1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Khủng hoảng tài chính tiền tệ đông á và khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới năm 2008

42 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khủng hoảng tài chính tiền tệ đông á và khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới năm 2008
Tác giả Nhóm 9
Trường học Đại học Kinh tế TP.HCM
Chuyên ngành Kinh tế và Quản trị
Thể loại Nghề nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 327 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHÓM 9 Các thành viên trong nhóm 1 Nguyễn Thế Tùng 4 Lại Quý Vương 2 Nông Thị Tuyết 5 Nguyễn Linh Vy 3 Đặng Duy Việt 6 Đỗ Thị Xuân Chủ đề Khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á và khủng hoảng tài chính[.]

Trang 1

NHÓM 9

Các thành viên trong nhóm:

Chủ đề: Khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á và khủng hoảng tài chính tiền tệ

Thế giới năm 2008 có điểm giống và khác nhau như thế nào Nêu bài học choVN

Phân chia công việc của các thành viên trong nhóm:

1 Nguyễn Thế Tùng (Nhóm trưởng): Làm chương 1 phần tổng quan về khủnghoảng tài chính tiền tệ Làm bản word, slide và thuyết trình

2 Đỗ Thị Xuân: Làm chương 2 phần sơ lược về khủng hoảng tài chính tiền tệĐông Á và phần tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới vàkhủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á

3 Lại Quý Vương: Làm chương 2 phần sơ lược về khủng hoảng tài chính tiền

tệ thế giới năm 2008 và phần nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chínhtiền tệ thế giới và khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á

4 Nguyễn Linh Vy: Làm chương 2 phần biểu hiện của cuộc khủng hoảng tàichính tiền tệ thế giới và khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á

5 Đặng Duy Việt và Nông Thị Tuyết: Phụ trách phần chương 3 bài học đối vớiViệt Nam

Mục lục

Trang 2

Lời mở đầu 4

Chương 1: Tổng quan về khủng hoảng tài chính tiền tệ 5

1.1 Khái niệm về khủng hoảng tài chính 5

1.2 Phân loại khủng hoảng tài chính 5

1.3 Các mô hình khủng hoảng và nguyên nhân của khủng hoảng 6

Chương 2: Khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á và khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 2008 9

2.1 Sơ lược khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á và khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới 9

2.1.1 Khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á 9

2.1.2 Sơ lược về khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 9

2.2 Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á và cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới 10

2.2.1 Biểu hiện của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới và khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á 10

2.2.1.1 Những biểu hiện của khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á 10

2.2.1.2 Những biểu hiện của khủng hoảng tài chính tiền tệ Thế giới năm 2008 11

2.2.2 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới và khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á 14

2.2.2.1 Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới 2008 14

2.2.2.2 Nguyên nhân khủng hoảng tiền tệ Đông Á 20

2.2.2.2.1 Nguyên nhân bên trong: 20

2.2.2.2.2 Nguyên nhân bên ngoài: 23

Trang 3

2.2.3 Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới và khủng

hoảng tài chính tiền tệ Đông Á 262.2.3.1 Tác động đến thế giới 262.2.3.2 Tác động đến Việt Nam 33

Chương 3: Bài học đối với Việt Nam Error! Bookmark not defined.

Trang 4

Lời mở đầu

Hệ thống tài chính của mỗi quốc gia là cơ sở để ta có thể đánh giá mộtphần nào đó trình độ phát triển của quốc gia đó Vì vậy nên tài chính là mộ trongmột lĩnh vực vô cùng được các quốc gia cực kì quan tâm đến Việc phát triển hệthống tài chính toàn thế giới phát triển nhanh chóng là một trong những cơ hộilớn cho các quốc gia nhưng cũng vì sự phát triển nhanh chóng này lại tiềm tangnhững nguy cơ về khủng hoảng Mọi sự thay đổi trên thị trường tài chính củacác quốc gia và những điều kiện bên trong mỗi quốc gia đều tiềm tàng nhữngnguy cơ xảy ra khủng hoảng

Bài viết này làm rõ các khái niện và đưa ra góc nhìn cơ bản về khủnghoảng tài chính và biến động phức tạp của nề kinh tế Có hai cuộc khủng hoảngtài chính được đưa vào phân tích và so sánh là khủng hoảng tài chính tiền tệĐông Á và khủng hoảng tài chính Thế giới vào cuối năm 2008 Trong phần cuốicủa bài viết, từ những gì được đưa ra phân tích ở phía trên sẽ có bài học rút racho Việt Nam

Bài tập của nhóm được chia ra thành 3 phần chính:

Chương 1: Tổng quan về khủng hoảng tài chính

Chương 2: Khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Án và khủng hoảng tài

chính tiền tệ thế giới năm 2008

Chương 3: Bài học dành cho Việt Nam

Trang 5

Chương 1: Tổng quan về khủng hoảng tài chính tiền tệ

1.1 Khái niệm về khủng hoảng tài chính

Một số khái niệm về Khủng hoảng tài chính:

 Theo Miskin: “Khủng hoảng tài chính là sự đổ vỡ của thị trường tàichính mà trong đó những lựa chọn bất lợi và tâm lý hoàng mang đãtrở nên xấu đi, dẫn đến hậu quả thị trường tài chính không thể cónhững quỹ hiệu quả cũng như cơ hội đầu tư tốt nhất”

 Theo Sundarajan và Balino: “Khủng hoảng tài chính là tình trạng

mà trong đó một bộ phận của nền tài chính có những khoản nợ lớnhơn giá trị tài sản thực có trên thị trường gây ảnh hưởng tới các cáncân đầu tư khác, dẫn tới sự sụp đổ của của không ít công ty tàichính, dẫn tới việc Chính phủ bắt buộc phải có những can thiệp”.Cũng giống như rất nhiều thuật ngữ, thuật ngữ “Khủng hoảng tài chính”cũng có rất nhiều khái niệm Nhưng hiểu đơn giản thì khủng hoảng tài chính là

sự đổ vỡ trầm trọng của các thị trường tài chính được biểu hiện bở sự sụt giảmmạnh mẽ về giá tài sản và sự vỡ nợ của nhiều tổ chức tài chính và phi tài chính,kéo theo đó là sự suy thoái nặng nề

Khủng hoảng tài chính bắt đầu khi đông tiền có sự mất giá nhanh chóng,

và cùng lúc đó là sự chao đảo của thị trường chứng khóa có liên quan Xuất hiện

sự tụt giảm mạnh mẽ về tài sản dẫn đến vợ nợ dẫn đến mất khả năng thanh toáncủa các doanh nghiệp hay tổ chức tài chính, phi tài chính Các nhà đầu tư rút vốn

ồ ạt khi có biểu hiện mất giá của đồng tiền Đồng thời nợ nước ngoài tăng nhanh

và sự suy thoái khủng hoảng kinh tế trầm trọng

1.2 Phân loại khủng hoảng tài chính

Trong bài này, khủng hoảng tài chính được phân thành 4 loại khác nhau.Bao gồm: Khủng hoảng tiền tệ, khủng hoảng ngân hàng, khủng hoảng kép vàkhủng hoảng kép

 Khủng hoảng tiền tệ (Currency crisis): Xảy ra khi một quốc giađang sử dụng cơ chế tỷ giá cố định thì bị tấn công do đầu cơ dẫnđến buộc phải giá giá tiền tệ Khi chính phủ quốc gia đó thất bạitrong việc hoàn trả các khoản nợ của quốc gia đó cho các quốc gia

Trang 6

cho vay sẽ dẫn đến vợ nợ quốc gia Một ví dụ cho khủng hoảng tiền

tệ là việc một số quốc gia khu vực châu Âu đã phải phá giá đòngtiền của mình đề tham gia vào cơ chế tỷ giá châu Âu Hay gần đâynhất là sự việc khủng hoảng ở Hy Lạp

 Khủng hoảng ngân hàng (Banking crisis): Xảy ra khi một ngânhàng phải đối mặt với sự rút vốn liên tục của người gửi tiền.Nguyên nhân là do hình thức kinh doanh của các ngân hàng là chovay phần lớn các khoản tiền gửi mà nó nhân được Vì vậy khi cócác tình huống như ở trên các ngân hàng khổng thể ngay lập tứcthanh toán được cho khách hàng Cho nên việc tháo chạy của tiền

có thể dẫn đến sự phá sản của ngân hàng Nếu trong tình huốngkhách hàng đồng thời rút vốn tại hàng loạt ngân hàng dẫn đếnkhủng hoảng ngân hàng mang tính hệ thống Ví dụ như ở Mỹ năm

1930, sự tháo chạy của tiền ra khỏi các ngân hàng ở Mỹ Ở ViệtNam có một trường hợp tháo chạy tiền ở Ngân hàng thương mại cổphần Á Châu vào năm 2003

 Khủng hoảng kép (Twin crisis): Xảy ra khi đồng thời xảy ra khủnghoảng tiền tệ và khủng hoảng ngân hàng Lãi suất cao trong thờigian chính phủ bảo vệ tỉ giá đưa các tổ chức vào tình thế khó khăn.Khi phá giá đồng nội tệ dẫ đến tăng lượng nợ phải trả nước ngoài(nguyên nhân là do đồng tiền quốc gia đó mất giá) và kéo theo đó lànhiều doanh nghiệp và tổ chức tài chính phá sản Ví dụ là cuộckhủng hoảng tiền tệ Đông Á và dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chínhChâu Á vào năm 1997

 Khủng hoảng nợ quốc gia (National debt crisis): xảy ra trongtrường hợp một quốc gia vay nợ nước ngoài quá nhiều nhưng lạikhông sử dụng vốn hiệu quả dẫn đến không trả được nợ đúng hạn

và phải xin hoãn nợ, xóa nhợ và thậm chí phải xin tuyên bố vỡ nợ

Ví dụ cho khủng hoảng nợ quốc gia là cuộc khủng hoảng Agentinanăm 2001 – 2002

1.3.Các mô hình khủng hoảng và nguyên nhân của khủng hoảng.

Theo Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 24 (2008)55-65 có chiathành 3 mô hình khủng hoảng:

Trang 7

 Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ nhất: “Mô hình này được P.Krugman xây dựng và chủ yếu đặc trưng cho các cuộc khủng hoảngcán cân vãng lai trong điều kiện tỷ giá cố định bị các hoạt động đầu

cơ tấn công Mô hình này xảy ra ở một số nước có nền kinh tế vĩ

mô quá yếu kém, ngân sách thâm hụt trầm trọng, cung tiền tăng quámực khiến lạm phát gia tăng, những điều này dẫn đến cán cân vãnglai thâm hụt trầm trọng Trước nguy cơ đồng nội tệ bị giảm, Chínhphủ buộc phải liên tục can thiệp bằng cách bán ngoại tệ ra thịtrường để duy trì tỉ giá cố định Khi lượng dự trữ ngoại hối giảmxuống một mức thấp nhất định nào đó, các cuộc tấn công mang tínhđầu cơ bắt đầu xảy ra, cùng với những điều kiện nền tảng kinh tế vĩ

mô quá yếu kém và thậm chí là sự gia tăng cẳng thẳng về chính trị

xã hội, đến một thời điểm nào đó, Chính hủ buộc phải chấm dít chế

độ tỷ giá cố định và chuyển sang chế độ tỷ giá thả nổi tỷ giá làmcho đồng nội tệ bị mất giá liên tục và khủng hoảng tiền tệ xảy ra

Mô hình này được thể hiện rõ nhất trong các cuộc khủng hoảng ởmột số nước Mỹ La Tinh và những cuối năm 1970, đầu năm 1980

và trong những năm 1990”

 Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ hai: “Được Obstfeld xây dựng.Khủng hoảng dạng này còn được gọi là khủng hoảng tự phát sinh,

có thể xảy ra ở những nước có mức độ yếu kém về tài chính và vĩ

mô vừa phải, song cam kết duy trì chế độ tỷ giá cố định của Chìnhphủ bị suy yếu do các biện pháp bảo vệ tỉ giá quá tốn kém Trướctín hiệu dods, các nhà đầu cơ có thể bán tháo đồng nội tệ để muangoại tệ Những sức ép này buộc Chính phủ không có cách nàokhác là phải từ bỏ chế độ tỷ giá cố định để thực thi chính sách tiền

tệ mở rộng trước những cuộc tấn công quy mô của giới đầu cơ tiền

tệ, và hậu quả là khủng hoảng bùng phát Biến thể khác của môhình này xuất phát từ tình trạng thông tin không hoàn hảo và bấtđối xứng Trong điều kiện một hoặc một số ngân hàng có “vấn đề”,tình trạng này dẫn đến hành vi “bầy đàn”, gây hoảng loạn tài chính

và rốt cuộc dẫn đến khủng hoảng tài chính tiền tệ Mô hình này cóthể thấy trong cuộc khủng hoảng của Hệ thống tiền tệ châu Âu”

Trang 8

 Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ 3: “Được Yoshitomi và Ohno xâydựng, đặc trương trong các cuộc khủng hoảng tài khoản vôn trongcán cân thanh toán quốc tế Khủng hoảng tài chính về vốn thườngdẫn đến khủng hoảng kép Việc tự do hóa tài khoản vốn thiếu mộttrình tự thích hợp đã dẫn đến hai hệ quả là tiền đề cho một cuộckhủng hoảng kép: Luồng vốn đổ vào ồ ạt vượt mức thâm hụt cáncân vãng lai và vốn ngắn hạn chiếm tỉ trọng quá lớn Luồn vốn đổvào ồ ạt vượt mức thâm hụt cán cân vang lại đã khiến cán cân thanhtoán thặng dư và dự trữ ngoại hối tăng Điều này dẫn tới sự bànhtrướng tín dụng, đầu tư và tiều dùng trong nước Điểm mấu chốt ởđây là việc đầu tư kém hiệu quả đã dẫn tới hậu quả là thâm hịt cáncân vãng lai tăng, xuất hiện nền kinh tế bong bóng và mức cung dưthừa Khi các nhà đầu tư nhận thức được những yếu kém kể trên vànhững dấu hiệu bất ổn khác như sự sụt giảm giá bất động sản nay

cổ phiếu cũng như việc đầu cơ tiền tệ, họ đồng loạt rút vốn ra khỏinền kinh tế, Hậu quả là cán cân thanh toán trở nên thâm hụt trầmtrọng và dự trữ ngoại hối dần cạn kiệt, báo hiệu về một cuộc khủnghoảng tiền tệ nổ ra Còn trong điều kiện tự do hóa cán cân vốn, mộtlượng vốn ngắn hạn với tỷ trọng quá lớn đã đổ vào nền kinh tế.Trong điều kiện giám sát các khoản vay nợ kém hiệu quả, mộtlượng lớn vốn vay ngắn hạn bằng ngoại tệ đã được ho vay bằng nội

tẹ để đầu tư dài hạn vào những dự án kém hiệu quả đã dẫn đến vấn

đề “sai lệch kép” trầm trọng Bảng cân đối tài sản của các công tycũng như của hệ thống ngân hàng – tài chính xấu đi một cách trầmtrạng trong khi đồng nội tệ mất giá và một lượng vốn lớn của cácnhà đầu tư nước ngoài bị rút đột ngột; đến lượt nó, tài sản rọng củacác ngân hàng bị sụt giảm, dẫn đến tín dụng càng bị thắt chặt vàbảng cân đối tài sản của các ngân hàng tồi tệ hơn Quá trình tácđộng vòng xoát và cộng hưởng này gây nên khủng hoảng bùng pháttrong một thời gian rất ngắn và đẩy các nền kinh tế ngập sâu vàovòng suy thoái Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á 1997 –

1998 được coi là ví dụ điển hình của mô hình này.”

Trang 9

Chương 2: Khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á và khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 2008

2.1.Sơ lược khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á và khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới.

2.1.1 Khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á

Vào năm 1997, một cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nổ ra tại Chân

Á, ban đầu nó nổ ra ở Thái Lan , sau đó ảnh hưởng trực tiếp đến các thịtrường chứng khoán, các trung tâm tiền tệ chủ chốt và đến giá cả của cácloại tài sản khác ở các nước Châu Á Trong đó “ Indonesia, Hàn Quốc vàThái Lan” là những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất sau cuộc khủnghoảng này Các nước Hồng Koong, Malasia, Lào, Philipines cũng bị tácđộng bởi sự sụt giá bất ngờ Còn Việt Nam , Singapore và Đài Loan thìkhông bị ảnh hưởng nhiều Tuy Nhật Bản được coi là không chịu ảnh hưởngbởi khủng hoảng, song Nhật phải đối đầu với những khó khăn dài hạn trongnền kinh tế của chính mình

“ Mặc dù được gọi là cơn khủng hoảng “ Đông Á ” bởi vì nó bắtnguồn từ Đông Á nhưng ảnh hưởng của nó lại lan truyền toàn cầu và gâynên sự khủng hoảng tài chính trên toàn cẩu, với những tác động lớn lan rộngđến cả các nước như Nga, Brazil, Mỹ và các nước EU ” theo Bách khoa toànthư mở wikppedia

2.1.2 Sơ lược về khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008

Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới là cuộc khủng hoảng diễn ra tronggiai đoạn năm 2007 và 2008 Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới xảy ra ở Mỹ

và ảnh hưởng đến các nước ở châu Âu ảnh hưởng lớn tới kinh tế toàn cầu Năm

2008 trôi qua với nhiều sự kiện kinh tế đáng chú ý, tiêu biểu nhất là nền kinh tếthế giới trải qua 3 cú sốc liên tiếp: khủng hoảng lương thực, khủng hoảng dầu

mỏ và nổi bật là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Tình hình phát triển kinh

tế của thế giới gặp nhiều khó khăn và thử thách dưới những diễn biến phức tạp

và những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng Bước sang năm 2009, cuộckhủng hoảng tài chính kéo theo suy thoái kinh tế làm cho nền kinh tế các nướccàng trở nên trầm trọng

Trang 10

2.2.Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á và cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới

2.1.3 Biểu hiện của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới và khủng

hoảng tài chính tiền tệ Đông Á

2.1.3.1 Những biểu hiện của khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á

Các nước phát triển là các nước chịu ảnh hưởng lớn nhất từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới năm 2008

Thị trường Chỉ số Giá trị đóng

cửa ngày 30/12

Giảm so với năm 2007 (điểm)

Giảm so với năm 2007 (%)

Nhật Bản Nikkei 225 8.859,56 5.831,85 42,1Hồng Kông Hang Seng 14.235,50 13.325,02 48,8

Tình hình chứng khoán ở 1 số nước Đông Á năm 2008

-Ngày 10/10/2008: tại Nhật, tập đoàn bảo hiểm có lich sử hoạt động 98 năm Yamato life insurance Co chính thức đệ đơn xin bảo hộ phá sản sau khi các khoản nợ vượt tài sản 11,5 tỷ yên (tương đương 116 triệu USD) và trở thành mốc đánh dấu cuộc khủng hoảng đã lan sang Châu Á

-Tại Hàn Quốc, khi đồng won mất giá tới 40% chỉ trong 10 tháng năm

2008 đã đặt nền kinh tế vào trong tình trạng báo động đỏ Để cứu hộ khẩn cấp, Chính phủ Hàn Quốc đã phải thực hiện một số biện pháp như bơm tiền vào hệ thống tài chính và cắt giảm lãi suất

Nỗ lực cứu trợ nền kinh tế:

-Nhật Bản: thủ tướng Nhật Bản Taro Aso đã thông báo khoản cứu trợ cả gói trị giá 27 nghìn tỷ yên (275 triệu đô la) trong đó có việc tang cường hỗ trợ tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ

-Trung Quốc: công bố gói giải pháp kinh tế trị giá 586 tỷ USD nhằm ngănchặn tác động của khủng hoảng tài chính Khoản tiền 586 tỷ USD này được dành cho 10 lĩnh vực, trong đó có cơ sở hạ tầng, an ninh xã hội từ 2008 đến

2010, tiêu dung của người dân, đặc biệt là nhà ở giá rẻ, y tế, giáo dục, bảo vệ

Trang 11

môi trường và tái thiết các vùng bị thiên tai như khu vực bị động đất tại tỉnh Tứ Xuyên Một phần của gói kích thích cũng được dành cho khu vực tư nhân.

-Hàn Quốc: chính phủ Hàn Quốc công bố khoản cứu trợ trị giá 100 tỷ USD trong thời hạn 3 năm để hỗ trợ cho tất cả các khoản nợ nước ngoài do các

tổ chức tài chính trong nước đang phải gánh chịu; đồng thời là khoản hỗ trợ 30

tỷ USD để bơm vào các ngân hàng nhằm tăng tính thanh khoản

-Ở Mông Cổ, chính phủ đã phải bơm tiền vào các ngân hàng

-Trong khu vực Đông Á, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản xem xét đónggóp dự trữ ngoại hối trong một quỹ chung trị giá 80 tỷ USD nhằm đối phó với khủng hoảng

2.1.3.2 Những biểu hiện của khủng hoảng tài chính tiền tệ Thế giới

do các khoản nợ dưới chuẩn gây ra

Thị trường nhà đất sụt giảm ở mức kỉ lục vào cuối năm 2008

-Trong tháng 3, nạn nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế là ngân hàng Bear Stearns Vì thua lỗ nặng nề, ngân hàng 85 tuổi này buộc phải bán mình cho

JP Morgan với giá 10USD/ cổ phiếu, thấp hơn 10 lần mức giá đã niêm yết cách

đó 10 năm

-Ngay sau đó, hai đại gia cho vay lớn nhất nước Mỹ là Freddie Mac và Fannie Mae cũng bị cuốn phăng trong cơn bão tài chính Khoản gánh vác của họchiếm gần nửa trong tổng số các khoản thế chấp tại Mỹ (lên tới 5 nghìn tỷ

USD) Tới tháng 9, Cục Dự trữ Liên bang (FED) đã chi 200 tỷ USD để cứu 2 đơn vị này

-Tuy nhiên, chưa dừng tại đó Tới ngày 15/9, sự gục ngã của công ty tài chính khổng lồ Lehman Brothers lại làm chấn động nước Mỹ Trước khi phá sản, tiền nợ ngân hàng và tỷ lệ vốn cổ phần của công ty là 30-1, cao gần gấp ba lần quy định luật pháp cho phép

-Tiếp đến là sự ra đi của một số ngân hàng đầu tư khác, điển hình như Merril Lynch, đơn vị đã được Bank of America mua lại sau đó Tiếp sau đó,

Trang 12

nhiều ngân hàng lớn ở Châu Âu như UBS và Ngân hàng Hoàng gia Scotland cũng lâm vào cảnh nguy ngập Ngày 17/9, Lloyds mua lại HBOS với giá 12,2 tỷ.

-Đến tháng 10/2008, cuộc khủng hoảng đã lan ra toàn nước Mỹ Tới khi Iceland tuyên bố phá sản, chính phủ các nước trên thế giới cũng tới tấp thông báo kế hoạch cứu nguy nền kinh tế

Cuộc khủng hoảng tài chính xuất phát từ Mỹ đã nhanh chóng lan

Giảm so với năm 2007 (điểm)

Giảm so với năm 2007 (%)

Mỹ Down Johns 8.668,39 4.375,57 34,6

Nasdaq 1.550,70 1.058,93 41,5S&P 500 890,64 556,52 39,3Anh FTSE 100 4.392,68 2.024,02 31,5

Đài Loan Taiwan weighted 4.589,04 3.734,01 44,8Singapore Straits Times 1.770,65 1.690,57 49,0Trung Quốc Shanghai

Composite

1.832,91 3.428,65 65,2

Ấn Độ BSE 30 9.716,16 10.749,14 52,2Australia ASX 3.591,40 2.842,70 44,1Việt Nam VN-Index 316,32 604,75 65,9

Toàn cảnh chứng khoán thế giới năm 2008

-Tỉ lệ thất nghiệp tăng vọt vì các công ty cắt giảm lao động Nhu cầu co lại buộc các doanh nghiệp phải đóng cửa làm ăn

-Từ đầu năm đến hết tháng 5, trên khắp thế giới dường như chỉ tồn tại hai chữ: “lạm phát” Lạm phát tại những khu vực sử dụng đồng Euro đạt kỉ lục cao nhất lịch sử Tại Châu Á, lạm phát đã lên đến 7,5%- gần bằng mức cao nhất

Trang 13

trong 9 năm qua và cao gấp 2 lần so với mức 3,6% của một năm trước, mà nguyên nhân chính là giá lương thực và giá năng lượng tăng cao

Càng về cuối năm, cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ bắt nguồn từ việc “vỡ nợ” tín dụng bất động sản càng chứng tỏ sức tàn phá ghê gớm đối với hệ thống tài chính thế giới Nước Mỹ chiếm hơn 25% GDP của toàn cầu và còn lớn hơn trong các giao dịch tài chính quốc tế, nên tác động của cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ không chỉ dừng lại bên trong nội bộ nước Mỹ mà nhanh chóng lan

ra toàn cầu Mỹ rồi tới Singapore, Nhật Bản, sau đó tới các nước dùng đồng Euro tuyên bố suy thoái Một loạt các nước phải tung ra các gói hỗ trợ kinh tế trịgiá nhiều tỷ USD mà đỉnh điểm là hồi tháng 10, ngân hàng Trung ương Châu

Âu, Cục dự trữ Liên bang Mỹ và 4 ngân hàng Trung ương các nước khác đã đồng loạt thực hiện cắt giảm lãi suất, với mong muốn giảm thiểu ảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ này

Các sự kiện nổi bật

-Ngày 11/1/2008: Ngân hàng cho vay địa ốc thế chấp Countrywide

Financial tuyên bố phá sản do các khoản cho vay khó đòi quá lớn, sau đó đã được ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về tiền gửi và vốn hóa thị trường- Bank of America bỏ ra 4 tỷ USD để mua lại

-Ngày 30/1/2008: Do những thất thoát của cuộc khủng hoảng cho vay cầm cố, Ngân hàng lớn nhất Thụy Sỹ UBS đã công bố trích lập dự phòng thêm 4

tỷ USD, nâng tổng số tiền trích lập dự phòng lên 18,4 tỷ USD

-Ngày 17/2/2008: Anh quốc hữu hóa ngân hàng Northern Rock

-Ngày 28/2/2008: Đức hứng chịu thiệt hại khi ngân hàng DZ Bank lỗ nặng với tổng giá trị tài sản mất giá là 1,36 tỷ Euro, chính thức trở thành nạn nhân của cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn

-Ngày 16,17/3/2008: Ngân hàng Đầu tư Mỹ JP Morgan Chase mua Bear Stearns với giá rẻ mạt chỉ 2 đô la một cổ phiếu

Ngày 29/4/2008: Sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho các chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản thế chấp bất động sản và các khoản nợ xấu, Deutsche Bank lần đầu tiên trong năm công bố một khoản thua lỗtrước thuế

-Ngày 11/7/2008: Ngân hàng Indy Mac Bancorp bị Chính quyền liên bang

Mỹ đoạt quyền kiểm soát Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng chấn động nhất từ trước đến nay sau khi trong vòng 11 ngày, những người gửi tiền ở đây đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD

-Ngày 31/7/2008: Deutsche Bank trở thành 1 trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 sau khi ngân hàng này công

Trang 14

bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo là 3,6 tỷ USD, nâng tổng thiệt hại lên tới

11 tỷ USD

-Ngày 7/9/2008: Hai tập đoàn chuyên cho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie Mac chính thức bị Bộ Tài chính Mỹ và Cục Dự trữ Liên bang FED đoạt quyền kiểm soát nhằm hỗ trợ thị trường nhà đất Mỹ

-Ngày 11/9/2008: Sau khi cổ phiếu bị sụt giảm lên tới 45%, ngân hàng đầu

tư Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác để bán lại chính mình

2.1.4 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới và

khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á

2.1.4.1 Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới 2008

 Hội chứng thích sở hữu nhà của người dân Mỹ

Hội chứng này đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân Mỹ Mặc dùnhiều nơi trên đất Mỹ, số tiền phải bỏ ra để thuê một căn nhà trong 1 tháng chỉbằng một nửa tiền trả góp thế chấp hàng tháng, nhưng người dân Mỹ vẫn sẵnsàng thế chấp để sở hữu những căn nhà cho riêng mình Tỷ lệ sở hữu nhà toànliên bang tăng từ 64% năm 1994 lên 69,2 % năm 2004 Thậm chí nhiều ngườicòn vay tiền ngân hàng để mua nhà và lấy chính ngôi nhà làm vật thế chấp Điềunày đồng nghĩa với việc, nếu như khách hàng không thanh toán được các khoản

nợ thì sẽ bị đuổi ra khỏi chính ngôi nhà của mình Mặc dù rất mạo hiểm nhưng

tỷ lệ người dân sử dụng hình thức này ngày càng tăng cao Từ năm 2002 đếnnăm 2007, nợ cầm cố đã tăng lên 23%

Chính vấn đề này đã làm cho các nhà đầu tư tin rằng, giá nhà đất sẽ khôngthể giảm, do đó nhà đất là lĩnh vực đầu tư tốt, đem lại lợi nhuận cao và có hiệuquả lâu dài Trong khi đó, tiết kiệm của người dân chỉ đạt mức 1-2%, rất thấp sovới GDP

 Các khoản cho vay thế chấp dưới chuẩn

Nợ dưới chuẩn được hiểu là các khoản cho vay cho các đối tượng có mứctín nhiệm thấp Những đối tượng đi vay này thường là những người nghèo,không có công ăn việc làm ổn định, vị thế xã hội thấp hoặc có lịch sử thanh toántín dụng không tốt trong quá khứ Những đối tượng này tiềm ẩn rủi ro không cókhả năng thanh toán nợ đến hạn và do đó rất khó khăn trong việc tiếp cận nguồn

Trang 15

vốn tín dụng truyền thống vốn chỉ dành cho những đối tượng trên chuẩn Chính

vì vậy, nợ dưới chuẩn có mức độ rủi ro tín dụng rất cao song bù lại có mức lãisuất cũng rất hấp dẫn

Vào đầu năm 2004, theo Micheal Burry, một nhà đầu tư trái phiếu, cáctiêu chuẩn cho vay không chỉ giảm, mang tính rủi ro cao mà còn chạm đáy tiêuchuẩn Trên thị trường còn xuất hiện các hợp đồng “ thế chấp dưới chuẩn, lãisuất thả nổi, trả dần, âm chỉ trả lãi” Tức là người mua nhà không phải bỏ ra một

xu nào, dồn lãi vay nợ ngân hàng vào số dư vốn gốc Điều này thực sự có nguy

cơ vỡ nợ cao gần 100%, vì những khách hàng tìm đến loại hợp đồng này chủyếu là từ các hộ gia đình, cá nhân không có thu nhập, hoặc thu nhập không đềuđặn, thật khó để cuối kì hạn trả được gôc và lãi Tuy nhiên, các công ty cho vaymua nhà lại cố gắng mở rộng các hợp đồng thế chấp tương tự Đội ngũ nhữngnhà tài chính dưới chuẩn ban đầu dã bị nhấn chìm bởi một phần nhỏ các khoảnvay mà họ thực hiện vẫn được lưu trong sổ sách

Thị trường thế chấp dưới chuẩn nhen nhóm từ các khu vực ngoại ô vànhanh chóng lan rộng khắp toàn nước Mỹ Sự hấp dẫn của các khoản lợi nhuậnlớn đã làm cho những thành phần tham gia vào bộ may sản xuất hợp đồng thếchấp bất động sản không xem xét đến các tình huống rủi ro nhất có thể xảy ra.Tất cả công ty cho vay dưới chuẩn phát triển rất nhanh, đồng thời sử dụngphương pháp hạch toán kế toán giấu đi sự thực,trong khi doanh thu chỉ là các

Trang 16

con số ảo do kế toán viên lập ra Việc cho vay nợ một cách thoái quá trong thờigian ngắn gây ra không kiểm soát được chất lượng tín dụng.

Vào năm 1990, với 30 tỷ đô là, đó là một năm lớn đối với hoạt động chovay dưới chuẩn Năm 2000, có 130 tỷ đô cho vay thế chấp dưới chuẩn,trong đó

55 tỷ đô giá trị của các khoản vay này được đóng gói thành các trái phiếu thếchấp Theo biểu đồ trên, năm 2003 là năm chứng kiến sự tăng vọt về quy mô cáchợp đồng thế chấp dưới chuẩn Vào năm 2005, có 625 tỷ đô trong đó 507 tỷ đôtrong số này dưới dạng trái phiếu thế chấp 500 tỷ đô dưới dạng trái phiếu đảmbảo bằng thế chấp dưới chuẩn trong 1 năm duy nhất So với năm 2002, doanh sốcho các hợp đồng dưới chuẩn là xấp xỉ 200 tỷ đô la thì năm 2006 đạt mứckhoảng 700 tỷ, tăng lên 3,5 lần

 Tỷ lệ lãi suất liên bang thay đổi liên tục

Nguyên nhân tác động trực tiếp đến cuộc khủng hoảng 2008 ở Mỹ, đó làviệc Fed liên tục thay đổi lãi suất liên bang

Biểu đồ sự thay đổi lãi suất của FED từ năm 2000-2008 (Nguồn: vneconomy.vn)

Sau đợt khủng hoảng Dot-com, để cứu nền kinh tế Mỹ đang trên đà suythoái, FED đã 11 lần cắt giảm lãi suất từ 6,5% xuống còn 1,75% Chỉ số trên thịtrường chứng khoán NASDAQ giảm 70% đã dẫn tới việc nhiều người rút tiền rakhỏi thị trường cổ phiếu và quay sang mua bất động sản với niềm tin rằng đấy làkhoản đầu tư an toàn hơn Lãi suất thấp càng kích thích nhiều người đổ tiền vàothị trường nhà đất Ngày 25/03/2003, lãi suất tại Fed tụt xuống mức 1%, con sốthấp nhất kể từ tháng 07 năm 1958 (0,68%) Bắt đầu từ giữa tháng 06/2004, Cục

dự trữ liên bang bắt đầu nâng lãi suất định hướng 17 lần liên tục lên 5,25% ngày

Trang 17

08/08/2006 Và mức lãi suất này vẫn giữ nguyên cho đến năm 2008, lãi suất lạimột lần nữa giảm sâu xuống xấp xỉ 1% vào cuối năm Tuy nhiên, khi lãi suất đã

có dấu hiệu tăng lên thì cho vay dưới chuẩn lại bùng nổ phát triển mạnh mẽ

Quay lại năm 1996, 65% khoản vay dưới chuẩn có lãi suất cố định Cónghĩa là những người đi vay dưới chuẩn điển hình có thế đang bị vắt kiệt, nhưng

họ vẫn biết được mỗi tháng họ nợ bao nhiêu tiền Đến năm 2005, 75% cáckhoản vay dưới chuẩn có lãi suất thả nổi và thường chỉ cố định trong 2 năm đầutiên Càng ngày các khoản cho vay thế chấp với lãi suất thả nổi càng tăng lên.Cảm thấy sức nóng của thị trường tài chính trong nước, trong năm 2006, 2007,lãi suất Fed không ngừng tăng làm cho lãi suất các hợp đồng thế chấp này tăngtheo, người dân không thể trả được nợ khiến cho tình trạng vỡ nợ xảy tra, dấnđến khủng hoảng tài chính

 Công cụ đầu tư kết cấu

Nhiều tổ chức tín dụng của Mỹ đã lập ra các công ty con, gọi là các bộphận mục đích đặc biệt (hay SPV) để mua bán CDO Điều này cho phép họ đặtCDO ngoài bảng cân đối tài sản, và vì thế giảm nguy cơ bị các cơ quan giám sáttài chính nhắc nhở Citigroup là tổ chức đã phát minh ra cái gọi là công cụ đầu

tư kết cấu (hay SIV) vào năm 1988 và các tổ chức khác đã theo gương cho rađời hàng loạt SIV Công cụ đầu tư kết cấu hoạt động theo hình thức huy độngvốn ngắn hạn bằng việc phát hành thương phiếu (commercial paper) với lãi suấtthấp, đầu tư vào các loại chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản (asset-backedsecurities) với lãi suất cao Trên thực tế, hoạt động của SIV không khác gì so vớihoạt động ngân hàng thương mại Nhưng các SIV này được xem là hệ thốngngân hàng trong bóng tối Họ đi vay bằng cách phát hành chứng khoán ngắn hạnlãi suất thấp rồi cho vay lại bằng cách mua các chứng khoán dài hạn, nhất làmua CDO, qua đó ăn chênh lệch Tuy nhiên, khi lãi suất của chứng khoán dàihạn lại thấp hơn lãi suất chứng khoán ngắn hạn thì các SIV này bị lỗ TheoMoody (2008), tại thời điểm tháng 7 năm 2008, giá trị tài sản của các SIV ướclên đến 400 tỷ dollar Khi hoạt động, các SIV này phải đối mặt với 2 rủi ro, đó làrủi ro vỡ nợ khi giá của các tài sản dài hạn xuống thấp hơn giá trị của các khoản

nợ ngắn hạn và rủi ro thanh khoản do việc đi vay ngắn hạn nhưng lại cho vaydài hạn

Trang 18

Khi khủng hoảng nợ dưới chuẩn xảy ra, rồi lan tới các CDOs, người đivay không còn khả năng thanh toán thì các SIV này phải lâm vào tình trạngnguy cấp, dẫn tới phá sản hàng loạt Đến ngày 2-10-2008, Sigma Finance, SIVcuối cùng đã sụp đổ.

 CDS- Hợp đồng hoán đổi tốn thất tín dụng (Credit Default Swaps)

Như đã nói ở trên, CDSs được các ngân hàng đầu tư mua để bảo hiểm chocác nhóm hợp đồng tín dụng dưới chuẩn thuộc nhóm an toàn, được xếp hạngAAA CDSs được mua để đề phòng cho trường hợp người đi vay không thanhtoán được nợ Do đó có thể phân trải rủi ro trên khắp toàn cầu Tuy nhiên, trênthị trường tài chính xuất hiện nhiều loại CDSs hơn, do CDSs không có yêu cầucầm cố bất cứ tài sản nào, cũng có thể sử dụng cho các mục đích đầu cơ

Do ngày càng có nhiều các công ty của Mỹ không thanh toán được sốchứng khoán phát hành khi suy thoái kinh tế ngày một lún sâu nên sự đổ vỡ củacác CDS là điều không thể tránh khỏi Dẫn đến việc các công ty bảo hiểm pháthành các CDSs không có đủ khả năng thanh toán các khoản tiền đền bù bảohiểm cho các hợp đồng tín dụng dưới chuẩn Sự sụp đổ của các công ty bảohiểm góp phần vào phản ứng dây chuyền sự đổ vỡ của các định chế tài chính,hoàn toàn có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính

 Các nhà đầu tư mua bán khống

Trên thị trường chứng khoán, hoạt động bán khống diễn ra như sau: Cácnhà đầu tư bán khống cho rằng một cổ phiếu được định giá quá cao nào đó sẽmất giá mạnh trong thời gian tới Do đó, họ mượn cổ phiếu này từ một công tymôi giới và bán ra luôn khi mức giá còn cao Nếu giá sụt giảm, họ sẽ mua lại cổphiếu này và trả lại cho công ty môi giới và thu lời Còn trong trường hợp giá cổphiếu đó tăng, họ vẫn phải mua lại cổ phiếu để trả cho công ty môi giới, nhưngphải chịu lỗ Hoạt động bán khống được nhận thấy rõ nét nhất ở thời điểm khi

mà bất kỳ một thời kỳ bong bóng đầu cơ nào đó bắt đầu đi vào hồi kết thúc, khi

mà giá hàng hóa hoặc cổ phiếu đã ở đỉnh

Giới quan sát cho rằng, các nhà đầu tư bán khống là các nhà đầu tư đoánđược chắc rằng trái phiếu của các tập đoàn sắp sụp đổ, ở đây là các cổ phiếu củanhững tập đoàn dính líu đến cho vay dưới chuẩn sẽ giảm Một khi giới đầu tưbán khống đặc biệt “yêu thích” một loại cổ phiếu nhất định nào đó, lệnh đặt bán

Trang 19

của họ sẽ ngập thị trường, họ ồ ạt vay những cổ phiếu này rồi ồ ạt bán ra và giá

cổ phiếu đó “mất phanh”

 Khủng hoảng niềm tin

Theo GS Joseph Stiglitz, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ sự sụp đổ thảmkhốc của niềm tin Các ngân hàng đánh đố lẫn nhau về mức độ cho vay cũngnhư tài sản Những giao dịch phức tạp được tạo ra để loại bỏ rủi ro và che giấunhững trượt giá giá trị tài sản thực của ngân hàng Đây là một trò chơi mà conngười ta khi bắt đầu cảm nhận thấy mùi của sự thua lỗ và nhìn vào hệ thống tàichính, khi đó thua lỗ xuất hiện, cả thị trường xuống dốc và tất cả mọi người đều

bị thua lỗ Thị trường tài chính xoay quanh trục nguyên tắc độ tin cậy, và độ tincậy đó đã bị xói mòn, xuống cấp Sự sụp đổ của Lehman Brother là biểu tượngđánh dấu mức độ tin cậy đã xuống một mức thấp mới và dư âm của nó sẽ còntiếp tục

 Các nguyên nhân khác

Xét về chính sách kinh tế của Mỹ, trong bối cảnh chung của các nước trênthế giới đang thực hiện chính sách tự do hóa kinh tế, Chính phủ Mỹ còn thựchiện chính sách nới lỏng tiền tệ trong thời gian dài Để phục hồi nền kinh tế Mỹsau cuộc suy thoái kinh tế năm 2001 và ảnh hưởng từ cuộc khủng bố 11/9, Cục

Dự trữ liên bang Mỹ đã liên tiếp giảm lãi suất liên ngân hàng (từ 6,5% xuốngcòn 1,75%), theo đó, lãi suất cho vay của tín dụng thứ cấp cũng giảm xuốngthấp Chính sách nới lỏng tiền tệ (chính sách đồng USD rẻ) đã kích thích ngườidân vay tiền mua nhà và các tổ chức tín dụng thì sẵn sàng cho vay, đầu tư mạohiểm

Thêm vào đó, sự buông lỏng trong cơ chế quản lý nhà nước, Mỹ cho phépngân hàng thương mại hoạt động đa năng và rộng khắp cả nước, thay vì hạn chếmỗi ngân hàng ở một bang, ngân hàng được phép hoạt động trên khắp liên bang.Các ngân hàng được phép hoạt động như một công ty đầu tư tài chính Các công

cụ tài chính mới xuất hiện không chịu sự kiểm soát của bất kì ràng buộc nào, kể

cả việc thu thập chính thức các thông tin thông kê về chúng để theo dõi Mụcđích chính là để cho các hoạt động đầu cơ rủi ro xảy ra, cho phép bán khống.Đây là nguyên nhân mà các loại chứng khoán trên thị trường dẽ dàng bị giảmgiá, gián tiếp làm cho cuộc khủng hoảng diễn ra nhanh hơn và nghiêm trọnghơn

Trang 20

2.1.4.2 Nguyên nhân khủng hoảng tiền tệ Đông Á

2.1.4.2.1 Nguyên nhân bên trong:

 Thực hiện chế độ tỷ giá hối đoái không linh hoạt:

Nhiều nước mới nổi ở châu Á đã gắn đồng tiền của mình với đồng đôla

Mỹ và đồng thời thực hiện chính sách nới lỏng việc kiểm soát trao đổi buôn bánngoại tệ bằng cách cho phép người dân trong nước thực hiện các khoản vaybằng đồng USD Mỹ và người nước ngoài buôn bán đồng nội tệ khá tự do Việcthực hiện chế độ tỷ giá cố định và nới lỏng kiểm soát ngoại tệ này nhằm khuyếnkhích kinh tế phát triển cao từ khía cạnh tài chính bằng cách khuyến khích dòngchảy tư bản bên ngoài và tạo ra các cơ hội đầu tư nhiều hơn cho các nhà đầu tưnước ngoài Tuy nhiên dòng chảy tư bản lớn vào khu vực đã tạo ra sự chênh lệch

tỷ giá hối đoái Việc giá các đồng nội tệ được định giá cao hơn giá trị thực làmcho sức cạnh tranh của các nền kinh tế bị suy giảm so với các quốc gia khácđồng thời bị chịu các đợt đầu cơ vào dự đoán các đồng tiền này sẽ bị giảm giátrong tương lai gần

Đáng nhẽ ngay từ năm 1996, khi xuất hiện những dấu hiệu thâm hụt tàikhoản vãng lai, Thái Lan và các nước khác phải thực hiện chính sách thả nổiđồng nội tệ, kết hợp với chính sách thắt chặt tài chính Thay vì chính sách kìmgiữ đồng nội tệ để thu hút vốn nước ngoài nhằm bù đắp lỗ hổng của tài khoảnvãng lai và kiềm chế lạm phát

 Dựa quá nhiều vào nợ - đặc biệt là nợ ngắn hạn:

Các nước Đông Á là những nước xuất khẩu lớn bao gồm cả hàng chế tạo

và lương thực, dễ dàng bù đắp cho nợ nước ngoài lớn Tuy nhiên, thu nhập từxuất khẩu thì chưa đủ để trả nợ, đặc biệt là vào những năm đầu thập kỷ 90 xuấtkhẩu của các nước gặp khó khăn do thị trường đã bão hòa, sức cạnh tranh giảm.Thái Lan là một nước tăng trưởng chủ yếu dựa vào mức tăng trưởng của xuấtkhẩu, đặc biệt lệ thuộc vào mức tăng trưởng của xuất khẩu điện tử Sau năm

1996 sức tăng trưởng xuất khẩu của Thái Lan bị suy yếu nhanh chóng (tăngchưa đầy 4% so với mức tăng bình quân 25% của giai đoạn 1985-1995)

Bảng: Tăng trưởng xuất khẩu ở Đông Á (%)

Trang 21

Nguồn: NHTG, “East Asia – The Road to Recoverty”, 1998

Để bù đắp cho tình trạng này con đường không thể tránh khỏi là vay tiền

nước ngoài Vì vậy nợ nước ngoài của Thái Lan không ngừng tăng lên từ 35,99

tỉ USD năm 1991 lên 89 tỉ USD năm 1996, gấp 2,47 lần trong vòng 5 năm, và

bằng 54% GDP Nợ ngắn hạn chiếm 67% tổng nợ nước ngoài (1995), 51% tổng

nợ nước ngoài (1996) Nợ ngắn hạn năm 1995 và 1996 gấp gần 1,18 lần dự trữ

ngoại tệ của quốc gia này Tức là thực tế Thái Lan đã mất khả năng thanh toán

nợ nước ngoài từ năm 1995

Bảng: Nợ thương mại nước ngoài các nước trong khu vực 1992-1997 (tỷ

Ngày đăng: 14/03/2023, 12:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w