong muốn được vay

Do lựa chọn đối nghịch tăng lên, khiến cho ngân hàng không còn muốn chovay nữa Sự giảm sút mạnh trong tín dụng dẫn đến sự giảm sút mạnh trong đầu tư vàhoạt động kinh tế vĩ mô

1.4.2 Gia tăng sự bất ổn

Sự bất ổn đột ngột trên thị trường tài chính (có thể do sự sụp đổ của một tổchức tài chính hay phi tài chính trụ cột nào đó), dấu hiệu của suy thoái kinh tế hay sựsụp đổ của thị trường cổ phiếu, càng làm cho ngân hàng khó khăn hơn trong việc sànglọc khách hàng vay vốn

Kết quả là ngân hàng không còn khả năng giải quyết được vấn đề lựa chọn đốinghịch nữa, dẫn đến hạn chế cho vay, làm suy giảm tín dụng, đầu tư và hoạt động kinh

tế vĩ mô

1.4.3 Ảnh hưởng của thị trường cổ phiếu lên bảng cân đối kế toán

Trạng thái bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp phản ánh thực trạng về vấn

đề thông tin bất cân xứng trong hệ thống tài chính Một sự giảm sút nghiêm trọng trênthị trường cổ phiếu là nhân tố làm cho bảng cân đối của doanh nghiệp trở nên xấu đi

Ngược lại, sự xấu đi của bảng cân đối có thể làm gia tăng vấn đề lựa chọn đốinghịch và rủi ro đạo đức, kích thích khủng hoảng tài chính xảy ra Sự giảm sút của thịtrường cổ phiếu giảm làm giảm vốn chủ sở hữu của các công ty

Vốn chủ sở hữu của các công ty giảm, khiến cho các ngân hàng không còn sẵnsàng cho vay, bởi vì vốn chủ sở hữu vốn là một chiếc đệm, có vai trò như tài sản bảođảm tiền vay Khi giá trị bảo đảm giảm, khiến cho ngân hàng không còn được bảo vệtốt nữa, dẫn đến khả năng tổn thất tín dụng là hiện hữu

Trang 6

1.4.4 Các vấn đề trong lĩnh vực ngân hàng

Các ngân hàng đóng vai trò quan trọng trên các thị trường tài chính, bởi vìchúng hoạt động hiệu quả trong việc sản xuất và xử lí thông tin, làm cơ sở cho việcgia tăng đầu tư hiệu quả trong nền kinh tế

Trạng thái bảng cân đối tài sản của ngân hàng có tác động quan trọng đến việccho vay Nếu bảng cân đối của ngân hàng trở nên xấu đi (vốn chủ sở hữu giảm đángkể), thì nguồn vốn cho vay trở nên hạn hẹp, dẫn đến giảm sút tín dụng Hậu quả là đầu

tư giảm, nền kinh tế đình trệ

1.4.5 Thâm hụt ngân sách chính phủ

Ở các nước mới nổi, nếu thâm hụt ngân sách chính phủ trầm trọng, sẽ làm phátsinh tâm lí lo sợ về khả năng vỡ nợ của chính phủ Kết quả là chính phủ gặp khó khăntrong việc phát hành trái phiếu cho công chúng, chính phủ quay sang ép các ngânhàng mua

Nếu giá trái phiếu chính phủ giảm, làm cho bảng cân đối tài sản ngân hàng trởnên xấu đi, dẫn đến giảm sút trong cho vay của ngân hàng Mối lo sợ chính phủ vỡ nợcũng có thể là tác nhân của khủng hoảng ngoại hối, khi giá trị đồng nội tệ giảm độtngột do các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn ra khỏi quốc gia

1.5 Hậu quả của khủng hoảng tài chính

1.5.1 Dưới tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, các hoạt động thương mại, đầu tư, tiêu dùng của mỗi quốc gia đều sụt giảm mạnh, dẫn tới nguy cơ suy thoái kinh tế của mỗi nước Thậm chí, nhiều nước lâm vào tình trạng phá sản cấp quốc gia.

Biểu hiện của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu thường làgây ra những ảnh hưởng vĩ mô nghiêm trọng, các cân đối vĩ mô bị phá vỡ, đồng tiềnmất giá, tỷ giá hối đoái biến động đột biến theo hướng phá giá, lạm phát cao và phi mãxuất hiện, gánh nặng nợ công tăng nhanh, thị trường chứng khoán sụp đổ, tài sản ở cácnước bị giảm giá mạnh, nhiều doanh nghiệp, ngân hàng và các định chế tài chính phásản, tình trạng mất việc làm và thất nghiệp tăng cao, hàng triệu người bị lâm vào cảnhđói nghèo, rối loạn và xung đột xã hội nảy sinh, bạo loạn và chiến tranh xuất hiện

Trang 7

Có thể thấy, các cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đãgây ra những hậu quả vô cùng kinh hoàng Cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tếtoàn cầu giai đoạn 1929 - 1933 đã đẻ ra chủ nghĩa phát-xít trong thập niên 30 của thế

kỷ XX và là nguyên nhân chính dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ hai tàn khốc Hậuquả của cuộc khủng hoảng này và của Chiến tranh thế giới thứ hai là nhiều chế độ đã

bị sụp đổ, nhiều nền kinh tế đã bị tan rã Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm

1997 - 1998 bắt đầu từ Thái Lan đã dẫn đến sự sụp đổ của một số nền kinh tế và mộtvài chế độ chính trị Những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất từ cuộc khủng hoảng tàichính này là In-đô-nê-xi-a, Hàn Quốc và Thái Lan Bên cạnh những tác động tàn pháđến các nền kinh tế của các nước, khủng hoảng kinh tế giai đoạn 1997 - 1998 đã dẫntới xung đột xã hội, mất ổn định chính trị ở một số nước mà đỉnh điểm của nó là sự ra

đi của Tổng thống Xu-hác-tô (Suharto) ở In-đô-nê-xi-a và Thủ tướng Chao-va-lít oong-chai-i-út ở Thái Lan Các tổ chức Hồi giáo cực đoan và phong trào ly khai pháttriển mạnh ở In-đô-nê-xi-a khi chính quyền trung ương của nước này suy yếu Cuộckhủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 xuất phát từ khủng hoảng nợ dưới chuẩn của

I-Mỹ năm 2007, mà nguyên nhân của nó bắt nguồn từ những chính sách tín dụng dễ dãicủa các ngân hàng và tổ chức đầu tư bất động sản, thông qua mối quan hệ kinh doanhchằng chịt của hệ thống ngân hàng thời đại toàn cầu hoá Cuộc khủng hoảng này đãxuất hiện khi hàng loạt các định chế tài chính lớn lần lượt sụp đổ, nhất là sự phá sảncủa Ngân hàng Lehman Brothers Đây là ngân hàng mà chỉ một năm trước đó cònđược đánh giá là ngân hàng đầu tư bất động sản tốt nhất nước Mỹ Sau Ngân hàngLehman Brothers là các ngân hàng lớn khác, như Bradford and Bingley (Anh), HypoReal Estate (Đức), Fortis (Bỉ), Dexia (Pháp), Yamamoto Life (Nhật Bản) Năm 2008,

22 ngân hàng thương mại ở Mỹ phá sản (trong đó đứng đầu danh sách những thể chếtài chính xấu số này là Washington Mutual với tổng tài sản 307 tỷ USD) Riêng quýIII-2008 có 171 ngân hàng nằm trong danh sách “có vấn đề”, mức cao nhất kể từ năm1995

Bản chất của các cuộc khủng hoảng đã được các nhà kinh tế hệ thống lại, nhưKhủng hoảng cơ cấu (1929 - 1933) thể hiện trên các mặt như đầu tư quá nhiều, quátập trung vào lĩnh vực bất động sản và thị trường chứng khoán; Khủng hoảng hànghóa (1973-1975) là khủng hoảng năng lượng và lương thực, thực phẩm; Khủng hoảng

Trang 8

thể chế quản lý kinh tế - tài chính thể hiện ở việc sự điều tiết của nhà nước bị giảmdần và quản lý nhà nước lỏng lẻo Những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạngkhủng hoảng là: nhiều hoạt động của các định chế tài chính ngân hàng và định chế tàichính phi ngân hàng đã vượt tầm kiểm soát của nhà nước, sự ra đời, vận hành thiếukiểm soát các định chế trung gian trong nền kinh tế thị trường, các hoạt động đầu cơquốc tế không được quản lý, thị trường tự do tuyệt đối được khuyến khích, nhà nướchầu như buông lỏng sự quản lý, điều tiết đối với thị trường

1.5.2 Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu có tác động phức tạp đến

an ninh, quốc phòng và bảo vệ quốc gia

Thứ nhất, nguồn lực kinh tế bị giảm sút, tiềm lực an ninh, quốc phòng của

không ít quốc gia bị thu hẹp

Khi khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu diễn ra, các quốc giakhó tránh khỏi bị ảnh hưởng tác động của nó, nhiều quốc gia cũng lâm vào khủnghoảng và chịu tổn thất nặng nề Khi lâm vào tình trạng khủng hoảng, các quốc giathường gặp phải tình trạng vốn bị chuyển ồ ạt ra bên ngoài, đầu tư giảm sút mạnh, nềnkinh tế hầu như bị tê liệt Các tổ chức kinh tế không có khả năng và điều kiện để vayvốn phát triển sản xuất, kinh doanh Niềm tin thị trường bị mất, giá trị tài sản của cánhân và tổ chức, kể cả của nhà nước giảm sút nghiêm trọng Hậu quả của nó là cácđịnh chế tài chính và doanh nghiệp sụp đổ, phá sản, nhà nước phải dành một lượng tàichính để can thiệp vào nền kinh tế; nhiều vấn đề xã hội phức tạp xuất hiện đòi hỏiphải được giải quyết, các khoản nợ bỗng chốc tăng cao, trong khi nền kinh tế khôngtăng trưởng hoặc tăng trưởng thấp đã làm cho tiềm lực kinh tế của các nước này bị cạnkiệt Khi nguồn lực kinh tế bị cạn kiệt thì nguồn lực cho quốc phòng, an ninh cũnggiảm theo Các nhu cầu trang bị khí tài sẽ không được đáp ứng, các nguồn lực để nuôiquân bị cắt giảm, các hoạt động quốc phòng - an ninh bị thu hẹp

Bên cạnh những hệ lụy trên, nhiều quốc gia còn phải chịu gánh nặng nợ côngtăng đột biến, nên mọi nguồn lực chỉ còn tập trung vào trả nợ và giải quyết những vấn

đề phát sinh, không còn khả năng lo cho quốc phòng - an ninh Từ đây khả năng tácchiến bảo đảm an ninh - quốc phòng và bảo vệ đất nước gặp khó khăn một cách rõ nét

và sẽ giảm sút Khi tiềm lực tài chính và nguồn lực an ninh, quốc phòng bị giảm sútthì nguy cơ đe dọa sự toàn vẹn lãnh thổ sẽ hiện hữu nếu có dã tâm xâm lược từ bênngoài Hơn nữa, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu sẽ làm cho các

Trang 9

quốc gia có nền kinh tế phụ thuộc vào nước ngoài và nội lực kinh tế thấp sẽ bị ảnhhưởng khi phải chấp nhận những điều kiện ràng buộc của các nước mạnh hơn và củacác tổ chức tài chính quốc tế Ví dụ, để hỗ trợ hệ thống tài chính toàn cầu, Quỹ Tiền tệquốc tế (IMF) hay Ngân hàng Thế giới (WB) đã thiết lập hoạt động và các chươngtrình cho vay khẩn cấp trị giá nhiều tỷ USD Các quốc gia mạnh hơn và các tổ chức tàichính quốc tế thường đưa ra các điều kiện ràng buộc phức tạp đối với khoản vay, trong

đó có việc cho phép các nước và các tổ chức quốc tế can thiệp sâu không chỉ vào quátrình hoạch định chính sách vĩ mô mà cả vấn đề an ninh - quốc phòng và bảo vệ tổquốc của các nước có nền kinh tế phụ thuộc Ví dụ, trong cuộc khủng hoảng tài chínhĐông Nam Á năm 1997, Chính phủ In-đô-nê-xi-a, Thái Lan, đã chịu tác động củaIMF Bên cạnh đó, một số nước lớn muốn nhân cơ hội khủng hoảng tài chính và suythoái kinh tế của các nước nhỏ để ràng buộc các nước nhỏ hơn phải phụ thuộc vàomình nhiều hơn trên các mặt kinh tế, chính trị, xã hội và ngoại giao và có khi cả lãnhthổ

Thứ hai, xã hội biến đổi phức tạp làm cho sức mạnh an ninh - quốc phòng bị

giảm sút

Trước thực tế tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu

đã đưa đến sự phá sản của các doanh nghiệp, ngân hàng, đời sống của người dân bịgiảm sút, tình trạng không có việc làm tăng nhanh và thất nghiệp tăng đột biến Khigiá cả tăng cao, đồng lương và thu nhập của người dân không bảo đảm cho cuộc sốngcủa họ và nhiều người không có thu nhập lâm vào cảnh cùng cực thì tất yếu sinh rabiến loạn Xã hội biến loạn sẽ kéo theo biểu tình, bãi công, trộm cắp xuất hiện, gây rối

sẽ phát triển , đe dọa đến sự an bình của xã hội Gặp phải hoàn cảnh này, không ítchính trị gia đứng đầu nhà nước phải từ chức, các chính phủ phải ra đi và có trườnghợp cả một chính thể, bộ máy cầm quyền bị thay đổi Khi chính thể cầm quyền sụp đổthì lực lượng quốc phòng - an ninh cũng từ đó xáo trộn, sức chiến đấu vì thế giảm sútnghiêm trọng, khả năng bảo đảm an ninh, quốc phòng và bảo vệ đất nước bị yếu điđáng kể Đồng thời, khi trong nước rối ren, thù trong xuất hiện thì giặc ngoài sẽ có cơhội nhòm ngó nên sự toàn vẹn lãnh thổ rất dễ bị xâm phạm, chủ quyền quốc gia bịlung lay Thực tế cho thấy, nước lớn sẽ rất dễ xâm lược lãnh thổ của nước nhỏ hơn khinước đó phải gánh chịu hậu quả nặng nề từ khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế

Trang 10

đã diễn ra trên thế giới Nguy cơ đe dọa chủ quyền lãnh thổ đối với những nước nhỏ làluôn hiện hữu.

Thứ ba, rối loạn toàn cầu, xung đột xảy ra nhiều nơi sẽ tác động mạnh đến an

ninh - quốc phòng và bảo vệ tổ quốc của mỗi nước

Thực tế các cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu cho thấy,trong và sau mỗi cuộc khủng hoảng đã diễn ra sự bất ổn chính trị ở nhiều nước vàxung đột vũ trang ở nhiều khu vực trên thế giới Sự lây lan của các cuộc xung đột vũtrang ở các khu vực kéo theo sự sụt giảm và đổ bể của nền kinh tế thế giới Khi kinh tếtoàn cầu sụt giảm thì các quốc gia đều bị ảnh hưởng (vì hiện nay đã toàn cầu hóa rấtcao, không có một nền kinh tế nào có thể biệt lập mà phát triển được, đồng thời cũngkhông có nền kinh tế nào có thể tránh được tác động khi có biến động của nền kinh tếthế giới) Điều này tác động rất lớn đến các nước về vấn đề an ninh - quốc phòng vàbảo vệ tổ quốc

Thứ tư, khủng bố và di chuyển dân cư làm cho quốc phòng, an ninh của nhiều

quốc gia bị đe dọa

Hoạt động khủng bố ngày một lan rộng cùng với làn sóng người tị nạn đến từXy-ri dường như là một đại họa đối với châu Âu và tác động không tốt đến cả thế giới

Khi khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế lên cao thì hành vi phạm tội càng trởnên cực đoan, các tổ chức khủng bố sẽ hoạt động tàn bạo hơn và làn sóng tị nạn sẽtăng mạnh hơn làm cho tình hình của các quốc gia có người tị nạn và hoạt động khủng

bố hoành hành càng trở nên phức tạp Với lý do đó, chi phí cho an ninh, quốc phòngcủa các nước phải tăng đột biến mới mong bảo đảm được trật tự

1.6 Các cuộc khủng hoảng tài chính trong lịch sử

- Cơn sốt hoa Tulip ở Hà Lan 1637

- Khủng hoảng Công ty Nam Dương ở Anh 1720

- Đại khủng hoảng ở Mỹ 1929

- Thỏa thuận Bretton Woods 1944 – 1971

- Khủng hoảng nợ các nước Châu Mỹ La tinh thập niên 1980

- Ngày thứ Hai đen tối 1987

- Khủng hoảng cơ chế tỷ giá châu Âu 1992 – 1993

- Khủng hoảng ở Mexico 1994 – 1995

Trang 11

- Khủng hoảng Đông Á 1997 – 1998

- Khủng hoảng ở Argentina 2001 – 2002

- Khủng hoảng tài chính ở Mỹ 2007 – 2009

Trang 12

PHẦN 2: KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TÍN DỤNG TẠI MỸ VÀ TÁC

ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU

1.7 Nguyên nhân và diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính – tín dụng tại Mỹ

Chính sách tiền tệ của NHTW đượcnới lỏng, dư nợ tín dụng của hệthống NHTM cũng được mở rộng theo, nhiều khoản vay mua nhà dưới chuẩn đượcthực hiện

- Chính sách tiền tệ được nới lỏng

- Lạm phát gia tăng

- Từ ngày 30/06/2004,FED đã liên tục điều chỉnh lãi suất FED FUNDS gia tăng

từ 1% lên 1.25, 1.50, …và 5.25% vào ngày 30/06/2006, kéo theo lãi suất NHTM tăng

từ 4% lên 8-9%/năm

- Các khoản tiền lãi vay phải trả của những người mua nhà đã gia tăng mạnh và

đe dọa khả năng trả nợ Thị trường bất động sản Mỹ bắt đầu đóng băng và sụt giảmgiá trị, nợ quá hạn, nợ khó đòi gia tăng và đó là nguyên nhân chính dẫn đến khủnghoảng tài chính tại Mỹ

- Yếu tố châm ngòi: Fed thắt chặt tiền tệ vàThị trường nhà ở xấu đi

1.7.2 Diễn biến

1 Diễn biến thay đổi của lãi suất chính sách ở Hoa Kỳ (đường màu

xanh).

Ngày đăng: 02/10/2022, 16:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Mơ hình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ hai (Mơ hình kỳ vọng xoay vòng) - Khủng hoảng tài chính tín dụng tại mỹ và tác động của nó đối với nền kinh tế toàn cầu 2
h ình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ hai (Mơ hình kỳ vọng xoay vòng) (Trang 3)
Mô hình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ nhất - Khủng hoảng tài chính tín dụng tại mỹ và tác động của nó đối với nền kinh tế toàn cầu 2
h ình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ nhất (Trang 3)
Mơ hình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ ba - Khủng hoảng tài chính tín dụng tại mỹ và tác động của nó đối với nền kinh tế toàn cầu 2
h ình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ ba (Trang 4)
3. Tình hình phá sản 2007-2008 - Khủng hoảng tài chính tín dụng tại mỹ và tác động của nó đối với nền kinh tế toàn cầu 2
3. Tình hình phá sản 2007-2008 (Trang 13)
Với tình hình khủng hoảng chi phí vốn trở nên đắt đỏ hơn và thị trường xuất khẩu có khả năng bị thu hẹp nên dịng vốn chảy vào Việt Nam bị giảm sút là khôgn tránh khỏi - Khủng hoảng tài chính tín dụng tại mỹ và tác động của nó đối với nền kinh tế toàn cầu 2
i tình hình khủng hoảng chi phí vốn trở nên đắt đỏ hơn và thị trường xuất khẩu có khả năng bị thu hẹp nên dịng vốn chảy vào Việt Nam bị giảm sút là khôgn tránh khỏi (Trang 18)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w