1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài giảng pháp luật cạnh tranh

34 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 208,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Untitled lOMoARcPSD|9797480 BÀI GIẢNG MÔN PHÁP LUẬT CẠNH TRANH Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh I Những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh 1 Khái niệm cạnh tra.

Trang 1

BÀI GIẢNG MÔN PHÁP LUẬT CẠNH TRANH

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh

I. Những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh

1. Khái niệm cạnh tranh

– Cạnh tranh hiểu theo nghĩa thông thường là 1 sự kiện hoặc 1 cuộc đua, theo đó các đối thủganh đua nhau để dành phần hơn hoặc ưu thế tuyệt đối về phía mình

– Cạnh tranh dưới góc độ kinh tế:

+ bản chất của cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh

+ quá trình cạnh tranh diễn ra giữa các đối thủ trên cùng 1 thị trường

+ cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong điều kiện của nền kinh tế thị trường

Hiện VN mới chỉ được 1/3 số quốc gia trên thế giới thừa nhận là có nền kinh tế thịtrường, hầu hết các nước lớn đều chưa công nhận VN có nền kinh tế thị trường ==> bất lợicho VN khi đàm phán quốc tế

==> Cạnh tranh dưới góc độ kinh tế được hiểu là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trênthị trường nhằm mục đích lôi kéo về phía mình ngày càng nhiều khách hàng, thị phần.– Cạnh tranh dưới góc độ pháp lý: hiện nay các nước đều không đưa ra khái niệm cạnh tranh dướigóc độ pháp lý

2. Các hình thức tồn tại của cạnh tranh / Phân loại cạnh tranh

– Căn cứ vào tính chất và mức độ điều tiết của nhà nước vào nền kinh tế:

+ cạnh tranh tự do: cạnh tranh tự do là hình thức cạnh tranh thoát khỏi mọi sự can thiệp củanhà nước

+ cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước: là hình thức cạnh tranh được can thiệp bằng các chínhsách cạnh tranh của nhà nước để điều tiết, hướng các quan hệ cạnh tranh vận động và phát triển theo

1 trật tự nhất định, bảo đảm tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng

Câu hỏi: Giữa cạnh tranh tự do và cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước, cái nào tốt hơn?

Trả lời: Cạnh tranh tự do được bắt nguồn từ học thuyết “bàn tay vô hình” của Adam Smith từ thế

kỷ 18, đã thúc đẩy chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ 18, 19, nâng cao hiệu suấtlao động của nhân loại Tuy nhiên cạnh tranh tự do lại dẫn đến các cuộc khủng hoảng kinh tế lớn,điển hình là cuộc đại khủng hoảng 1929 (gọi là cuộc đại khủng hoảng thừa khi các nhà tư bảnđua nhau sản xuất để giành thị phần mà không tính đến thị trường tiêu thụ), ngay sau cuộckhủng hoảng thừa 1929 là đến cuộc khủng hoảng thiếu 1933 ==> cạnh tranh tự do có khiếmkhuyết ==> cần có sự điều tiết của nhà nước

Trang 2

Đến nay, tất cả các nước trên thế giới đều theo mô hình cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước Theo

đó nhà nước sẽ can thiệp vào nền kinh tế sao cho nền kinh tế phát triển tốt nhất, chứ không canthiệp thô bạo vào nền kinh tế

Trang 3

– Căn cứ vào đặc tính, cấu trúc của thị trường: (đây là phân loại của ngành kinh tế, chỉ tham khảo)

Hình

thái thị

trường

Sự lượng người mua

Số lượn g ngườ

i bán

Bản chất hàng hóa dịch vụ

Rào cản gia nhập thị trường

Độc

quyền

mua

1ngườimua

Rấtnhiều

Rấtnhiều

Sản phẩm đadạng, nhưngkhông có sựkhác biệt

Khôngcó

Rấtnhiều

phẩm có thểthay thế chonhau, song

phẩm này có

sự khác biệtnhỏ

Khôngcó

Độc

quyền

nhóm

Số lượngnhiều

Sốlượngít

Hàng hóa có

sự khác biệt

về nhãn hiệu Rất lớn– Căn cứ vào tính chất của các phương thức cạnh tranh:

+ cạnh tranh lành mạnh: là hình thức cạnh tranh công khai, công bằng và ngay thẳng giữa cácđối thủ cạnh tranh

+ cạnh tranh không lành mạnh: là phương thức cạnh tranh được các doanh nghiệp thực hiện bởinhững cách thức không lành mạnh nhằm mục đích gây phản cạnh tranh

Trang 4

“lành mạnh”: được hiểu là phù hợp với những chuẩn mực thông thường của đạo đức kinh doanh.– Căn cứ vào tác động bất lợi của hành vi gây ra với môi trường cạnh tranh: (đây là cách phân loạiquan trọng nhất, vì Luật cạnh tranh xây dựng các quy phạm dựa theo cách phân loại này)+ hạn chế cạnh tranh: là hành vi làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, baogồm 4 dạng hành vi cơ bản:

• Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: ví dụ 3 nhà mạng Viettel, Mobi,Vina cùng thỏa thuận tăng 1000 đồng cho mỗi phút thoại ==> làmgiảm cạnh tranh ==> đồng thời người tiêu dùng bị thiệt hại, các nhàmạng khác không tham gia thỏa thuận này cũng bị thiệt hại ==> làmảnh hưởng đến cả thị trường

3. Vai trò, ý nghĩa của cạnh tranh và nhu cầu điều tiết cạnh tranh bằng chính sách cạnh tranh

– Vai trò và ý nghĩa của cạnh tranh: để đảm bảo nền kinh tế phát triển một cách lành mạnh,tránh các cuộc khủng hoảng, suy thoái kinh tế

– Nhu cầu điều tiết cạnh tranh của nhà nước: để đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng,nhà nước cần điều tiết cạnh tranh, điều chỉnh các hành vi cạnh tranh của các doanhnghiệp

– Nhà nước điều tiết cạnh tranh bằng các chính sách cạnh tranh

– Chính sách cạnh tranh:

+ khái niệm: là tổng thể các biện pháp, công cụ vĩ mô của nhà nước nhằm đảm bảo tự do cạnh tranh vàđiều tiết cạnh tranh trong nền kinh tế, duy trì môi trường cạnh tranh công bằng, bình đẳng phùhợp với lợi ích chung của xã hội

+ mục tiêu ban hành chính sách cạnh tranh

+ các bộ phận của chính sách cạnh tranh: chính sách thuế và thương mại quốc tế (để bảo hộ chongành nào), chính sách cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (thực chất là tư nhân hóa)

+ mối quan hệ giữa PL cạnh tranh và chính sách cạnh tranh: PL cạnh tranh là 1 bộ phận cấuthành nên chính sách cạnh tranh, nhưng là bộ phận quan trọng nhất vì nó điều chỉnh mối quan

hệ giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường

Trang 5

II. Những vấn đề lý luận chung về pháp luận cạnh tranh

1. Khái niệm pháp luật cạnh tranh

– PL cạnh tranh bao gồm các quy phạm PL điều chỉnh hành vi cạnh tranh giữa các chủthể kinh doanh trên thương trường, đồng thời bao gồm cả các quy định đảm bảo thực thi luật cạnhtranh trong thực tế

2. Các đặc trưng của pháp luật cạnh tranh

Tính tiếp cận từ mặt trái: (đây là đặc trưng cơ bản của PL cạnh tranh) Luật cạnh tranh

chỉ quy định những hành vi bị cấm đối với PL cạnh tranh mà không có các quy định hướng dẫn(quy định về quyền và nghĩa vụ) (giống với luật hình sự)

Tức là Luật cạnh tranh không quy định các doanh nghiệp phải cạnh nhanh như thế nào trên thịtrường (vì mỗi ngành nghề khác nhau sẽ có những cách thức cạnh tranh khác nhau), màluật cạnh tranh chỉ đưa ra những quy định cấm, theo đó doanh nghiệp được làm mọi việc ngoàinhững quy định cấm trong luật cạnh tranh

Đây cũng là đặc điểm của luật cạnh tranh của tất cả các quốc gia trên thế giới

Tính mềm dẻo của PL cạnh tranh: PL cạnh tranh thường đặt ra những điều khoản mở và

những quy định miễn trừ cho phép cơ quan thi hành luật cạnh tranh có thể áp dụng PL một cáchlinh hoạt

Vì mục đích của PL cạnh tranh là đảm bảo sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế, nên PL cạnhtranh không thể can thiệp 1 cách thô bạo vào các mối quan hệ của các chủ thể kinh doanh (vì

dễ dẫn tới làm giảm mức độ thuận lợi của môi trường kinh doanh) VD quy định các hành vi bịcấm theo hướng mở tại Điều 16, Điều 39; quy định các điều kiện miễn trừ như tại Điều 10,Điều 19

VD: vụ việc EVN Telecom thua lỗ phải bán lại cho doanh nghiệp khác, khi đó FPT Telecom

đã đặt cọc để mua lại EVN Telecom, nhưng Chính phủ khi đó không đồng ý và yêu cầu Viettelmua lại EVN Telecom Quyết định này của Chính phủ đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của cácdoanh nghiệp viễn thông khác, nhất là từ Vinaphone, Mobifone, lý do đưa ra là khi đó Viettel

đã chiếm hơn 30% thị trường 3G, sau khi mua lại EVN Telecom sẽ chiếm hơn 50% thịtrường 3G và như vậy là vi phạm PL cạnh tranh Tuy nhiên Chính phủ đã viện dẫn khoản 1Điều 19 về việc miễn trừ đối với hành vi tập trung kinh tế

Bao gồm cả luật nội dung và luật hình thức: ngoài các quy định về nội

dung điều chỉnh hành vi cạnh tranh, PL cạnh tranh còn có các quy định về mặt hình thức điều chỉnhhoạt động tố tụng cạnh tranh và xử lý vi phạm PL cạnh tranh

———————

Ngày 28/10/2017

Giảng viên: cô Nguyễn Thị Vân Anh (PGS, TS)

(tiếp bài trước)

3. Quá trình phát triển của pháp luật cạnh tranh trên thế giới

Trang 6

– Mục tiêu của PL cạnh tranh: phát huy mặt tích cực của cạnh tranh, đồng thời hạn chế mặt tiêucực của cạnh tranh.

+ Mặt tích cực của cạnh tranh: làm các chủ thể ganh đua với nhau, qua đó thúc đẩy sản xuất, cungứng hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng ==> giá hàng hóa, dịch vụ rẻ hơn, người tiêu dùng

có nhiều sự lựa chọn hơn

+ Mặt tiêu cực của cạnh tranh: là việc cạnh tranh không lành mạnh: thông đồng, cấu kết giữa cácdoanh nghiệp lớn để thâu tóm thị trường

– PL cạnh tranh điều chỉnh các hành vi phản cạnh tranh, gồm:

vi cạnh tranh không lành mạnh chỉ gây thiệt hại cho doanh nghiệp (đối thủ) hoặc cho

bộ phận người tiêu dùng

Trong lịch sử thì nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh lại xuất hiện trong PL cạnh tranhtrước nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh VD việc cấm cách hành vi cạnh tranh không lànhmạnh đã được quy định trong Bộ luật dân sự Pháp 1804 (bộ luật Napoleon); còn việc cấm cáchành vi hạn chế cạnh tranh chỉ xuất hiện ở cuối thế kỷ 19, khi đã hình thành các nhà tư bảnlớn, đủ sức thống lĩnh thị trường

Như vậy, mặc dù được xuất hiện trước trong PL cạnh tranh, nhưng đến nay thì phần lớn các nước lại chỉquy định trong luật cạnh tranh về các hành vi hạn chế cạnh tranh, còn các hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh thường được đưa sang luật khác (như luật dân sự)

III. Khái quát về pháp luật cạnh tranh Việt Nam

1. Sự phát triển của pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam

2. Hiệu lực của Luật cạnh tranh 2004

a. Hiệu lực về phạm vi điều chỉnh quan hệ cạnh tranh

– Các quy định mang tính nội dung điều chỉnh các hành vi cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh:

+ điều chỉnh nhóm hành vi hạn chế kinh doanh (Chương II): là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, gồm 4 nhóm:

• Thỏa thuận hạn chế kinh doanh

• Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

• Lạm dụng vị trí độc quyền

• Tập trung kinh tế

Trang 7

+ điều chỉnh nhóm hành cạnh tranh không lành mạnh (Chương III): là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng, gồm 9 hành vi (Điều 39 Luật cạnh tranh)

+ điều chỉnh các hành vi can thiệp vào môi trường kinh doanh từ phía cơ quan quản lý nhà nước

(Điều 6 Chương I): Cơ quan quản lý nhà nước không được thực hiện những hành vi sau đây để cản trở cạnh tranh trên thị trường:

(1). Buộc doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân phải mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ với doanh nghiệp được cơ quan này chỉ định, trừ hàng hoá, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước hoặc trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật;

(2). Phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp;

(3). Ép buộc các hiệp hội ngành nghề hoặc các doanh nghiệp liên kết với nhau nhằm loại trừ, hạn chế, cản trở các doanh nghiệp khác cạnh tranh trên thị trường;

(4). Các hành vi khác cản trở hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp

Chú ý: việc điều chỉnh hành vi của cơ quan quản lý nhà nước trong Luật cạnh tranh chỉ có ở riêng

VN (và Trung Quốc), do đặc thù của VN là các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước vẫn chiếmphần lớn trong nền kinh tế, và các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đều có cơ quan chủ quản(thường là các bộ, ủy ban, sở), và trong quá trình hoạt động thì rất thường xuyên các cơ quan chủquản đưa ra các mệnh lệnh hành chính để can thiệp vào hoạt động kinh doanh, trong đó phần lớn làcan thiệp để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nhà nước, dẫn tới méo mó thị trường, cản trở cạnhtranh VD năm 2015, UBND tỉnh Hà Tĩnh ra công văn yêu cầu cơ quan, tổ chức, doanhnghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh phải ưu tiên sử dụng Bia Sài Gòn (vì nhà máy Bia Sài Gònđóng góp ngân sách lớn cho Hà Tĩnh)

– Các quy định mang tính hình thức điều chỉnh quan hệ giữa cơ quan thi hành Luật cạnh tranh vớichủ thể kinh doanh (Chương IV, Chương V):

+ quy định về tố tụng cạnh tranh: trình tự, thủ tục xử lý vi phạm PL cạnh tranh

+ quy định về xử lý vi phạm PL cạnh tranh

b. Hiệu lực về chủ thể

– Tổ chức, cá nhân kinh doanh (được gọi chung là doanh nghiệp):

+ bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạtđộng trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nước ngoàihoạt động ở VN

+ cá nhân kinh doanh: bao gồm cả cá nhân có đăng ký kinh doanh và cá nhân không cóđăng ký kinh doanh

Trang 8

– Hiệp hội ngành nghề hoạt động ở VN: hiệp hội ngành hàng (VD hiệp hội bia, hiệp hội chè, hiệp hộithuốc lá, hiệp hội cafe, …), hiệp hội nghề nghiệp (hiệp hội bán lẻ, hiệp hội các doanh nghiệp bảohiểm, hiệp hội các doanh nghiệp du lịch, …)

Hiệp hội tuy không phải là chủ thể kinh doanh, tuy nhiên thành viên của hiệp hội đều là các chủthể kinh doanh nên hiệp hội có thể đưa ra các khuyến nghị có thể ảnh hưởng đến cạnh tranh– Tổ chức, cá nhân khác: các cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh, các điều tra viên về cạnhtranh

c. Hiệu lực về không gian

– Luật cạnh tranh chỉ áp dụng cho các hành vi cạnh tranh có ảnh hưởng hoặc gây cản trở tớicạnh tranh của các chủ thể xảy ra trên lãnh thổ VN

– Các hành vi cạnh tranh được tiến hành ngoài lãnh thổ VN ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh của

VN không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật cạnh tranh

3. Nguồn của pháp luật cạnh tranh Việt Nam

– Thứ nhất: các văn bản luật được Quốc hội thông qua:

+ Nghị định 42/2014 quy định về quản lý nhà nước đối với hành vi bán hàng đa cấp

+ Nghị định 07/2015 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng cạnh tranh

– Thứ ba: Điều ước quốc tế liên quan đến cạnh tranh mà VN là thành viên

– Lưu ý: Về mối quan hệ giữa các văn bản là nguồn của Luật cạnh tranh (Điều 5 Luật cạnh tranh)

+ Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Luật cạnh tranh với quy định của luật khác

về hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh thì áp dụng quy định của Luật cạnhtranh

VD xử lý vụ việc vi phạm về đấu thầu, thì cả luật cạnh tranh và luật đấu thầu đều quy định ==> ápdụng luật cạnh tranh

+ Trường hợp điều ước quốc tế mà VN ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của Luậtcạnh tranh thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó

– Cơ quan giải quyết các vụ việc cạnh tranh ở VN hiện nay là:

Trang 9

+ Cục quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương: là cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh.

Điểm hạn chế của Cục quản lý cạnh tranh là nằm dưới sự quản ý của Bộ Công thương ==> khó

có thể xử lý các vụ việc cạnh tranh có liên quan đến doanh nghiệp thuộc Bộ Công thương+ Hội đồng cạnh tranh: là cơ quan của Chính phủ, thành viên do Thủ tướng bổ nhiệm

– Mối quan hệ giữa Cục quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh: khi xảy ra vụ việc cạnh tranh thì việcđiều tra là của Cục quản lý cạnh tranh, còn việc ra quyết định xử lý thì chia ra:

+ Cục quản lý cạnh tranh ra quyết định xử lý đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh+ Hội đồng cạnh tranh ra quyết định xử lý đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh

==> bất cập: vai trò của Hội đồng cạnh tranh rất mờ nhạt, vì hầu như bị phụ thuộc vào Cục quản

lý cạnh tranh (vì Hội đồng cạnh tranh không có chức năng điều tra, nên bắt buộc phải dựa vào kếtquả điều tra của Cục quản lý cạnh tranh)

Chương II Căn cứ xác định hành vi hạn chế cạnh tranh

Tình huống: Tháng 11/2016, doanh nghiệp A, B, C (đều có trụ sở chính tại Hà Nội) cùng

tăng giá bán sản phẩm nước uống có gas đóng chai Hành vi tăng giá bán của các doanhnghiệp này có gây hạn chế cạnh tranh không? Có cần ngăn chặn?

Trả

lời : Đây là hành vi thỏa thuận ấn định giá hàng hóa Áp dụng khoản 2 Điều 9 Luật cạnh tranh

thì hành vi này vi phạm Luật cạnh tranh nếu A, B, C chiếm từ 30% thị phần trên thị trườngliên quan

I. Xác định thị trường liên quan (relevant martket)

1. Khái quát về xác định thị trường liên quan

a. Khái niệm thị trường và thị trường liên quan

– Khái niệm thị trường:

+ Thị trường trong kinh tế học là sự tương tác giữa cung và cầu (người mua – người bán),

qua đó xác định giá, lượng hàng hóa, dịch vụ trao đổi

+ Thị trường trong đời sống là địa điểm nơi hàng hóa được trao đổi (thị trường

= chợ)

– Khái niệm thị trường liên quan:

+ thị trường liên quan là khái niệm pháp lý (được quy định trong PL cạnh tranh của VN

và tất cả các nước trên thế giới, đây là khái niệm riêng có của PL cạnh tranh)

+ thị trường liên quan không đồng nhất với thị trường theo nghĩa thông

thường nêu trên, không đồng nhất với một thị trường hàng hóa hoặc một ngành sản xuất,kinh doanh nhất định VD thị trường bán lẻ, thị trường nước giải khát, ngành xi măng, …

Trang 10

+ thị trường liên quan là công cụ để xác định giới hạn, phạm vi cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cụ thể, trong một bối cảnh cụ thể

Khi điều tra 1 vụ việc cạnh tranh, bắt buộc phải xác định được thị trường liên quan

b. Các định nghĩa về thị trường liên quan

– Pháp luật của các nước trên thế giới đều quy định thị trường liên quan gồm 2 thành tố:

+ thị trường sản phẩm liên quan, và

+ thị trường địa lý liên quan

Hai thành tố này có sự quan hệ mất thiết với nhau Khi xác định thị trường liên quan, người

ta sẽ xác định thị trường sản phẩm liên quan trước, sau đó xác định thị trường địa lý liên quan.– Ủy ban châu Âu định nghĩa:

+ thị trường sản phẩm liên quan bao gồm tất cả các sản phẩm hay dịch vụ được ngườitiêu dùng coi là có khả năng thay thế cho nhau do các đặc tính của sản phẩm, giá cả cũng nhưmục đích sử dụng của chúng

+ thị trường địa lý liên quan là 1 khu vực địa lý cụ thể nơi các doanh nghiệp có liên quantham gia giao dịch trong những điều kiện cạnh tranh tương tự và các điều kiện cạnh tranh tạikhu vực này phải khác biệt đáng kể so với các điều kiện cạnh tranh tại các khu vực lân cận.– PL VN hiện hành quy định: thị trường liên quan bao gồm (khoản 1 Điều 3 Luật cạnh tranh):+ thị trường sản phẩm liên quan: là thị trường của những hàng hoá, dịch vụ có thểthay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả

+ thị trường địa lý liên quan: là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hoá, dịch vụ

có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể vớicác khu vực lân cận

==> như vậy quy định về thị trường liên quan của VN là tương đồng với thế giới

c. Thị trường sản phẩm liên quan

– Là thị trường của các hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về cả 3 yếu tố: đặc tính, mụcđích sử dụng, giá cả (Điều 3 Luật cạnh tranh)

– Hàng hóa, dịch vụ được gọi là thay thế cho nhau nếu đáp ứng cả 3 điều kiện (Điều 4 Nghị định116/2005):

+ Có nhiều tính chất về vật lý, hóa học, tác dụng phụ đối với người sử dụng, khả năng hấp thụ giốngnhau

+ Mục đích sử dụng chủ yếu giống nhau

+ 50% lượng mẫu ngẫu nhiên 1000 người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan chuyểnsang mua hàng hóa, dịch vụ khác thay thế nếu giá của hàng hóa, dịch vụ đó tăng quá 10% vàđược duy trì trong 6 tháng liên tục

Trang 11

– Ngoài ra còn căn cứ vào 1 số yếu tố khác để xác định thuộc tính có thể thay thế cho nhau của hànghóa, dịch vụ (khoản 6 Điều 4 Nghị định 116/2015)

VD: nói “thị trường nước giải khát” là khái niệm quá rộng, rất khó xác định, vì có rất nhiềusản phẩm có thể quy về “nước giải khát” như nước tinh khiết, nước khoáng, nước ngọt, nước hoaquả, bia, nước trà, … Thay vào đó, có thể xác định “thị trường nước giải khát có gas đóngchai”

d. Thị trường địa lý liên quan

– Là một khu vực địa lý cụ thể, trong đó có các hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với cácđiều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực địa lý lân cận (khoản 1Điều 3 Luật cạnh tranh)

– Căn cứ để xác định ranh giới của khu vực địa lý liên quan (khoản 1 Điều 7 Nghị định 116/2015):+ khu vực địa lý có cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp tham gia phân phối sản phẩm liên quan+ cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp khác đóng trên khu vực địa lý cân cận, đủ gần với khu vựcđịa lý đang xem xét để có thể tham gia phân phối sản phẩm liên quan trên khu vực địa lý đó+ chi phí vận chuyển trong khu vực địa lý đang xem xét

+ thời gian vận chuyển hàng hóa, cung ứng dịch vụtrong khu vực địa lý đang xem xét

+ rào cản gia nhập thị trường (Điều 8 Luật cạnh tranh)

VD: thị trường khu vực Hà Nội, thị trường khu vực miền bắc, thị trường toàn quốc

* Tóm lại:

+ Thị trường liên quan: bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan

+ Thị trường sản phẩm liên quan: thuộc tính có thể thay thế cho nhau của các sản

phẩm

+ Thị trường địa lý liên quan: khu vực địa lý có các sản phẩm liên quan, trong điều kiện cạnh tranh là đồng nhất và có sự khác biệt đáng kể với khu vực

khác

e. Ý nghĩa của việc xác định thị trường liên quan

– Xác định thị trường liên quan là 1 bước rất quan trọng trong việc điều tra, xử lý vụ việc hạnchế cạnh tranh

Câu hỏi: Đối với vụ việc cạnh tranh không lành mạnh thì có cần xác định thị trường liên

quan không?

T

r ả l ờ i : Không Vì vụ việc cạnh tranh không lành mạnh chỉ xâm hại tới đối thủ cạnh

tranh hoặc ảnh hưởng tới bộ phận người tiêu dùng, không ảnh hưởng tới môi trường cạnh tranhcủa nền kinh tế thị trường Do đó khi điều tra vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, điều traviên chỉ điều tra xem có hành vi cạnh tranh không lành mạnh xảy ra

Trang 12

không chứ không cần xác định thị trường liên quan như khi điều tra vụ việc hạn chế cạnhtranh.

Chú ý: Một số báo cáo kiểu như Đánh giá tình hình cạnh tranh trên các thị trường, ví dụ thị

trường bia, thị trường xe máy, … thì đây là các đánh giá cạnh tranh theo kinh kế học, chứkhông phải là đánh giá cạnh tranh trên thị trường liên quan

==> thị trường liên quan chỉ có trong việc xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh

Xác định thị trường liên quan là quá trình đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: “Đâu là những sản phẩm mà người tiêu dùng cho là có khả năng thay thế ở mức chấp nhận được cho 1 sản phẩm, khi xem xét đến các yếu tố đặc tính, giá cả, mục đích sử dụng và các thuộc tính quan trọng khác của sản phẩm?”

f. Mục đích của việc xác định thị trường liên quan

– Nhằm xác định giới hạn, phạm vi cạnh tranh của các doanh nghiệp trong vụ việc cạnh tranh

VD việc xác định 1 doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường hay không, nếu có thì sẽ bịcấm thực hiện 1 số hành vi (Điều 13 Luật cạnh tranh), còn nếu không phải ở vị trí thống lĩnh thìkhông cấm các hành vi đó

– Giúp tìm ra các đối thủ cạnh tranh

– Giúp xác định sức mạnh thị trường của doanh nghiệp

– Giúp đánh giá tác động của hành vi do doanh nghiệp thực hiện trên thị trường liên quan đó

2. Các phương pháp xác định thị trường liên quan

– Việc xác định thị trường liên quan là rất quan trọng và cũng rất phức tạp, phải dựa vào nhiềuyếu tố, phải điều tra kỹ lưỡng, và thường cần thời gian khá dài để xác định

VD trong vụ xét xử VINASCO (là Tổng công ty xăng dầu hàng không từ chối bán xăng choPacific Airlines) lạm dụng vị trí độc quyền, để xác định thị trường liên quan cần đến 6tháng để điều tra, xác minh

VD trong vụ 19 công ty bảo hiểm cùng thỏa thuận nâng giá bảo hiểm vật chất xe ô tô, cần đến 8tháng để điều tra và xác định thị trường liên quan

– Có 3 phương pháp xác định thị trường liên quan:

a. Phương pháp xem xét khả năng thay thế về cầu

– Trong hầu hết các trường hợp, thị trường liên quan được xem xét dựa trên quan điểmcủa khách hàng, tức là từ góc độ khả năng thay thế về cầu

– Nội dung: giả định có 1 doanh nghiệp cung cấp độc quyền 1 sản phẩm trong khu vực, trong

trường hợp họ nâng giá nhẹ nhưng mang tính thực chất và không nhất thời (ổn định),

với mục đích đạt lợi nhuận cực đại; từ đó đánh giá phản ứng của khách hàng đối với sự thayđổi đó

VD: Honda tăng giá, nếu khách hàng dễ dàng chuyển sang mua xe Yamaha thì chứng tỏ hành

vi tăng giá của Honda không có tác động đáng kể lên những điều kiện bán

Trang 13

hàng thông thường Khi đó thị trường liên quan vượt ra ngoài bộ phận “xe Honda” mà mởrộng ra cả “xe Honda và Yamaha”.

b. Phương pháp xem xét khả năng thay thế về cung

– Trong trường hợp cần thiết, cơ quan cạnh tranh có thể xác định thị trường liên quan dựa trênquan điểm của nhà cung cấp, tức là xem xét dưới góc độ nguồn cung

Nội dung: trong trường hợp nâng giá nhẹ nhưng mang tính thực chất và không nhất thời, khảo sát mức độ những người sản xuất khác trong thời gian ngắn (khoảng 1 năm)

chuyển từ sản phẩm hay khu vực khác sang sản xuất và bán sản phẩm đó mà không phải chịuchi phí bổ sung hay rủi ro lớn nào:

+ nếu khách hàng dễ dàng chuyển sang mua sản phẩm của nhà cung cấp khác, ở khu vực khác,chứng tỏ hành vi tăng giá không có ảnh hưởng đến cạnh tranh Và thị trường liênquan được mở rộng

+ nếu chỉ có 1 lượng không đáng kể khách hàng chuyển sang mua sản phẩm khác, và doanhnghiệp đó vẫn có thể gia tăng lợi nhuận thì hành vi tăng giá là thành công, có tác động đếncạnh tranh Và thị trường thống lĩnh có thể không mở rộng thêm

VD: Giấy có nhiều loại với những tính năng, công dụng, phẩm chất khác nhau như giấy in ảnh,giấy bao bì, giấy viết, … Nhưng các nhà máy sản xuất giấy thường cùng lúc sản xuất nhiều loạigiấy khác nhau, quy trình cũng khác nhau không nhiều Khi gặp khó khăn, nhà máy có thể nhanhchóng chuyển từ sản xuất loại giấy này sang sản xuất loại giấy khác mà không tốn kèmnhiều Do vậy, thị trường liên quan không chia theo từng loại giấy hay mục đích sử dụng

mà được xếp vào cùng 1 thị trường liên quan

c. Phép thử độc quyền giả định (SSNIP test)

3. Xác định thị trường địa lý liên quan

– Khả năng thay thế về cầu: áp dụng thử nghiệm SSNIP

A là khu vực nơi doanh nghiệp bị điều tra đang cung cấp sản phẩm, nếu doanh nghiệp tăng giá,sản phẩm thay thế sẽ được chuyển từ khu vực khác đến, thị trường địa lý sẽ được mở rộng

– Khả năng thay thế về cung: khả năng các doanh nghiệp tại các vùng địa lý khác (VD: các khu vựclân cận) có thể nhanh chóng cung cấp sản phẩm thay thế cho khu vực đang bị điều tra

Trang 14

Chương 3: Pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

I. Khái quát về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

1. Khái niệm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

– Hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được nhìn nhận là sự thống nhất cùng hành động của nhiềudoanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ sức ép của cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành độngmột cách độc lập giữa các đối thủ cạnh tranh

– Theo khoản 3 Điều 3 Luật cạnh tranh, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là hành vi hạn chế cạnhtranh, làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường

– Điều 8 Luật cạnh tranh 2004 liệt kê 8 dạng hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh:

(1)Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;

(2)Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ;(3)Thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, dịch vụ;(4)Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;

(5)Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch

vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đếnđối tượng của hợp đồng;

(6)Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặcphát triển kinh doanh;

(7)Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thoảthuận;

(8)Thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cungứng dịch vụ

==> theo Luật cạnh tranh 2004 chỉ có các thỏa thuận được quy định tại Điều 8 mớiđược coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và có thể bị cấm

2. Đặc điểm pháp lý của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo Luật cạnh tranh VN

– Chủ thể thực hiện là các doanh nghiệp hoạt động độc lập:

+ là các doanh nghiệp theo Luật cạnh tranh 2004

+ không nhất thiết phải hoạt động trên thị trường liên quan

+ các doanh nghiệp độc lập với nhau về tài chính, ý chí

– Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được thực hiện khi có sự thống nhất ý chí:

Trang 15

+ làm giảm sức ép cạnh tranh, làm sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường

3. Phân loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Thỏa thuận theo chiều ngang: là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp hoạt động trên cùng

1 thị trường liên quan VD các nhà cung cấp cùng thỏa thuận với nhau, các nhà sản xuấtcùng thỏa thuận với nhau, các nhà phân phối cùng thỏa thuận với nhau, các nhà bán lẻ cùngthỏa thuận với nhau

Thỏa thuận theo chiều dọc: là các thỏa thuận diễn ra giữa các doanh nghiệp ở các công

đoạn khác nhau trong quá trình sản xuất, phân phối sản phẩm VD nhà cung cấp, nhà sảnxuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ cùng thỏa thuận với nhau

– Câu hỏi: Tại sao nói các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quy định từ khoản 1 tới khoản 5 Điều 8Luật cạnh tranh là thỏa thuận theo chiều ngang?

– Phân loại 8 dạng hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo Luật cạnh tranh 2004

– Luật cạnh tranh của VN có sự phân loại rõ ràng thỏa thuận theo chiều ngang và thỏa thuận theochiều dọc?

II. Các hình thức của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo luật cạnh tranh 2004

1. Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa dịch vụ

Khái niệm: (khoản 1 Điều 8 Luật cạnh tranh) là Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp

– Phân loại:

+ các thỏa thuận trực tiếp ấn định giá (khoản 1, 2, 3 Điều 14 Nghị định 116/2005)

==> tạo ra 1 mức giá mua, bán như nhau giữa các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận

+ thỏa thuận gián tiếp ấn định giá (khoản 4, 5, 6, 7, 8 Điều 14 Nghị định 116/2005)

==> ngăn cản, kìm hãm các doanh nghiệp định giá sản phẩm của mình một cách độc lập theo cơchế thị trường

– Hậu quả:

+ xóa bỏ cạnh tranh về giá hàng hóa, dịch vụ giữa các thành viên của thỏa thuận

+ tước đoạt cơ hội của khách hàng được lựa chọn mức giá cạnh tranh hợp lý trên thị trường– Biểu hiện của hành vi trên thực tế:

+ VD vụ 19 công ty bảo hiểm ký văn bản thỏa thuận tăng mức phí tối thiểu đối với dịch vụ bảo hiểmvật chất xe ô tô vào cuối năm 2008

2. Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ

Khái niệm: (khoản 2 Điều 8 Luật cạnh tranh và Điều 15 Nghị định 116/2005) Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ là việc các doanh nghiệp đang cạnh tranh với nhau trên thị trường đã thống nhất phân chia thị trường đầu vào hoặc thị trường đầu ra của quá

Trang 16

trình sản xuất, theo đó mỗi doanh nghiệp chỉ được mua hoặc bán sản phẩm trong 1 lĩnh vực địa lý nhất định, hoặc cho 1 nhóm khách hàng nhất định đã được chỉ định trong thỏa thuận từ trước.

– Phân loại:

+ thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ

+ thỏa thuận phân chia nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ

– Hậu quả:

+ các thỏa thuận này sẽ làm loại bỏ sức ép cạnh tranh, mỗi doanh nghiệp sẽ trở thành độc quyềntrong khu vực được phân chia

+ doanh nghiệp lợi dụng vị trí độc quyền đó đưa ra những yêu cầu phi lý đối với khách hàng

– Biểu hiện của hành vi trên thực tế:

3. Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ

– Khái niệm: (Điều 16 Nghị định 116/2005)

+ Thứ nhất: thỏa thuận hạn chế số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ

+ Thứ hai: thỏa thuận kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ

– Hậu quả:

+ đẩy giá hàng hóa, dịch vụ lên cao gây thiệt hại cho người tiêu dùng

+ gây ra xáo trộn nhất định trong đời sống kinh tế, xã hội

– Biểu hiện của hành vi trên thực tế:

+ VD tình huống: trên trị trường cung cấp sản phẩm X, chỉ có 3 nhà cung cấp là doanhnghiệp A, B và C Căn cứ vào năng lực sản xuất của mình, các doanh nghiệp này đã thỏa thuậnphân chia như sau: số lượng sản phẩm đặt hàng của A là 63%, B là 27%, C là 10% tổng nhu cầucủa toàn bộ sản phẩm X ước tính sẽ được tiêu thụ cho năm sau Hãy xác định loại thỏa thuậntrên thuộc loại nào?

– Lưu ý: không phải lúc nào việc cắt giảm số lượng, khối lượng hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệpcũng là kết quả của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh VD suy giảm nhu cầu thị trường đối với hànghóa hay dịch vụ đó, khủng hoảng kinh tế, hàng hóa tồn kho

4. Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư

– Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ là việc thống nhất mua sáng chế, giải pháp hữu ích,kiểu dáng công nghiệp để tiêu hủy hoặc không sử dụng (khoản 1 Điều 17 Nghị định 116)

Trang 17

– Thỏa thuận hạn chế đầu tư là việc thống nhất không đưa thêm vốn để mở rộng sản xuất, cải tiến chấtlượng hàng hóa, dịch vụ hoặc để mở rộng phát triển khác (khoản 2 Điều 17 Nghị định 116)

5. Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ

– Khái niệm (khoản 1 Điều 18 Nghị định 116)

+ Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác lấy điều kiện ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch

vụ Chỉ áp dụng với các trường hợp khách hàng là doanh nghiệp

+ Các điều kiện mà thỏa thuận đặt ra phải là những điều kiện có nội dung phản cạnh tranh

+ Các điều kiện đặt ra phải là những điều kiện tiên quyết để ký kết hợp đồng

7. Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thì trường hoặc phát triển kinh doanh

– Khái niệm: (khoản 6 Điều 8 Luật cạnh tranh, Điều 19 Nghị định 116/2005) Bao gồm:

+ thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường

+ thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác phát triển kinh doanh

==> hai dạng thỏa thuận này khác nhau về đối tượng hướng tới

8. Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải

là các bên của thỏa thuận

– Khái niệm (Khoản 7 Điều 8 Luật cạnh tranh, Điều 20 Nghị định 116/2005) Đây là loại thỏathuận trong đó các bên thống nhất không giao dịch với doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận(tẩy chay) và cùng hành động dưới hình thức quy định tại Điểm a) khoản 1 và khoản 2 Điều 19Nghị định 116/2005

– So sánh khoản 6 và khoản 7 Điều 8 Luật cạnh tranh 2004

9. Thông đồng để một hoặc các bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ

– Khái niệm đấu thầu:

– Đặc điểm của hành vi thông đồng thầu:

+ Thứ nhất: về chủ thể, thỏa thuận thông đồng trong đấu thầu chỉ xảy ra giữa các bên dự thầuvới nhau

+ Thứ hai: nội dung của thỏa thuận là các doanh nghiệp tham gia đấu thầu thống nhất để 1 hoặc 1

số doanh nghiệp đã tham gia thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hóa hoặc cung ứngdịch vụ

+ Thứ ba: về hậu quả, hành vi thông đồng trong đấu thầu đã làm vô hiệu cơ chế cạnh tranh mà ngườimời thầu đã nỗ lực tạo ra

– Phân loại thỏa thuận đấu thầu:

+ thỏa thuận ngăn cản đấu thầu: gây cản trở quá trình đấu thầu, làm mất tính công bằng và bìnhđẳng giữa các chủ thể tham gia

Ngày đăng: 30/07/2022, 15:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w