Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về tập trung kinh tế: PHẦN MỞ ĐẦU Như một lẽ tự nhiên, doanh nghiệp nào tồn tại trên thị trường cũng đều tìm cách nâng cao năng lực cạnh tranh của mình thông qua quá trình “tự lớn lên” của chính mình; thể hiện bằng những biện pháp như nâng cao năng lực tài chính, cải tiến tổ chức quản lý, phát triển công nghệ mới, thay đổi chiến lược sản xuất kinh doanh và đôi khi còn có cả việc “hợp tác cùng phát triển” Luật cạnh tranh Việt Nam có điều chỉnh về vấn đề này, đó được gọi là tập trung kinh tế Có thể nói, tập trung kinh.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Như một lẽ tự nhiên, doanh nghiệp nào tồn tại trên thị trường cũng đều tìm cách nâng cao năng lực cạnh tranh của mình thông qua quá trình “tự lớn lên” của chính mình; thể hiện bằng những biện pháp như nâng cao năng lực tài chính, cải tiến tổ chức quản lý, phát triển công nghệ mới, thay đổi chiến lược sản xuất kinh doanh và đôi khi còn có cả việc “hợp tác cùng phát triển” Luật cạnh tranh Việt Nam có điều chỉnh về vấn đề này, đó được gọi là tập trung kinh tế Có thể nói, tập trung kinh tế là một xu hướng phát triển tất yếu trong nền kinh tế thị trường và luôn cần có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng
bộ để kiểm soát tập trung kinh tế một cách tốt nhất Việt Nam đã xây dựng một hành lang pháp lý cơ bản và đầy đủ để điều chỉnh hiện tượng tập trung kinh tế Trong hơn 10 năm thực hiện (2004-2015), pháp luật cạnh tranh đã làm được những gì và thực tiễn hiện tượng tập trung kinh tế diễn ra như thế nào? Để tìm hiểu về vấn đề này, em xin chọn đề bài số 8:
“Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về tập trung kinh tế” làm nội dung bài
tập lớn
Do hiểu biết còn nhiều hạn chế, nguồn tài liệu tham khảo chưa phong phú nên bài làm của em còn nhiều thiếu xót, kính mong thầy (cô) cho ý kiến đóng góp để bài làm của
em được hoàn thiện hơn
Em xin trân thành cảm ơn thầy (cô) !
Trang 2PHẦN NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TẬP TRUNG KINH T Ế
1 khái niệm tập trung kinh tế
Trong khoa học kinh tế và trong khoa học pháp lý, khái niệm tập trung kinh tế ở Việt Nam được bình luận ở nhiều góc độ khác nhau Trong đó, có ba cách tiếp cận cơ bản: Một là, với tư cách là quá trình gắn liền với việc hình thành và thay đổi của cấu trúc thị trường, TTKT trên thị trường được hiểu là quá trình mà số lượng các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trê thị trường bị giảm đi thông qua các hành vi sáp nhập (theo nghĩa rộng) hoặc thông qua tăng trưởng nội sinh của doanh nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất Cách nhìn nhận này đã làm rõ nguyên nhân và ảnh hưởng của TTKT đối với cấu trúc thị trường cạnh tranh
Hai là, với tính chất là hành vi của các doanh nghiệp, TTKT (còn gọi là tập trung tư bản) được hiểu là sự gia tăng tư bản do hợp nhất nhiều tư bản lại hoặc một tư bản này thu hút một tư bản khác Khái niệm này không đưa ra các biểu hiện cụ thể của TTKT, nhưng lại cho thấy bản chất và phương thức của hiện tượng
Ba là, dưới góc độ pháp luật, Luật cạnh tranh năm 2004 (LCT) không quy định thế nào là tập trung kinh tế mà chỉ liệt kê các hành vi được coi là tập trung kinh tế Theo đó, khoản 3 Điều 3 khẳng định tập trung kinh tế là hành vi hạn chế cạnh tranh; Điều 16 quy định tập trung kinh tế là hành vi của doanh nghiệp gồm: sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp, các hành vi tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật
Như vậy, cho dù được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, tập trung kinh tế vẫn
có các đặc điểm cơ bản sau:
- Chủ thể của tập trung kinh tế là các doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường Các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có thể là các doanh nghiệp hoạt động trong cùng hoặc không cùng thị trường liên quan
Trang 3- Hành vi tập trung kinh tế được thể hiện dưới những hình thức nhất định theo quy định của pháp luật
- Tập trung kinh tế đã hình thành nên doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tổng hợp hoặc liên kết thành nhóm doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, từ đó làm thay đổi cấu trúc thị trường
và tương quan cạnh tranh hiện có trên thị trường
2 Các hình thức tập trung kinh tế.
Tập trung kinh tế bao gồm tập trung theo chiều ngang, tập trung theo chiều dọc hoặc tập trung theo đường chéo (tập trung hỗn hợp).
Theo pháp LCT Việt Nam, quy định tại Điều 16 và Điều 17 LCT, tập trung kinh tế gồm 4 hình thức cơ bản sau:
* Sáp nhập doanh nghiệp
Khoản 1 Điều 17 LCT quy định: “Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập”.
Theo pháp LCT, sáp nhập doanh nghiệp là một hình thức tập trung kinh tế nên bị kiểm soát nhằm ngăn ngừa khả năng hình thành doanh nghiệp có sức mạnh trên thị trường có thể dẫn đến thực hiện hành vi gây cản trở cạnh tranh.
* Hợp nhất doanh nghiệp
Khoản 2 Điều 17 LCT quy định: “Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất” Như vậy, sau khi đăng ký kinh doanh, các doanh nghiệp bị hợp nhất chấm dứt
tồn tại, doanh nghiệp hợp nhất được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và các nghĩa vụ tài sản khác của các doanh nghiệp bị hợp nhất.
Trang 4* Mua lại doanh nghiệp
Khoản 3 Điều 17 LCT quy định: “Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn
bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại” Có một số ý kiến cho rằng mua
lại toàn bộ doanh là hình thức sáp nhập doanh nghiệp bởi khi mua lại toàn bộ doanh nghiệp, người mua trở thành chủ sở hữu doanh nghiệp cũng như tài sản của doanh nghiệp, được hưởng các quyền, nghĩa vụ và tính hợp pháp của doanh nghiệp đó Về bản chất, việc mua lại không phải là quá trình thống nhất về tổ chức giữa doanh nghiệp mua lại và doanh nghiệp bị mua lại Ngoài ra, khoản 1 Điều 35 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP còn quy định trường hợp mua lại doanh nghiệp khác không bị coi là tập trung kinh tế.
* Liên doanh giữa các doanh nghiệp
Khoản 4 Điều 17 LCT quy định: “Liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới” Có thể thấy, hành vi liên doanh có
một sự khác biệt cơ bản so với hành vi hợp nhất doanh nghiệp đó là sau khi các doanh nghiệp góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vu, lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới thì địa vị pháp lý của các doanh nghiệp đó vẫn còn tồn tại.
II Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về tập trung kinh tế
1 Quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam về tập trung kinh tế
1.1 Mô hình kiểm soát tập trung kinh tế
LCT có nhiều điều khoản tạo hành lang pháp lý cho phép các cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế Cụ thể là:
* Tập trung kinh tế hoàn toàn tự do
Pháp LCT Việt Nam đã sử dụng tiêu chí thị phần của doanh nghiệp trên thị trường liên quan để kiểm soát tập trung kinh tế Theo quy định khoản 1 Điều 20 LCT, các doanh nghiệp có quyền tự do thực hiện tập trung kinh tế trong hai trường hợp sau:
Trang 5- Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia TTKT thấp hơn 30% trên thị trường liên quan thì không bị cấm và không có nghĩa vụ phải thông báo;
- Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan cũng không bị cấm và không phải thông báo, nếu sau khi thực hiện TTKT vẫn thuộc loại doanh nghiệp vừa và nhỏ theo quy định của pháp luật
* TTKT phải thông báo
Đoạn 1 khoản 1 Điều 20 LCT quy định: “Các doanh nghiệp tập trung kinh tế có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của doanh nghiệp đó phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành tập trung kinh tế” Trong trường hợp này, các doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện việc sáp nhập, hợp
nhất, mua lại và liên doanh sau khi đã hoàn tất thủ tục thông báo và được cơ quan quản lý cạnh tranh chấp thuận Đây là một quy định hợp lý bởi trong khoảng thị phần kết hợp đó chúng ta không thể buông lỏng cho các doanh nghiệp nhưng cũng không thể cấm thực hiện tập trung kinh tế
* Tập trung kinh tế bị cấm và miễn trừ đối với tập trung kinh tế bị cấm
Điều 18 LCT quy định: “Cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan” LCT quy
định như vậy xuất phát từ thực tế cho thấy những vụ việc TTKT có thị phần kết hợp của doanh nghiệp tham gia chiếm trên 50% trên thị trường liên quan luôn mang bản chất hạn chế cạnh tranh, dẫn đến hình thành một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp nắm giữ đa số thị phần trên thị trường liên quan, đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn lại trên thị trường đứng trên bờ phá sản
Trường hợp miễn trừ đối với tập trung kinh tế bị cấm được quy định tại Điều 19
LCT: “Tập trung kinh tế bị cấm quy định tại Điều 18 của Luật này có thể được xem xét miễn trừ trong các trường hợp sau đây:
Trang 61 Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản;
2 Việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế
- xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ”.
Có thể thấy, pháp luật cạnh tranh Việt Nam dựa trên những tình huống về TTKT đã diễn
ra trên thực tế để dự liệu trường hợp miễn trừ này Trình tự và thủ tục xin hưởng miễn trừ TTKT được thực hiện thay cho thông báo TTKT và tương tự như thủ tục xin miễn trừ cấm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được quy định từ Điều 35 đến Điều 38 LCT
1.2 Thủ tục kiểm soát tập trung kinh tế
* Thủ tục thông báo TTKT
Trình tự xem xét một vụ tập trung kinh tế ở Việt Nam theo quy định của LCT bao gồm các bước:
- Bước 1: Doanh nghiệp nộp hồ sơ thông báo tập trung kinh tế
- Bước 2: Cơ quan quản lý cạnh tranh thụ lý hồ sơ thông báo tập trung kinh tế
- Bước 3: Cơ quan quản lý cạnh tranh trả lời thông báo tập trung kinh tế
LCT đã quy định cụ thể về thủ tục thông báo TTKT, trong đó đề cập đến các vấn
đề như sau:
- Đối tượng áp dụng: Các trường hợp tập trung kinh tế mà thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan, trừ trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện tập tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Trách nhiệm của các doanh nghiệp: Các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế phải làm hồ sơ thông báo tập trung kinh tế theo Điều 21 LCT để nộp cho cơ quan có thẩm quyền và chịu trách nhiệm về tính trung thực của hồ sơ.
- Thẩm quyền của cơ quan quản lý cạnh tranh: Cơ quan quản lý cạnh tranh có quyền kiểm soát tập trung kinh tế bằng việc thụ lý hồ sơ thông báo trong thời hạn 7 ngày làm việc kể
từ ngày tiếp nhận hồ sơ (theo Điều 22 LCT) và trả lời thông báo (theo Điều 23 LCT).
Trang 7- Quy định về thời hạn trả lời thông báo TTKT: 45 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ
sơ, có thể gia hạn trong những trường hợp có nhiều tình tiết phức tạp theo quyết định của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh Việc gia hạn không quá 02 lần, mỗi lần không quá 30 ngày
* Thủ tục thực hiện các trường hợp miễn trừ tập trung kinh tế
Thủ tục thực hiện các trường hợp miễn trừ được quy định tại Mục 4 LCT và chi tiết tại Mục 6 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP
Quy trình thực hiện miễn trừ TTKT như sau:
- Nộp hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ;
- Thụ lý hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ;
- Yêu cầu bổ sung hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ và cung cấp thông tin từ các bên liên quan;
- Ra quyết định chấp thuận hoặc không chấp thuận cho hưởng miễn trừ;
- Thực hiện TTKT;
- Bãi bỏ quyết định cho hưởng miễn trừ ( nếu thực hiện trong các trường hợp quy định tại Điều 37 LCT);
- Khiếu nại quyết định liên quan đến việc cho hưởng miễn trừ
1.3 Tố tụng cạnh tranh đối với vụ việc tập trung kinh tế
Tố tụng cạnh tranh là hoạt động của các cơ quan quản lý hành chính Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh gồm cơ quan quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh Tuy nhiên LCT Việt Nam đã tách hai chức năng điều tra và xử lý vụ việc tập trung cho hai cơ quan này:
- Cơ quan quản lý cạnh tranh sẽ thụ lý, điều tra các vụ việc liên quan đến cạnh tranh và kiểm soát quá trình tập trung kinh tế, đó là Cục quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công thương
Trang 8(trước là Bộ Thương mại) đã được thành lập theo Nghị định số 06/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản
lý cạnh tranh
- Hội đồng cạnh tranh là cơ quan thực thi quyền lực nhà nước độc lập có chức năng xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh Cụ thể theo quy định tại Nghị định số 05/2006/NĐ-CP của Chính phủ về thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh, thì Hội đồng cạnh tranh có nhiệm vụ tổ chức xử lý, giải quyết khiếu nại đối với vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh, trong
đó có tập trung kinh tế
Trình tự tố tụng cạnh tranh (vụ việc về TTKT) ở Việt Nam như sau:
- Bước 1: Khiếu nại về vụ việc cạnh tranh
- Bước 2: Thụ lý hồ sơ khiếu nại
- Bước 3: Điều tra vụ việc cạnh tranh: Điều tra sơ bộ vụ việc cạnh tranh được tiến hành theo quyết định của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh
- Bước 4: Mở phiên điều trần
1.4 Xử lý vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế
Theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam, hành vi vi phạm quy định về TTKT được đề cập cụ thể tại LCT và Nghị định số 120/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/9/2005 quy định về xử lý pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh bao gồm các hành vi sau:
- Hành vi sáp nhập doanh nghiệp bị cấm (Điều 25)
- Hành vi hợp nhất doanh nghiệp bị cấm (Điều 26)
- Hành vi mua lại doanh nghiệp bị cấm (Điều 27)
- Hành vi liên doanh doanh giữa các doanh nghiệp bị cấm (Điều 28)
- Hành vi không thông báo về tập trung kinh tế (Điều 29)
Trang 9Các hình thức và mức độ xử lý vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế được quy đinh
từ Điều 25 đến Điều 29 Nghị định 120/2005/NĐ-CP, bao gồm: phạt tiền; buộc thực hiện chia tách các doanh nghiệp đã hợp nhất, sáp nhập; bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, hoặc bị buộc bán tài sản đã mua,…
Thủ tục xử lý vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế phải tuân theo trình tự thủ tục trong tố tụng cạnh tranh quy định tại Chương V Luật cạnh tranh Việt Nam năm 2004 và chương II Nghị định số 116/2006/NĐ-CP.
Việc thực hiện quyết định xử lý vi phạm pháp luật về TTKT được quy định tại mục
3 Chương II Nghị định số 120/2005/NĐ-CP, theo đó thời hạn thực hiện quyết định xử lý
vi phạm là 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, nếu hết thời hạn nêu trên mà các tổ chức, cá nhân bị xử lỷ không tự nguyện thi hành thì sẽ bị cưỡng chế
1.5 Kiểm soát tập trung kinh tế đối với nhà đầu tư nước ngoài
Hiện nay LCT Việt Nam chưa có quy định cụ thể điều chỉnh các khía cạnh của một
vụ việc TTKT có liên quan đến doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các quy định của pháp luật cạnh tranh mới chỉ dừng lại ở việc điều chỉnh về thủ tục chung khi tiến hành tập trung kinh tế với nhà đầu tư nước ngoài và điều chỉnh việc mua cổ phần Doanh nghiệp Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài tại Điều 13 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp, theo đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có quyền góp vốn và mua cổ phần không hạn chế tại doanh nghiệp Như vậy, các quy định của pháp luật cạnh tranh về tập trung kinh tế đối với nhà đầu tư nước ngoài còn rất nghèo nàn và hạn chế, đây là một lỗ hổng của Luật cạnh tranh Việt Nam và nhà làm luật cần nhanh chóng có sự bổ sung để khiến cho hành lang pháp lý điều chỉnh vấn đề tập trung kinh tế hiện nay vững chắc hơn, toàn diện hơn
2 Một số tồn tại trong quy định pháp luật cạnh tranh về kiểm soát tập trung kinh tế
Qua việc phân tích pháp luật cạnh tranh về tập trung kinh tế ở phần trên, có thể thấy tinh thần pháp luật về tập trung kinh tế tại Việt Nam hiện nay về cơ bản đã hình thành với đầy đủ những nội dung cần thiết về quy định pháp lý, thể chế giám sát, kiểm soát tập
Trang 10trung kinh tế Các quy định về các vấn đề này về cơ bản được xây dựng theo đúng truyền thống của pháp LCT hiện đại Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số điểm hạn chế cần được
bổ sung và hoàn thiện như sau:
Thứ nhất, LCT chưa đề cập đến việc kiểm soát đối với tập trung kinh tế theo chiều dọc, TTKT hỗn hợp Ngoài ra, LCT cũng chưa đề cập đến việc kiểm soát hình thức liên kết thông qua đội ngũ lãnh đạo, quản lý chung Những dạng tập trung kinh tế này, có khả năng xảy ra trong tương lai cùng với sự đa dạng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trên thị trường, và có thể gây ra hạn chế cạnh tranh ở mức độ nhất định hoặc làm gia tăng nguy cơ thỏa thuận giữa các doanh nghiệp sau khi tiến hành tập trung kinh tế Thứ hai, ngoài các quy định có nội dung khái quát và mang tính nguyên tắc trong Mục 3 Chương II LCT, và tại Mục 5 chương II Nghị định số 116/2005/NĐ-CP, hiện nay vẫn chưa có các hướng dẫn cụ thể LCT vẫn chưa có quy định để trao quyền cho cơ quan quản lý cạnh tranh trong việc xây dựng nội dung thẩm tra trong thủ tục thông báo, thủ tục miễn trừ các trường hợp tập trung kinh tế và quy chế kiểm soát tập trung kinh tế Nếu khung pháp lý này được hoàn thiện, doanh nghiệp có thể hình dung được phạm vi của quyền tự do kinh doanh liên quan đến hoạt động sáp nhập, hợp nhất, mua lại, góp vốn thành lập doanh nghiệp,… mà họ muốn thực hiện
Thứ ba, bất cập trong quy định về xác định thị trường liên quan: Tại khoản 2 Điều 4
Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định: “Đặc tính của hàng hóa, dịch vụ được xác định theo một hoặc một số căn cứ sau đây: a) Tính chất vật lý; b) Tính chất hóa học; c) Tính năng kỹ thuật; d) Tác dụng phụ đối với người sử dụng; đ) Khả năng hấp thụ” Các tiêu
chí cụ thể nêu trên có thể phù hợp đối với hàng hóa nhưng không có một sự liên quan nào tới dịch vụ Do đó, trong trường hợp cần phải xác định thị trường liên quan của một loại dịch vụ, cơ quan cạnh tranh không thể áp dụng các tiêu chí này để xác định đặc tính của dịch vụ, từ đó, không đảm bảo đầy đủ các yếu tố xác định thị trường liên quan theo quy định của luật
Thứ tư, bất cập khi sử dụng thị phần làm tiêu chí để đánh giá vụ việc tập trung kinh tế: Khó khăn đối với doanh nghiệp khi sử dụng thị phần làm tiêu chí để thông báo Quy