Nó là tổng thể các quan hệ kinh tế trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân, nó gắn liền với sự ra đời vàtồn tại và hoạt động của nhà nước, phát t
Trang 1CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH1.1 Tổng quan về thị trường tài chính
Xung quanh vấn đề tài chính có rất nhiều quan niệm khác nhau Nhưng tổngkết lại, tài chính mang những đặc điểm sau : tài chính chỉ ra đời và tồn tại trongnhững điều kiện lịch sử nhất định, khi mà ở đó có những hiện tượng kinh tế xã hộikhách quan nhất định xuất hiện và tồn tại Có thể xem những hiện tượng kinh tế xãhội khách quan đó như tiền đề khách quan quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triểncủa tài chính với tư cách là phạm trù lịch sử Tài chính thuộc lĩnh vực phân phốidưới hình thái giá trị Nó là tổng thể các quan hệ kinh tế trong quá trình hình thành
và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân, nó gắn liền với sự ra đời vàtồn tại và hoạt động của nhà nước, phát triển trong các mối quan hệ hữu cơ với nềnsản xuất hàng hoá và quan hệ hàng hoá tiền tệ Hay nói cách khác tài chính là quátrình phân phối các nguồn lực tài chính có hạn nhằm đáp ứng nhu cầu các chủ thểtrong nền kinh tế
Bản chất của tài chính thể hiện ở những khía cạnh sau : tài chính là nhữngquan hệ kinh tế nhưng không phải mọi quan hệ kinh tế trong xã hội đều thuộc phạmtrù tài chính Tài chính chỉ bao gồm những quan hệ phân phối dưới hình thái giá trị.Tài chính là những quan hệ phân phối phát sinh trong quá trình hình thành và sửdụng các quỹ tiền tệ Đây là một đặc trưng quan trọng của tài chính Tài chính lànhững quan hệ kinh tế chịu sự tác động trực tiếp của nhà nước, của pháp luật,nhưng tài chính không phải là luật lệ tài chính Luật tài chính là công cụ của nhànước để điều tiết các quan hệ tài chính nhằm đáp ứng yêu cầu của nhà nước
Trong nền kinh tế các quan hệ tài chính xuất hiện đan xen nhau liên hệ, tácđộng ràng buộc lẫn nhau trong một thể thống nhất tạo nên hệ thống tài chính Có thểchia hệ thống tài chính làm 2 kênh dẫn vốn : kênh dẫn vốn qua thị trường tài chính(trực tiếp), kênh dẫn vốn qua các trung gian tài chính như ngân hàng thương mại,
Trang 21.2 Khái niệm khủng hoảng tài chính
Khủng hoảng tài chính xảy ra trong các mối quan hệ tài chính và các kênhdẫn vốn trong nền kinh tế Khủng hoảng tài chính nảy sinh khi các mối quan hệ nàyđạt tới mức thấp có nghĩa là bên cung vốn không muốn tài sản tài chính mà mình cócho bên cầu vốn nữa Và điều này tác động lên các kênh dẫn vốn, làm cho nó bị têliệt không phát huy được tác dụng và do đó sẽ làm sụp đổ hoặc suy yếu các tổ chức,định chế tài chính Các tổ chức định chế tài chính này không bao giờ biệt lập vớinhau mà chúng có quan hệ mật thiết, do đó khủng hoảng tài chính thường làm sụp
đổ hàng loạt tổ chức, định chế, gây thiệt hại to lớn
Khủng hoảng tài chính là vấn đề có liên quan đến một phạm trù, đó là chu kìkinh doanh Quy luật chung của con đường phát triển được miêu tả như đồ thị hìnhsin Đó là bất kì một lĩnh vực nào cũng có thời kì phát triển rực rỡ, huy hoàng, cólúc ổn định và có thời gian thoái trào Nghiên cứu kinh tế Mỹ đã chỉ ra rằng tiền tệ -tài chính đóng góp một vai trò quan trọng trong việc tạo ra chu kì kinh doanh Mỗicơn suy thoái trong thế kỉ XX đã đứng liền sau một sự suy giảm tỉ lệ tăng trưởngtiền tệ Ngược lại nếu nền kinh tế lâm vào suy thoái cũng là nguyên nhân không nhỏdẫn đến các cuộc khủng hoảng tài chính Điều này được giải thích bởi quan hệ tàichính có mối liên hệ hữu cơ, mật thiết với nền sản xuất hàng hoá và quan hệ hànghoá tiền tệ
Các khái niệm về khủng hoảng tài chính :
- Khủng hoảng tài chính là sự đổ vỡ của thị trường tài chính mà trong đó
những lưa chọn bất lợi và tâm lý hoang mang đã trở nên xấu đi, dẫn đến hậu quả thịtrường tài chính không thể có những quỹ hiệu quả cũng như cơ hội đầu tư tốt nhất
(Định nghĩa của Frederic Mishkin, tác giả cuốn sách The Economics of Money,
Banking and Financial Markets).
- Khủng hoảng tài chính là tình trạng mà trong đó một bộ phận của nền tài
chính có những khoản nợ lớn hơn giá trị tài sản thực có trên thị trường gây ảnh
Trang 3dẫn tới việc Chính phủ bắt buộc phải có những can thiệp (Định nghĩa của
Sundarajan và Balino năm 1991).
- Khủng hoảng tài chính là việc mất niềm tin vào giá trị của đồng tiền hoặc
những tài sản tài chính khác khiến cho các nhà đầu tư quốc tế thu hồi quỹ đầu tưcủa họ ra khỏi quốc gia bị khủng hoảng
1.3 Dấu hiệu của khủng hoảng tài chính
Tùy theo mức độ và phạm vi, khủng hoảng tài chính thể hiện qua các điểm sau đây :
- Sự giảm giá dây chuyền của các đồng tiền
- Tỷ giá hối đoái tăng đột biến và dây chuyền
- Lãi suất tín dụng gia tăng: lãi suất tăng kéo theo cầu tiền tệ, cầu tín dụng sụtgiảm làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bị suy giảm
- Hệ thống ngân hàng bị tê liệt
- Thị trường cổ phiếu sụt giá nhanh chóng
- Các hoạt động kinh tế bị suy giảm
1.4 Phân loại khủng hoảng tài chính
1.4.1 Khủng hoảng tiền tệ (Currency crisis)
Khủng hoảng tiền tệ còn được gọi là khủng hoảng tỷ giá hối đoái nổ ra khihoạt động đầu cơ tiền tệ dẫn đến sự giảm giá một cách đột ngột của đồng nội tệhoặc trường hợp buộc các cơ quan có trách nhiệm phải bảo vệ đồng tiền của nướcmình bằng cách nâng cao lãi suất hay chi ra một khối lượng lớn dự trữ ngoại hối
1.4.2 Khủng hoảng ngân hàng (Banking Crisis)
Khủng hoảng ngân hàng rất hay gặp do ngân hàng là trung gian tài chínhnhận tiền gửi của các cá nhân và pháp nhân cho vay nên rủi ro dồn cả về mặt sốlương, thời hạn cũng như chùng loại tiền Ngân hàng có thể lâm vào khủng hoảng
do cho vay quá mức và không thu hồi lại được dẫn đến tỷ lệ nợ quá hạn cao làm chongân hàng không thể thanh toán các nghĩa vụ khi đến hạn Ngân hàng là một hệthống chặt chẽ nên khủng hoảng rất dễ lây lan và tạo khủng hoảng cả hệ thống
Trang 4chặt các điều kiện tín dụng hay nâng lãi suất để bù đắp rủi ro và kết quả là đẩy cácdoanh nghiệp vào tình thế khó khăn do thiếu nguồn tài chính để hoạt động.
1.4.3 Khủng hoảng kép (Twin Crisis)
Khủng hoảng kép xảy ra khi khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng ngân hàngxảy ra đồng thời với nhau
1.4.4 Khủng hoảng nợ quốc gia (National Debt Crisis)
Trường hợp một quốc gia vay nợ nước ngoài (vay chính thức, vay thương mại) quánhiều, sử dụng không hiệu quả vốn nên không trả được nợ đúng hạn, lâm vào khủnghoảng buộc phải xin hoãn nợ, xóa nợ thậm chí phải tuyên bố vỡ nợ (như trường hợpcủa CHDCND Triều Tiên) Có nhiều tiêu chí đánh giá khả năng thanh toán nguồnvay nước ngoài của một quốc gia, trong đó chỉ tiêu quan trọng nhất là tỷ lệ giữanguồn vay nước ngoài cả gốc và lãi mà quốc gia đó trả trong một năm trên tổng kinngạch xuất khẩu của quốc gia đó trong năm đó hoặc năm trước đó Bình thương chỉtiêu này nằm dưới 20%, nếu chỉ tiêu này lớn hơn 20% chứng tỏ lượng vốn vay nướcngoài của quốc gia đó quá lớn Khủng hoảng nợ xảy ra khá nhiều (Argentina, haynhiều nước châu Phi vừa qua) cùng với tiến trình toàn cần hóa kinh tế do các điềukiện vay nợ nước ngoài trở nên dễ dàng hơn
1.4.5 Khủng hoảng thị trường chứng khoán (Crisis of Security
Market)
Với tư cách là đỉnh cao của kinh tế thị trường, thị trường chứng khoán rấtngạy cảm và phức tạp nên cũng dễ đổ vỡ Khủng hoảng thị trường chứng khoángxảy ra khi giá chứng khoán biến động mạnh (“tuột dốc” hay “giảm không phanh”quá nhanh) ngoài tầm kiểm soát và do hiệu ứng “bầy đàn” làm cho chứng khoán bị
“bán đổ”, “bán tháo” hay thị trường bị “đông cứng” vì không có giao dịch tạo ra sựthâm hụt giữa tiền (chứng khoán) vào so với tiền ra thị trường chứng khoán (quỹchứng khoán)
1.4.6 Khủng hoảng cán cân thanh toán/ Cán cân vãng lai/ Cán cân
vốn (Crisis of Balance of Payment/ Crisis of Current Account/
Trang 5Khủng hoảng xảy ra khi cán cân này thâm hụt quá nặng trong thời gian dài vàkhông có nguồn bù đắp Khủng hoảng cán cân vãng lai thường xảy ra khi cán cânthương mại (nhập trừ đi xuất) bị thâm hụt Khủng hoảng cán cân thanh toán khitổng các luồng ngoại tệ ra lớn hơn ngoại tệ vào gây nên thâm hụt nặng nề.
1.4.7 Khủng hoảng khả năng tính thanh khoản (Crisis of Liquidity)
Nếu các loại khủng hoảng tài chính ở trên liên quan tới cả ba mặt : số lượng,thời hạn và chủng loại tiển thì khủng hoảng tính thanh khoản là sự mất cân đối chủyếu liên quan tới thời hạn và chủng loại của tài sản “giống như tiền” và một số loạitài sản đặc thù
1.4.8 Khủng hoảng ngân sách (Budget Crisis)
Ngân sách nhà nước thâm hụt nặng và kéo dài trong khi các nguồn thu bùđắp thâm hụt (in tiền, vay nợ trong và ngoài nước) bị hạn chế hay không thể lạmdụng hơn nữa nếu muốn tránh hậu quả như vỡ nợ hay bùng nổ lạm phát
1.5 Các nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tài chính
1.5.1 Nguyên nhân bên ngoài
Như đã đề cập ở trên, các quan hệ tài chính là một phần của quan hệ kinh tế,
có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với nền sản xuất hàng hoá và quan hệ hàng hoátiền tệ Hệ thống tài chính được coi như huyết mạch trong nền kinh tế Khi nền kinh
tế suy thoái, tức là nền sản xuất hàng hoá giảm sút, không thu được lợi nhuận Đểđảm bảo an toàn cho tiền của mình bên cung vốn muốn rút vốn lại hoặc khôngmuốn cho vay vì sợ không thu hồi được nợ Do đó các ngân hàng, tổ chức tài chính
sẽ phải đối mặt với một lượng tiền mặt lớn để trả cho người gửi, dẫn đến nguy cơphá sản Trên thị trường chứng khoán lúc này giá trị thực của các công ty niêm yết
sẽ tụt dốc làm xuất hiện tình trạng bán tháo cổ phiếu, trái phiếu…
Ngoài ra các tài sản do các tổ chức định chế tài chính nắm giữ cũng bị mấtgiá nghiêm trọng làm giá trị thực của chúng bị giảm, gây nên tình trạng khủnghoảng Tính thanh khoản của thị trường theo đó cũng đi xuống
Trang 6Chẳng những thế, tình trạng làm ăn thua lỗ, phá sản của các công ty, tậpđoàn sản xuất cũng kéo theo những khoản đền bù khổng lồ từ các công ty bảo hiểmlàm cho các công ti này cũng bị sụp đổ theo do không đủ khả năng chi trả
Suy thoái kinh tế là vấn đề mang tính chu kì do đó khủng hoảng tài chính bắtnguồn từ suy thoái kinh tế cũng mang tính chu kì Nền kinh tế suy thoái chứng kiến
sự thua lỗ, phá sản của hàng loạt không những của hãng sản xuất mà còn cả sự sụp
đổ trong lĩnh vực tài chính Suy cho cùng tài chính cũng là một bộ phận của kinh tế
1.5.2 Nguyên nhân bên trong
Trên thị trường tài chính, khủng hoảng có thể do nguyên nhân từ hoạt độngbên trong của chính nền tài chính ấy Trong nền tài chính của bất kì một quốc gianào dù phát triển đến đâu cũng phải đối mặt với những vấn đề như: thông tin khôngcân xứng, chọn lựa đối nghịch, rủi ro đạo đức…
1.6 Hệ quả của khủng hoảng tài chính
Khủng hoảng tài chính, nói chung, thường gây ra những tác động lớn đối với
xã hội Bởi kinh tế đóng vai trò then chốt trong việc ổn định trật tự xã hội, nên khinền kinh tế bị tác động mạnh, nó sẽ kéo theo những ảnh hưởng (cả tích cực lẫn tiêucực) trong mọi lĩng vực, mọi khía cạnh của đời sống
Xét về mặt tiêu cực, khủng hoảng tài chính góp phần không nhỏ làm đảo lộntrật tự xã hội Trong tất cả các doanh nghiệp, tài chính luôn là vấn đề cốt lõi nhằmduy trì sự hoạt động của doanh nghiệp và cuộc sống của người lao động Khi gặpphải khủng hoảng tài chính, các doanh nghiệp khó có khả năng mở rộng đầu tư vàphát triển, gây sự đình trệ trong công việc, thậm chí phá sản Theo hiệu ứng dâychuyền, sự phá sản của doanh nghiệp này sẽ tác động tới các doanh nghiệp khác vàcao hơn nữa là toàn bộ nền kinh tế (tùy theo quy mô của doanh nghiệp) Khôngnhững thế, khủng hoảng tài chính còn góp phần gây ra những bất ổn về xã hội dolượng người thất nghiệp gia tăng
Bên cạnh đó, khủng hoảng tài chính cũng có những tác động tích cực lên nềnkinh tế Nó báo hiệu sự chấm dứt thể độc tôn của các “ông lớn” trên thị trường tài
Trang 7chính cũng buộc người ta phải xem xét, sửa đổi các nguyên tắc đã quy định lên hệthống tài chính từ trước tới nay, loại bỏ những nguyên tắc đã không còn thích hợp
để thích ứng với những biến đổi trong xã hội, từ đó có cái nhìn đúng đắn hơn và chủđộng ứng phó với những cuộc khủng hoảng trong tương lai
Trang 81.7 Một số phương pháp ngăn ngừa cơ bản
Tại cuộc họp các bộ trưởng tài chính tại Washington tháng 5 năm 1999, người ta thông qua bản kế hoạch ngăn ngừa khủng hoảng như sau :
- Tránh tác động qua lại giữa mất cân đối bảng cân đối tài chính của ngânhàng với tỷ giá cố định
- Nhiều ý kiến cho rằng chính ngân hàng ở các thị trường mới nổi cần phảingăn cản những khoản vay ngoại tệ ngắn hạn nhiều rủi ro
- Tránh áp dụng chế độ tỷ giá cố định là một biện pháp quan trọng làm cho rủi
ro tiền tệ không được bảo hiểm trở nên rõ ràng và đơn giản hơn, song vẫn chưa đủ
về những biến động tiền tệ vẫn xảy ra cả khi đã áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi
- Áp dụng biện pháp kiểm soát vốn nghĩa là sử dụng các hình thức cấm đoánsong phải đặc biệt chú ý để không dẫn tới sự lạm dụng, tham nhũng hay tạo ranhững kẽ hở
- Thuế có vẻ như là biện pháp được ưa chuộng, chẳng hạn Chilê đã thành côngtrong việc đánh thuế những khoản vay bằng ngoại tệ mặc dù biện pháp này khá thôbạo
Nhiều nhà kinh tế đề xuất các giải pháp ngăn ngừa như sau :
- Nền kinh tế quốc gia không thể dựa chủ yếu vào vốn bên ngoài đặc biệt làvốn vay ngắn hạn và đầu tư vào thị trường cổ phiếu Nhà nước cần theo dõi và cóchính sách hạn chế vay mượn nước ngoài dù tư nhân hay Nhà nước ở mức độ nềnkinh tế có thể chịu đựng được
- Xác định đúng tỷ giá hối đoái nhằm tạo tính cạnh tranh cho xuất khẩu, tănghiểu quả sử dụng hàng nhập khẩu Cân bằng cán cân thương mại đồng thời có biệnpháp ngăn chặn dòng vốn ngắn hạn có tính chất đầu cơ
- Cần có biện pháp giảm áp lực tăng giá bất động sản tránh tình trạng nền kinh
tế “bong bóng” nhằm tạo môi trường ổn định cho đầu tư và đời sống nhân dân.Tăng thuế thu nhập do mua đi bán lại trong thời gian ngắn là biện pháp hữu hiệunhằm giảm bớt nhu cầu đầu cơ
Trang 9- Ngăn chặn tình trạng “bong bóng” trên thị thường cổ phiếu, cần hạn chếngười nước ngoài mua cổ phiếu và vay tín dụng ngân hàng để mua cổ phiếu cũngnhư dùng chứng khoán để thế chấp vay mượn.
Kết luận: Theo như trên thì kiểm soát vốn là công cụ ngăn ngừa khủng hoảng
tài chính – tiền tệ hữu hiệu nhất vì :
- Kiểm soát vốn có thể được sử dụng như một phương pháp để đảm bảo sựđộc lập của chính sách tiền tệ
- Kiểm soát vốn có thể được biện minh như một công cụ nhằm cải thiện anninh kinh tế Sự đảm bảo tuyệt đối của Chính phủ đối với các khoản nợ nước ngoài
đi kèm với hệ thống thông tin tương xứng giữa ngân hàng và các cổ đông (nhữngngười gửi tiết kiệm) cũng đưa đến an sinh xã hội
- Tự do hóa tài chính là tất yếu khách quan với một quốc gia mong muốn tănglợi ích đầu tư, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, nâng cao mức sống Tuy nhiên, vớicác thị trường tài chính chưa hoàn thiện, các dòng chuyển dịch vốn không ổn địnhthì việc kiểm soát vốn sẽ giảm bớt những rủi ro đạo đức, lựa chọn nghịch, đối xửkhông công bằng… nếu có các chính sách hợp lý như thuế, giám sát ngân hàng sựđảm bảo của Chính phủ và pháp luật…
Trang 10CHƯƠNG 2: SỨ MỆNH CỦA TÀI CHÍNH CÔNG TRONG KHỦNG
HOẢNG TÀI CHÍNH Ở MỸ GIAI ĐOẠN 2007-2009
Khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ 2007-2009 là cuộc khủng hoảng trong nhiều lĩnh vực tài chính (tín dụng, bảo hiểm, chứng khoán) diễn ra từ năm 2007 Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp Và bản thân nó lại là nguồn gốc trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-
2010 Cuộc khủng hoảng trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, lộ rõ những điểm yếu tràn lan trong khuôn khổ luật lệ của hệ thống tài chính toàn cầu
1.
2.1 Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tài chính
Cuộc khủng hoảng lần này không phải là quá bất ngờ với giới tài chính Mỹnói riêng và thế giới nói chung Nó là kết quả của một chuỗi những rủi ro liên tiếp
mà chính các tổ chức tài chính, ngân hàng ở Mỹ tạo ra cho chính mình
Có thể tóm lại một số nguyên nhân chính, mà thực chất là hệ quả của nhau –
đã dẫn đến cuộc khủng hoảng tất yếu này ở Mỹ như sau:
2.1.1 Sự suy sụp của thị trường bất động sản - nguyên nhân trực
tiếp và rõ ràng nhất
Hầu hết người dân Mỹ khi mua nhà là phải vay tiền ngân hàng sau đó trả vốnlẫn lãi trong một thời gian dài (20-30 năm) với lãi suất thả nổi Do đó, có một sựliên hệ chặt chẽ giữa lãi suất và tình trạng của thị trường bất động sản Khi lãi suấtthấp và dễ vay mượn thì người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên cao; khi lãisuất cao thì người bán nhiều hơn người mua, đẩy giá nhà cửa xuống thấp Đâychính là cơ chế tạo nên hiện tượng bong bóng bất động sản – hiện tượng chỉ tìnhtrạng thị trường trong đó giá bất động sản hoặc tài sản bất động sản được giao dịchtăng đột biến đến một mức giá vô lí hoặc không bền vững
Có 3 yếu tố chính tạo bong bóng bất động sản ở Mỹ:
Trang 11- Thứ nhất, từ đầu năm 2011, đặc biệt là sau cuộc khủng bố 11 / 9, khi mà sau
vụ khủng bố giá các cổ phiếu Mỹ sụt giảm, để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ,Cục dự trữ liên bang Mỹ (Federal Reserve System – Fed) đã liên tục hạ thấp lãisuất, dẫn đến việc các ngân hàng cũng hạ lãi suất cho vay tiền mua bất động sản.Vào giữa năm 2000 thì lãi suất cơ bản của Fed là trên 6% nhưng sau đó lãi suất nàyliên tục được cắt giảm, cho đến giữa năm 2003 thì chỉ còn 1%
- Hai là, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo có nhà ở
của Chính phủ lúc bấy giờ là tạo điều kiện cho dân nghèo được vay tiền dễ dànghơn để mua nhà Việc này phần lớn được thực hiện thông qua hai công ty được bảotrợ bởi Chính phủ là Fannie Mae và Freddie Mac Hai công ty này giúp đổ vốn vàothị trường bất động sản bằng cách mua lại các khoản cho vay của các ngân hàngthương mại, biến chúng thành các loại chứng từ được đảm bảo bằng các khoản vaythế chấp, rồi bái lại cho các nhà đầu tư ở phố Wall, đặc biệt là các ngân hàng đầu tưkhổng lồ như Bear Stearns và Merrill Lynch
- Ba là, khế ước nhận nợ của người mua nhà trở thánh một loại chứng khoán
(chứng khoán phái sinh), được ngân hàng thông qua người môi giới đưa vào giaodịch trên thị trường thứ cấp Trên thị trường này, nhiều nhà đầu tư cá nhân thôngqua người môi giới đã bỏ tiền ra mua loại chứng khoán này để nhận lãi hằng năm
mà không biết rõ nó là cái gì
Vì vậy thị trường bất động sản trở nên rất sôi động, có rất nhiều người thunhập thấp hoặc không có tín dụng tốt nhưng vẫn đổ xô đi mua nhà Để có thể đượcvay, nhóm người này thường phải trả lãi suất cao hơn và thương được cho mượndưới hính thức lãi suất điều chỉnh theo thời gian, khoản tiền cho vay dành cho nhómnày đã tăng vùn vụt Theo các ước tính thì nó tăng từ 160 tỉ USD ở năm 2001 lên
540 tỉ USD năm 2004 và trên 1.300 tỉ USD vào năm 2007 (10% GDP của Mỹ).Fannie Mae đã mạnh tay hơn trong việc mua lại các khoản cho vay đầy mạo hiểm
do phải đối đầu với cạnh tranh nhiều hơn từ các công ty khác, chẳng hạn nhưLehman Brothers
Trang 12 Vì dễ vay cho nên nhu cầu mua nhà lên rất cao, kéo theo việc tăng liên tụcgiá bất động sản Giá nhà bình quân đã tăng lên 54% chỉ trong vòng 4 năm từ 2001đên 2005 Việc này cũng dẫn đến vấn đề đầu cơ và ỷ lại là giá nhà sẽ tiếp tục lên.
Hệ quả là người ta sẵn sang mua nhà với giá cao, bất kể giá trị thực và khả năng trả
nợ sau này vì họ nghĩ nếu cần sẽ bán lại để trả nợ ngân hàng mà vẫn có lời Nhưngsau đó, giá bất động sản không ngừng giảm xuống, giá trị các căn hộ ngày càngthấp hơn các khoản tín dụng đã cấp Hạn mức tín dụng giảm xuống thì ngân hàngthu hồi nợ, nhưng người mua nhà không có khả năng thanh toán
2.1.2 Cho vay dưới chuẩn – nguyên nhân sụp đổ thị trường bất
động sản và cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ
Từ nhiều năm qua, các ngân hàng đầu tư Mỹ đã nới lỏng tối đa chính sách tíndụng cho các công ty và cá nhân mua bất động sản trả chậm làm nảy sinh nhữngdòng vốn vay giá rẻ và gia tăng một lương lớn người đi vay tiền Trên thực tế, vốnvay rẻ sẽ làm mất đi ý thức phòng ngừa rủi ro của người đi vay Người đi vay dễdàng trong việc định lại giá tài sản để tiếp tục một khoản vay mới nhằm trả chokhoản vay cũ Bên cạnh đó, việc cung cấp tín dụng dễ dàng như : không cần tài sảnthế chấp, tỷ lệ trả trước rất thấp, chỉ cần có mã số thuế Hoạt động cho vay này thật
sự không đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn để được cấp tín dụng nhưng vẫn đượcvay đã làm gia tăng rủi ro cho các ngân hàng Về phía ngân hàng, tuy hình thức chovay này rủi ro rất lớn, nhưng đổi lại là mức lãi suất rất cao Mặt khác, các công tytài chính cũng thực hiện hình thức cho vay này một cách rộng rãi và chuyển rủi roqua ngân hàng và nhà đầu tư thông qua một sản phẩm tài chính gọi là “mua lại cáckhoản nợ hay khoản phải thu”
Các công ty tài chính bán các khoản phải thu cho ngân hàng với một chiếckhấu cao, ngân hàng và các tổ chức tài chính chuyên biệt sẽ chứng khoán hóa cáckhoản phải thu, nghĩa là phát hành các chứng khoán để vay tiền với lãi suất cao Rõràng là rủi ro chồng rủi ro, và đương nhiên các chứng khoán có mức độ xếp hạng tínnhiệm càng thấp thì tỷ suất sinh lợi càng cao, thậm chí có chứng khoán không có
Trang 13mức độ xếp hạng tín nhiệm nhưng vẫn được nhà đầu tư trên toàn thế giới chấp nhận
do lãi suất siêu hạng
Một lương vốn đầu tư khổng lồ trên thế giới đã đổ vào thị trường bất độngsản Mỹ và khi thị trường đóng băng vào giữa năm 2007, các vụ đổ vỡ dây chuyền
đã xảy ra Các nhà đầu tư bất động sản vay tiền không đủ khả năng trả lãi vay, bấtđộng sản không bán được, chứng khoán phát hành trên các khoản phải thu này sụtgiá thê thảm, các ngân hàng không đủ khả năng trả các khoản nợ lâm vào tình trạngphá sản
2.1.3 Mua bán khống
Khi giới đầu cơ đoán chắc rằng cổ phiếu của những tập đoàn dính líu đếncho vay dưới chuẩn sẽ sụt giảm, họ ồ ạt vay những cổ phiếu này rồi ồ ạt bán ra, tạonên một áp lực giảm giá lớn không gì cứu vãn nổi Sau khi giá giảm đến một mứcnào đó, họ sẽ mua và trả lại nơi cho vay cộng thêm một ít phí, còn bao nhiêu tiềnchênh lệch họ sẽ hưởng trọn
Thậm chí, họ còn áp dụng cách thức mua bán khống đến hai lần (naked shortsale), tức là không thèm vay chứng khoán nữa mà cứ ra lệnh bán theo kiểu “đánhxuống” vì lợi dụng khe hở, mua bán ba ngày sau mới giao cổ phiếu Bộ trưởng Tưpháp bang New York, Andrew Cuomo than: “Họ giống như kẻ hôi của sau một cơnbão”
2.1.4 Thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ
Có tiền, các công ty cứ thoải mái cho người vay bằng tiền của các ngân hàngđầu tư cung cấp thông qua mua lại danh mục cho vay của các công ty này Các ngânhàng này trên cơ sở danh mục cho vay vừa mua lại sẽ phát hành CK để vay tiền.Danh mục cho vay được chia ra, ít rủi ro, rủi ro cao, tùy định mức tín nhiệm, nhàđầu tư tha hồ lựa chọn theo sự mạo hiểm của mình Có loại CK không cần định mứctín nhiệm, có thể thu lãi cao nhưng rủi ro cũng lớn
Như vậy, rủi ro trong cho vay đã được chuyển từ bên cho vay là công ty tàichính sang NH đầu tư Nhà đầu tư lắm tiền trên thế giới đã đổ tiền mua CK này,
Trang 14Giáo sư kinh tế Joseph Stiglitz, người được giải thưởng kinh tế Nobel kinh tế
2001, kết luận: “Hệ thống tài chính của Mỹ đã không thực hiện được hai tráchnhiệm chính của mình đó là quản lý rủi ro và phân chia vốn Cả hệ thống tài chính
Mỹ đã không làm những gì mà nó đáng ra phải làm - chẳng hạn như tạo ra các sảnphẩm để giúp người Mỹ quản lý được những rủi ro nguy hiểm nghiêm trọng củamình, như là giữ lại được nhà khi mức lãi suất cho vay tăng cao hoặc khi giá nhà rớtgiá”
2.1.5 Khủng hoảng niềm tin
Theo GS Joseph Stiglitz, cuộc khủng hoảng bắt đầu tư sự sụp đổ thảm khốccủa niềm tin Sự sụp đổ của một loạt các ngân hàng hàng đầu trong lĩnh vực đầu tưcủa Mỹ đã làm người dân chịu ảnh hưởng nghiêm trọng Hệ thống các ngân hàngtrong con mắt mọi người trở nên mong manh khi mà ba trong năm ông lớn tại thịtrường phố Wall sụp đổ là Merrill Lynch, Lehman Brothers, Bearstearns
Thị trường tài chính xoay quanh trục nguyên tắc độ tin cậy, và độ tin cậy đó
đã bị xói mòn, xuống cấp Sự sụp đổ của Lehman - ngân hàng tồn tại hơn 158 năm,cùng nước Mỹ trải qua rất nhiều khó khăn, trải qua các cuộc suy thoái là biểu tượngđánh dấu mức độ tin cậy đã xuống một mức thấp mới và dư âm của nó sẽ còn tiếptục
2.2 Tác động của khủng hoảng kinh tế đối với nền kinh tế
2.2.1 Đối với Mỹ
Cuộc khủng hoảng này là nguyên nhân chính làm cho kinh tế Mỹ rơi vào suythoái từ tháng 12 năm 2007 NBER dự đoán đây sẽ là đợt suy thoái nghiêm trọngnhất ở Mỹ kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Bình quân mỗi tháng từ tháng 1tới tháng 9 năm 2008, có 84 nghìn lượt người lao động Mỹ bị mất việc làm
Hàng loạt tổ chức tài chính trong đó có những tổ chức tài chính khổng lồ vàlâu đời bị phá sản đã đẩy kinh tế Mỹ vào tình trạng đói tín dụng Đến lượt nó, tìnhtrạng đói tín dụng lại ảnh hưởng đến khu vực sản xuất khiến doanh nghiệp phải thuhẹp sản xuất, sa thải lao động, cắt giảm các hợp đồng nhập đầu vào Thất nghiệp gia
Trang 15tăng ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập và qua đó tới tiêu dùng của các hộ gia đình lạilàm cho các doanh nghiệp khó bán được hàng hóa Nhiều doanh nghiệp bị phásản hoặc có nguy cơ bị phá sản, trong đó có cả 3 nhà sản xuất ô tô hàng đầu của Mỹ
là General Motors, Ford Motor và Chrysler LLC Các nhà lãnh đạo 3 hãng ô tô này
đã nỗ lực vận động Quốc hội Mỹ cứu trợ, nhưng không thành công Hôm 12 tháng
12 năm 2008, GM đã phải tuyên bố tạm thời đóng cửa 20 nhà máy của hãng ở khuvực Bắc Mỹ Tiêu dùng giảm, hàng hóa ế thừa đã dẫn tới mức giá chung của nềnkinh tế giảm liên tục, đẩy kinh tế Mỹ tới nguy cơ có thể bị giảm phát
Cuộc khủng hoảng còn làm cho dollar Mỹ lên giá Do dollar Mỹ là phươngtiện thanh toán phổ biến nhất thế giới hiện nay, nên các nhà đầu tư toàn cầu đã muadollar để nâng cao khả năng thanh khoản của mình, đẩy dollar Mỹ lên giá Điều nàylàm cho xuất khẩu của Mỹ bị thiệt hại
2.2.2 Đối với Thế giới
Mỹ là thị trường nhập khẩu quan trọng của nhiều nước, do đó khi kinh tế suythoái, xuất khẩu của nhiều nước bị thiệt hại, nhất là những nước theo hướng xuấtkhẩu ở Đông Á Một số nền kinh tế ở đây như Nhật Bản, Singapore, Hong Kong vàĐài Loan rơi vào suy thoái Các nền kinh tế khác đều tăng trưởng chậm lại Châu
Âu vốn có quan hệ kinh tế mật thiết với Mỹ chịu tác động nghiêm trọng cả về tàichính lẫn kinh tế Nhiều tổ chức tài chính ở đây bị phá sản đến mức trở thành khủnghoảng tài chính ở một số nước như Iceland, Nga Các nền kinh tế lớn nhất khu vực
là Đức và Ý rơi vào suy thoái, và Anh, Pháp, Tây Ban Nha cùng đều giảm tăngtrưởng Khu vực đồng Euro chính thức rơi vào cuộc suy thoái kinh tế đầu tiên kể từngày thành lập
Các nền kinh tế Mỹ Latinh cũng có quan hệ mật thiết với kinh tế Mỹ, nêncũng bị ảnh hưởng tiêu cực khi các dòng vốn ngắn hạn rút khỏi khu vực và khi giádầu giảm mạnh Ecuador tiến đến bờ vực của một cuộc khủng hoảng nợ