Hiệu lực về phạm vi điều chỉnh quan hệ cạnh tranh – Các quy định mang tính nội dung điều chỉnh các hành vi cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh: + điều chỉnh nhóm hành vi hạn chế kinh
Trang 1BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VÀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG 2021
Thời lượng: 45 tiết
Mục lục
PHẦN 1: PHÁP LUẬT CẠNH TRANH 4
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh 4
1 Những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh 4
2 Khái niệm cạnh tranh 4
3 Các hình thức tồn tại của cạnh tranh / Phân loại cạnh tranh 5
4 Vai trò, ý nghĩa của cạnh tranh và nhu cầu điều tiết cạnh tranh bằng chính sách cạnh tranh 6
5 Những vấn đề lý luận chung về pháp luận cạnh tranh 6
6 Khái niệm pháp luật cạnh tranh 6
7 Các đặc trưng của pháp luật cạnh tranh 6
8 Quá trình phát triển của pháp luật cạnh tranh trên thế giới 7
III Khái quát về pháp luật cạnh tranh Việt Nam 7
1 Sự phát triển của pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam 7
2 Hiệu lực của Luật cạnh tranh 2004 7
3 Nguồn của pháp luật cạnh tranh Việt Nam 8
Chương II Căn cứ xác định hành vi hạn chế cạnh tranh 9
1 Xác định thị trường liên quan (relevant martket) 9
2 Khái quát về xác định thị trường liên quan 9
3 Các phương pháp xác định thị trường liên quan 11
4 Xác định thị trường địa lý liên quan 12
5 Xác định sức mạnh thị trường (market power) 12
Chương 3: Pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 12
1 Khái quát về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 12
2 Khái niệm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 12
3 Đặc điểm pháp lý của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo Luật cạnh tranh VN 13
Trang 24 Phân loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 13
5 Các hình thức của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo luật cạnh tranh 2004 13
6 Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa dịch vụ 13
7 Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch
vụ 14
8 Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ 14
9 Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư 14
10 Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ 15
11 Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thì trường hoặc phát triển kinh doanh 15
12 Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận 15
13 Thông đồng để một hoặc các bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ 15
III Hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 15
Chương 4: Pháp luật về lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền 16
1 Dấu hiệu nhận diện 16
2 Quy định của PL về lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền 16
3 Dấu hiệu nhận diện lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền 16
4 Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền theo luật cạnh tranh 17
5 Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh 17
6 Áp đặt giá mua hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng 18
7 Hành vi hạn chế khả năng kinh doanh, khả năng phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng 18
8 Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh 18
9 Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng 18
Trang 310 Hành vi ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới 18 III Hậu quả pháp lý của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền 18
Chương 5: Pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế 19
1 Khái quát về tập trung kinh tế 19
2 Khái niệm tập trung kinh tế 19
3 Đặc điểm pháp lý của tập trung kinh tế theo Luật cạnh tranh VN 19
4 Phân loại tập trung kinh tế 19
5 Pháp luật về tập trung kinh tế 19
6 Các hình thức tập trung kinh tế theo Luật cạnh tranh 2004 20
7 Kiểm soát hành vi tập trung kinh tế theo Luật cạnh tranh 2004 20
8 Xử lý vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế 21
Chương 6: Pháp luật về kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh 21
1 Khái niệm và phân loại cạnh tranh không lành mạnh 21
2 Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh 21
3 Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh 22
4 Phân loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh 22
5 Quy định của PL VN về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hình thức xử lý
22
6 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh 22
7 Hình thức xử lý đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh 24
Chương 7: Tố tụng cạnh tranh, thủ tục miễn trừ, và xử lý vi phạm PL cạnh tranh 25
1 Pháp luật về tố tụng cạnh tranh 25
2 Nhận dạng tố tụng cạnh tranh 25
3 Chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng cạnh tranh 25
4 Thủ tục tố tụng cạnh tranh 26
PHẦN 2: PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG 27
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và pháp luật về bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng 27
1 Khái quát về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 27
Trang 42 Khái niệm người tiêu dùng 27
3 Sự cần thiết phải bảo vệ người tiêu dùng bằng pháp luật bảo vệ người tiêu dùng 28
4 Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ người tiêu dùng 28
5 Khái niệm, đặc trưng của PL bảo vệ người tiêu dùng 28
6 Nội dung cơ bản của PL bảo vệ người tiêu dùng trên thế giới 28
III Khái quát pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam 28
1 Sự cần thiết ban hành Luật bảo vệ người tiêu dùng 28
2 Hiệu lực của luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 29
Chương 2: Thiết chế bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam 29
1 Khái niệm thiết chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 29
2 Các quan niệm về thiết chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 29
3 Mô hình cơ quan bảo vệ người tiêu dùng trên thế giới 29
4 Cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng 29
5 Đặc trưng của mô hình hệ thống cơ quan nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng ở VN
29
6 Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng 30
III Cơ quan tài phán về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 30
1 Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ người tiêu dùng 30
Chương 3: Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng 31
1 Khái niệm và đặc điểm 31
2 Khái niệm 31
3 Đặc điểm 31
4 Các trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng 31
5 Trách nhiệm cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng 31
6 Trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch 31
7 Kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung 32
8 Trách nhiệm bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện 32
Trang 59 Trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật 32
10 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra 33
Chương 4: Chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm PL bảo vệ người tiêu dùng 33
1 Khái niệm chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm PL bảo vệ người tiêu dùng 33
2 Đặc điểm chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm PL bảo vệ người tiêu dùng 33
Chương 5: Phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh 34
1 Khái quát về tranh chấp và giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh 34
2 Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh 34
3 Phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh 35
6 Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh bằng tòa
án (vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng) 36
7 Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh bằng trọng tài 36
Trang 6
PHẦN 1: PHÁP LUẬT CẠNH TRANH
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh
I Những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh
1 Khái niệm cạnh tranh
– Cạnh tranh hiểu theo nghĩa thông thường là 1 sự kiện hoặc 1 cuộc đua, theo đó các đối thủ ganh đua nhau để dành phần hơn hoặc ưu thế tuyệt đối về phía mình
– Cạnh tranh dưới góc độ kinh tế:
+ bản chất của cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh
+ quá trình cạnh tranh diễn ra giữa các đối thủ trên cùng 1 thị trường
+ cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong điều kiện của nền kinh tế thị trường
Hiện VN mới chỉ được 1/3 số quốc gia trên thế giới thừa nhận là có nền kinh tế thị trường, hầu hết các nước lớn đều chưa công nhận VN có nền kinh tế thị trường ==> bất lợi cho VN khi đàm phán quốc tế
==> Cạnh tranh dưới góc độ kinh tế được hiểu là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường nhằm mục đích lôi kéo về phía mình ngày càng nhiều khách hàng, thị phần – Cạnh tranh dưới góc độ pháp lý: hiện nay các nước đều không đưa ra khái niệm cạnh tranh dưới góc độ pháp lý
2 Các hình thức tồn tại của cạnh tranh / Phân loại cạnh tranh
– Căn cứ vào tính chất và mức độ điều tiết của nhà nước vào nền kinh tế:
+ cạnh tranh tự do: cạnh tranh tự do là hình thức cạnh tranh thoát khỏi mọi sự can thiệp của nhà nước
+ cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước: là hình thức cạnh tranh được can thiệp bằng các chính sách cạnh tranh của nhà nước để điều tiết, hướng các quan hệ cạnh tranh vận động và phát triển theo 1 trật tự nhất định, bảo đảm tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng
Câu hỏi: Giữa cạnh tranh tự do và cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước, cái nào tốt hơn?
Trả lời: Cạnh tranh tự do được bắt nguồn từ học thuyết “bàn tay vô hình” của Adam Smith
từ thế kỷ 18, đã thúc đẩy chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ 18, 19, nâng cao hiệu suất lao động của nhân loại Tuy nhiên cạnh tranh tự do lại dẫn đến các cuộc khủng hoảng kinh tế lớn, điển hình là cuộc đại khủng hoảng 1929 (gọi là cuộc đại khủng hoảng thừa khi các nhà tư bản đua nhau sản xuất để giành thị phần mà không tính đến thị trường tiêu thụ), ngay sau cuộc khủng hoảng thừa 1929 là đến cuộc khủng hoảng thiếu
1933 ==> cạnh tranh tự do có khiếm khuyết ==> cần có sự điều tiết của nhà nước
Trang 7Đến nay, tất cả các nước trên thế giới đều theo mô hình cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước Theo đó nhà nước sẽ can thiệp vào nền kinh tế sao cho nền kinh tế phát triển tốt nhất, chứ không can thiệp thô bạo vào nền kinh tế
– Căn cứ vào đặc tính, cấu trúc của thị trường: (đây là phân loại của ngành kinh tế, chỉ tham khảo)
Hình thái
thị
trường
Sự lượng người mua
Số lượng người bán
Bản chất hàng hóa dịch vụ
Rào cản gia nhập thị
Rất nhiều Sản phẩm mang tính đơn
lẻ, không có nhiều hàng hóa, sản phẩm
Cạnh
tranh
hoàn hảo Rất nhiều
Rất nhiều
Sản phẩm đa dạng, nhưng không có sự
Các sản phẩm
có thể thay thế cho nhau, song những sản phẩm này
Số lượng
ít
Hàng hóa có
sự khác biệt
về nhãn hiệu Rất lớn – Căn cứ vào tính chất của các phương thức cạnh tranh:
Trang 8+ cạnh tranh lành mạnh: là hình thức cạnh tranh công khai, công bằng và ngay thẳng giữa các đối thủ cạnh tranh
+ cạnh tranh không lành mạnh: là phương thức cạnh tranh được các doanh nghiệp thực hiện bởi những cách thức không lành mạnh nhằm mục đích gây phản cạnh tranh
“lành mạnh”: được hiểu là phù hợp với những chuẩn mực thông thường của đạo đức kinh doanh
– Căn cứ vào tác động bất lợi của hành vi gây ra với môi trường cạnh tranh: (đây là cách phân loại quan trọng nhất, vì Luật cạnh tranh xây dựng các quy phạm dựa theo cách phân loại này)
+ hạn chế cạnh tranh: là hành vi làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm 4 dạng hành vi cơ bản:
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: ví dụ 3 nhà mạng Viettel, Mobi, Vina cùng thỏa thuận tăng 1000 đồng cho mỗi phút thoại ==> làm giảm cạnh tranh ==> đồng thời người tiêu dùng bị thiệt hại, các nhà mạng khác không tham gia thỏa thuận này cũng
bị thiệt hại ==> làm ảnh hưởng đến cả thị trường
3 Vai trò, ý nghĩa của cạnh tranh và nhu cầu điều tiết cạnh tranh bằng chính sách cạnh tranh
– Vai trò và ý nghĩa của cạnh tranh: để đảm bảo nền kinh tế phát triển một cách lành mạnh, tránh các cuộc khủng hoảng, suy thoái kinh tế
– Nhu cầu điều tiết cạnh tranh của nhà nước: để đảm bảo môi trường cạnh tranh lành
mạnh, bình đẳng, nhà nước cần điều tiết cạnh tranh, điều chỉnh các hành vi cạnh tranh của các doanh nghiệp
– Nhà nước điều tiết cạnh tranh bằng các chính sách cạnh tranh
– Chính sách cạnh tranh:
+ khái niệm: là tổng thể các biện pháp, công cụ vĩ mô của nhà nước nhằm đảm bảo tự do cạnh tranh và điều tiết cạnh tranh trong nền kinh tế, duy trì môi trường cạnh tranh công
Trang 9bằng, bình đẳng phù hợp với lợi ích chung của xã hội
+ mục tiêu ban hành chính sách cạnh tranh
+ các bộ phận của chính sách cạnh tranh: chính sách thuế và thương mại quốc tế (để bảo hộ cho ngành nào), chính sách cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (thực chất là tư nhân hóa) + mối quan hệ giữa PL cạnh tranh và chính sách cạnh tranh: PL cạnh tranh là 1 bộ phận cấu thành nên chính sách cạnh tranh, nhưng là bộ phận quan trọng nhất vì nó điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường
II Những vấn đề lý luận chung về pháp luận cạnh tranh
1 Khái niệm pháp luật cạnh tranh
– PL cạnh tranh bao gồm các quy phạm PL điều chỉnh hành vi cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh trên thương trường, đồng thời bao gồm cả các quy định đảm bảo thực thi luật cạnh tranh trong thực tế
2 Các đặc trưng của pháp luật cạnh tranh
– Tính tiếp cận từ mặt trái: (đây là đặc trưng cơ bản của PL cạnh tranh) Luật cạnh tranh
chỉ quy định những hành vi bị cấm đối với PL cạnh tranh mà không có các quy định hướng dẫn (quy định về quyền và nghĩa vụ) (giống với luật hình sự)
Tức là Luật cạnh tranh không quy định các doanh nghiệp phải cạnh nhanh như thế nào trên thị trường (vì mỗi ngành nghề khác nhau sẽ có những cách thức cạnh tranh khác nhau), mà luật cạnh tranh chỉ đưa ra những quy định cấm, theo đó doanh nghiệp được làm mọi việc ngoài những quy định cấm trong luật cạnh tranh
Đây cũng là đặc điểm của luật cạnh tranh của tất cả các quốc gia trên thế giới
– Tính mềm dẻo của PL cạnh tranh: PL cạnh tranh thường đặt ra những điều khoản mở và
những quy định miễn trừ cho phép cơ quan thi hành luật cạnh tranh có thể áp dụng PL một cách linh hoạt
Vì mục đích của PL cạnh tranh là đảm bảo sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế, nên PL cạnh tranh không thể can thiệp 1 cách thô bạo vào các mối quan hệ của các chủ thể kinh doanh (vì dễ dẫn tới làm giảm mức độ thuận lợi của môi trường kinh doanh) VD quy định các hành vi bị cấm theo hướng mở tại Điều 16, Điều 39; quy định các điều kiện miễn trừ như tại Điều 10, Điều 19
VD: vụ việc EVN Telecom thua lỗ phải bán lại cho doanh nghiệp khác, khi đó FPT
Telecom đã đặt cọc để mua lại EVN Telecom, nhưng Chính phủ khi đó không đồng ý và yêu cầu Viettel mua lại EVN Telecom Quyết định này của Chính phủ đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của các doanh nghiệp viễn thông khác, nhất là từ Vinaphone, Mobifone, lý do
Trang 10đưa ra là khi đó Viettel đã chiếm hơn 30% thị trường 3G, sau khi mua lại EVN Telecom sẽ chiếm hơn 50% thị trường 3G và như vậy là vi phạm PL cạnh tranh Tuy nhiên Chính phủ
đã viện dẫn khoản 1 Điều 19 về việc miễn trừ đối với hành vi tập trung kinh tế
– Bao gồm cả luật nội dung và luật hình thức: ngoài các quy định về nội dung điều chỉnh
hành vi cạnh tranh, PL cạnh tranh còn có các quy định về mặt hình thức điều chỉnh hoạt động tố tụng cạnh tranh và xử lý vi phạm PL cạnh tranh
———————
Ngày 28/10/2017
Giảng viên: cô Nguyễn Thị Vân Anh (PGS, TS)
(tiếp bài trước)
3 Quá trình phát triển của pháp luật cạnh tranh trên thế giới
– Mục tiêu của PL cạnh tranh: phát huy mặt tích cực của cạnh tranh, đồng thời hạn chế mặt tiêu cực của cạnh tranh
+ Mặt tích cực của cạnh tranh: làm các chủ thể ganh đua với nhau, qua đó thúc đẩy sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng ==> giá hàng hóa, dịch vụ rẻ hơn, người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hơn
+ Mặt tiêu cực của cạnh tranh: là việc cạnh tranh không lành mạnh: thông đồng, cấu kết giữa các doanh nghiệp lớn để thâu tóm thị trường
– PL cạnh tranh điều chỉnh các hành vi phản cạnh tranh, gồm:
+ các hành vi hạn chế cạnh tranh,
+ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh (như nói xấu, gièm pha đối thủ, xâm phạm bí mật kinh doanh, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng, …) Lưu ý: Luật cạnh tranh của nhiều nước (trong đó có Mỹ, Anh, Canada, …) chỉ quy định về các hành vi hạn chế cạnh tranh, còn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được đưa sang luật khác Vì họ coi các hành vi hạn chế cạnh tranh gây thiệt hại cho nền kinh tế, còn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh chỉ gây thiệt hại cho doanh nghiệp (đối thủ) hoặc cho bộ phận người tiêu dùng
Trong lịch sử thì nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh lại xuất hiện trong PL cạnh tranh trước nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh VD việc cấm cách hành vi cạnh tranh không lành mạnh đã được quy định trong Bộ luật dân sự Pháp 1804 (bộ luật Napoleon); còn việc cấm các hành vi hạn chế cạnh tranh chỉ xuất hiện ở cuối thế kỷ 19, khi đã hình thành các nhà tư bản lớn, đủ sức thống lĩnh thị trường
Trang 11Như vậy, mặc dù được xuất hiện trước trong PL cạnh tranh, nhưng đến nay thì phần lớn các nước lại chỉ quy định trong luật cạnh tranh về các hành vi hạn chế cạnh tranh, còn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh thường được đưa sang luật khác (như luật dân sự)
III Khái quát về pháp luật cạnh tranh Việt Nam
1 Sự phát triển của pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam
2 Hiệu lực của Luật cạnh tranh 2004
a Hiệu lực về phạm vi điều chỉnh quan hệ cạnh tranh
– Các quy định mang tính nội dung điều chỉnh các hành vi cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh:
+ điều chỉnh nhóm hành vi hạn chế kinh doanh (Chương II): là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, gồm 4 nhóm:
Thỏa thuận hạn chế kinh doanh
Luật cạnh tranh)
+ điều chỉnh các hành vi can thiệp vào môi trường kinh doanh từ phía cơ quan quản lý nhà
nước (Điều 6 Chương I): Cơ quan quản lý nhà nước không được thực hiện những hành vi sau đây để cản trở cạnh tranh trên thị trường:
(1) Buộc doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân phải mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch
vụ với doanh nghiệp được cơ quan này chỉ định, trừ hàng hoá, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước hoặc trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật;
(2) Phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp;
(3) Ép buộc các hiệp hội ngành nghề hoặc các doanh nghiệp liên kết với nhau nhằm loại trừ, hạn chế, cản trở các doanh nghiệp khác cạnh tranh trên thị trường;
(4) Các hành vi khác cản trở hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp
Chú ý: việc điều chỉnh hành vi của cơ quan quản lý nhà nước trong Luật cạnh tranh chỉ có
Trang 12ở riêng VN (và Trung Quốc), do đặc thù của VN là các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước vẫn chiếm phần lớn trong nền kinh tế, và các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đều có cơ quan chủ quản (thường là các bộ, ủy ban, sở), và trong quá trình hoạt động thì rất thường xuyên các cơ quan chủ quản đưa ra các mệnh lệnh hành chính để can thiệp vào hoạt động kinh doanh, trong đó phần lớn là can thiệp để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nhà nước, dẫn tới méo mó thị trường, cản trở cạnh tranh VD năm 2015, UBND tỉnh Hà Tĩnh ra công văn yêu cầu cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh phải ưu tiên sử dụng Bia Sài Gòn (vì nhà máy Bia Sài Gòn đóng góp ngân sách lớn cho Hà Tĩnh)
– Các quy định mang tính hình thức điều chỉnh quan hệ giữa cơ quan thi hành Luật cạnh tranh với chủ thể kinh doanh (Chương IV, Chương V):
+ quy định về tố tụng cạnh tranh: trình tự, thủ tục xử lý vi phạm PL cạnh tranh
+ quy định về xử lý vi phạm PL cạnh tranh
b Hiệu lực về chủ thể
– Tổ chức, cá nhân kinh doanh (được gọi chung là doanh nghiệp):
+ bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở VN
+ cá nhân kinh doanh: bao gồm cả cá nhân có đăng ký kinh doanh và cá nhân không có đăng ký kinh doanh
– Hiệp hội ngành nghề hoạt động ở VN: hiệp hội ngành hàng (VD hiệp hội bia, hiệp hội chè, hiệp hội thuốc lá, hiệp hội cafe, …), hiệp hội nghề nghiệp (hiệp hội bán lẻ, hiệp hội các doanh nghiệp bảo hiểm, hiệp hội các doanh nghiệp du lịch, …)
Hiệp hội tuy không phải là chủ thể kinh doanh, tuy nhiên thành viên của hiệp hội đều là các chủ thể kinh doanh nên hiệp hội có thể đưa ra các khuyến nghị có thể ảnh hưởng đến cạnh tranh
– Tổ chức, cá nhân khác: các cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh, các điều tra viên về cạnh tranh
c Hiệu lực về không gian
– Luật cạnh tranh chỉ áp dụng cho các hành vi cạnh tranh có ảnh hưởng hoặc gây cản trở tới cạnh tranh của các chủ thể xảy ra trên lãnh thổ VN
– Các hành vi cạnh tranh được tiến hành ngoài lãnh thổ VN ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh của VN không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật cạnh tranh
3 Nguồn của pháp luật cạnh tranh Việt Nam
– Thứ nhất: các văn bản luật được Quốc hội thông qua:
Trang 13+ Luật cạnh tranh 2004
+ các luật khác liên quan: (khoảng 20 luật liên quan) luật doanh nghiệp, luật thương mại,
… các luật chuyên ngành khi xử lý vụ việc liên quan như luật bảo hiểm, luật đất đai, … – Thứ hai: các văn bản dưới luật do Chính phủ và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hướng dẫn thi hành luật cạnh tranh và các luật có liên quan
+ Nghị định 116/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của luật cạnh tranh 2004 + Nghị định 71/2014 quy định về xử phạt vi phạm PL cạnh tranh
+ Nghị định 42/2014 quy định về quản lý nhà nước đối với hành vi bán hàng đa cấp
+ Nghị định 07/2015 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng cạnh tranh
– Thứ ba: Điều ước quốc tế liên quan đến cạnh tranh mà VN là thành viên
– Lưu ý: Về mối quan hệ giữa các văn bản là nguồn của Luật cạnh tranh (Điều 5 Luật cạnh tranh)
+ Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Luật cạnh tranh với quy định của luật khác về hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh thì áp dụng quy định của Luật cạnh tranh
VD xử lý vụ việc vi phạm về đấu thầu, thì cả luật cạnh tranh và luật đấu thầu đều quy định
==> áp dụng luật cạnh tranh
+ Trường hợp điều ước quốc tế mà VN ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của Luật cạnh tranh thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó
– Cơ quan giải quyết các vụ việc cạnh tranh ở VN hiện nay là:
+ Cục quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương: là cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh Điểm hạn chế của Cục quản lý cạnh tranh là nằm dưới sự quản ý của Bộ Công thương ==> khó có thể xử lý các vụ việc cạnh tranh có liên quan đến doanh nghiệp thuộc Bộ Công thương
+ Hội đồng cạnh tranh: là cơ quan của Chính phủ, thành viên do Thủ tướng bổ nhiệm
– Mối quan hệ giữa Cục quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh: khi xảy ra vụ việc cạnh tranh thì việc điều tra là của Cục quản lý cạnh tranh, còn việc ra quyết định xử lý thì chia ra:
+ Cục quản lý cạnh tranh ra quyết định xử lý đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
+ Hội đồng cạnh tranh ra quyết định xử lý đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh
Trang 14==> bất cập: vai trò của Hội đồng cạnh tranh rất mờ nhạt, vì hầu như bị phụ thuộc vào Cục quản lý cạnh tranh (vì Hội đồng cạnh tranh không có chức năng điều tra, nên bắt buộc phải dựa vào kết quả điều tra của Cục quản lý cạnh tranh)
Chương II Căn cứ xác định hành vi hạn chế cạnh tranh
Tình huống: Tháng 11/2016, doanh nghiệp A, B, C (đều có trụ sở chính tại Hà Nội) cùng
tăng giá bán sản phẩm nước uống có gas đóng chai Hành vi tăng giá bán của các doanh nghiệp này có gây hạn chế cạnh tranh không? Có cần ngăn chặn?
Trả lời: Đây là hành vi thỏa thuận ấn định giá hàng hóa Áp dụng khoản 2 Điều 9 Luật
cạnh tranh thì hành vi này vi phạm Luật cạnh tranh nếu A, B, C chiếm từ 30% thị phần trên thị trường liên quan
I Xác định thị trường liên quan (relevant martket)
1 Khái quát về xác định thị trường liên quan
a Khái niệm thị trường và thị trường liên quan
– Khái niệm thị trường:
+ Thị trường trong kinh tế học là sự tương tác giữa cung và cầu (người mua – người bán),
qua đó xác định giá, lượng hàng hóa, dịch vụ trao đổi
+ Thị trường trong đời sống là địa điểm nơi hàng hóa được trao đổi (thị trường = chợ)
– Khái niệm thị trường liên quan:
+ thị trường liên quan là khái niệm pháp lý (được quy định trong PL cạnh tranh của VN
và tất cả các nước trên thế giới, đây là khái niệm riêng có của PL cạnh tranh)
+ thị trường liên quan không đồng nhất với thị trường theo nghĩa thông thường nêu trên,
không đồng nhất với một thị trường hàng hóa hoặc một ngành sản xuất, kinh doanh nhất định VD thị trường bán lẻ, thị trường nước giải khát, ngành xi măng, …
+ thị trường liên quan là công cụ để xác định giới hạn, phạm vi cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cụ thể, trong một bối cảnh cụ thể
Khi điều tra 1 vụ việc cạnh tranh, bắt buộc phải xác định được thị trường liên quan
b Các định nghĩa về thị trường liên quan
– Pháp luật của các nước trên thế giới đều quy định thị trường liên quan gồm 2 thành tố: + thị trường sản phẩm liên quan, và
+ thị trường địa lý liên quan
Hai thành tố này có sự quan hệ mất thiết với nhau Khi xác định thị trường liên quan, người
Trang 15ta sẽ xác định thị trường sản phẩm liên quan trước, sau đó xác định thị trường địa lý liên quan
– Ủy ban châu Âu định nghĩa:
+ thị trường sản phẩm liên quan bao gồm tất cả các sản phẩm hay dịch vụ được người tiêu dùng coi là có khả năng thay thế cho nhau do các đặc tính của sản phẩm, giá cả cũng như mục đích sử dụng của chúng
+ thị trường địa lý liên quan là 1 khu vực địa lý cụ thể nơi các doanh nghiệp có liên quan tham gia giao dịch trong những điều kiện cạnh tranh tương tự và các điều kiện cạnh tranh tại khu vực này phải khác biệt đáng kể so với các điều kiện cạnh tranh tại các khu vực lân cận
– PL VN hiện hành quy định: thị trường liên quan bao gồm (khoản 1 Điều 3 Luật cạnh tranh):
+ thị trường sản phẩm liên quan: là thị trường của những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả
+ thị trường địa lý liên quan: là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận
==> như vậy quy định về thị trường liên quan của VN là tương đồng với thế giới
c Thị trường sản phẩm liên quan
– Là thị trường của các hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về cả 3 yếu tố: đặc tính, mục đích sử dụng, giá cả (Điều 3 Luật cạnh tranh)
– Hàng hóa, dịch vụ được gọi là thay thế cho nhau nếu đáp ứng cả 3 điều kiện (Điều 4 Nghị định 116/2005):
+ Có nhiều tính chất về vật lý, hóa học, tác dụng phụ đối với người sử dụng, khả năng hấp thụ giống nhau
+ Mục đích sử dụng chủ yếu giống nhau
+ 50% lượng mẫu ngẫu nhiên 1000 người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan chuyển sang mua hàng hóa, dịch vụ khác thay thế nếu giá của hàng hóa, dịch vụ đó tăng quá 10% và được duy trì trong 6 tháng liên tục
– Ngoài ra còn căn cứ vào 1 số yếu tố khác để xác định thuộc tính có thể thay thế cho nhau của hàng hóa, dịch vụ (khoản 6 Điều 4 Nghị định 116/2015)
VD: nói “thị trường nước giải khát” là khái niệm quá rộng, rất khó xác định, vì có rất nhiều sản phẩm có thể quy về “nước giải khát” như nước tinh khiết, nước khoáng, nước ngọt, nước hoa quả, bia, nước trà, … Thay vào đó, có thể xác định “thị trường nước giải khát có
Trang 16gas đóng chai”
d Thị trường địa lý liên quan
– Là một khu vực địa lý cụ thể, trong đó có các hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực địa lý lân cận (khoản 1 Điều 3 Luật cạnh tranh)
– Căn cứ để xác định ranh giới của khu vực địa lý liên quan (khoản 1 Điều 7 Nghị định 116/2015):
+ khu vực địa lý có cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp tham gia phân phối sản phẩm liên quan
+ cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp khác đóng trên khu vực địa lý cân cận, đủ gần với khu vực địa lý đang xem xét để có thể tham gia phân phối sản phẩm liên quan trên khu vực địa lý đó
+ chi phí vận chuyển trong khu vực địa lý đang xem xét
+ thời gian vận chuyển hàng hóa, cung ứng dịch vụtrong khu vực địa lý đang xem xét + rào cản gia nhập thị trường (Điều 8 Luật cạnh tranh)
VD: thị trường khu vực Hà Nội, thị trường khu vực miền bắc, thị trường toàn quốc
e Ý nghĩa của việc xác định thị trường liên quan
– Xác định thị trường liên quan là 1 bước rất quan trọng trong việc điều tra, xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh
Câu hỏi: Đối với vụ việc cạnh tranh không lành mạnh thì có cần xác định thị trường liên
quan không?
Trả lời: Không Vì vụ việc cạnh tranh không lành mạnh chỉ xâm hại tới đối thủ cạnh tranh
hoặc ảnh hưởng tới bộ phận người tiêu dùng, không ảnh hưởng tới môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thị trường Do đó khi điều tra vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, điều tra viên chỉ điều tra xem có hành vi cạnh tranh không lành mạnh xảy ra không chứ không cần xác định thị trường liên quan như khi điều tra vụ việc hạn chế cạnh tranh
Trang 17Chú ý: Một số báo cáo kiểu như Đánh giá tình hình cạnh tranh trên các thị trường, ví dụ thị
trường bia, thị trường xe máy, … thì đây là các đánh giá cạnh tranh theo kinh kế học, chứ không phải là đánh giá cạnh tranh trên thị trường liên quan
==> thị trường liên quan chỉ có trong việc xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh
– Xác định thị trường liên quan là quá trình đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: “Đâu là những sản phẩm mà người tiêu dùng cho là có khả năng thay thế ở mức chấp nhận được cho 1 sản phẩm, khi xem xét đến các yếu tố đặc tính, giá cả, mục đích sử dụng và các thuộc tính quan trọng khác của sản phẩm?”
f Mục đích của việc xác định thị trường liên quan
– Nhằm xác định giới hạn, phạm vi cạnh tranh của các doanh nghiệp trong vụ việc cạnh tranh
VD việc xác định 1 doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường hay không, nếu có thì sẽ bị cấm thực hiện 1 số hành vi (Điều 13 Luật cạnh tranh), còn nếu không phải ở vị trí thống lĩnh thì không cấm các hành vi đó
– Giúp tìm ra các đối thủ cạnh tranh
– Giúp xác định sức mạnh thị trường của doanh nghiệp
– Giúp đánh giá tác động của hành vi do doanh nghiệp thực hiện trên thị trường liên quan
đó
2 Các phương pháp xác định thị trường liên quan
– Việc xác định thị trường liên quan là rất quan trọng và cũng rất phức tạp, phải dựa vào nhiều yếu tố, phải điều tra kỹ lưỡng, và thường cần thời gian khá dài để xác định
VD trong vụ xét xử VINASCO (là Tổng công ty xăng dầu hàng không từ chối bán xăng cho Pacific Airlines) lạm dụng vị trí độc quyền, để xác định thị trường liên quan cần đến 6 tháng để điều tra, xác minh
VD trong vụ 19 công ty bảo hiểm cùng thỏa thuận nâng giá bảo hiểm vật chất xe ô tô, cần đến 8 tháng để điều tra và xác định thị trường liên quan
– Có 3 phương pháp xác định thị trường liên quan:
a Phương pháp xem xét khả năng thay thế về cầu
– Trong hầu hết các trường hợp, thị trường liên quan được xem xét dựa trên quan điểm của khách hàng, tức là từ góc độ khả năng thay thế về cầu
– Nội dung: giả định có 1 doanh nghiệp cung cấp độc quyền 1 sản phẩm trong khu vực,
trong trường hợp họ nâng giá nhẹ nhưng mang tính thực chất và không nhất thời (ổn
Trang 18định), với mục đích đạt lợi nhuận cực đại; từ đó đánh giá phản ứng của khách hàng đối với
sự thay đổi đó
VD: Honda tăng giá, nếu khách hàng dễ dàng chuyển sang mua xe Yamaha thì chứng tỏ hành vi tăng giá của Honda không có tác động đáng kể lên những điều kiện bán hàng thông thường Khi đó thị trường liên quan vượt ra ngoài bộ phận “xe Honda” mà mở rộng ra cả
“xe Honda và Yamaha”
b Phương pháp xem xét khả năng thay thế về cung
– Trong trường hợp cần thiết, cơ quan cạnh tranh có thể xác định thị trường liên quan dựa trên quan điểm của nhà cung cấp, tức là xem xét dưới góc độ nguồn cung
– Nội dung: trong trường hợp nâng giá nhẹ nhưng mang tính thực chất và không nhất thời, khảo sát mức độ những người sản xuất khác trong thời gian ngắn (khoảng 1 năm)
chuyển từ sản phẩm hay khu vực khác sang sản xuất và bán sản phẩm đó mà không phải chịu chi phí bổ sung hay rủi ro lớn nào:
+ nếu khách hàng dễ dàng chuyển sang mua sản phẩm của nhà cung cấp khác, ở khu vực khác, chứng tỏ hành vi tăng giá không có ảnh hưởng đến cạnh tranh Và thị trường liên quan được mở rộng
+ nếu chỉ có 1 lượng không đáng kể khách hàng chuyển sang mua sản phẩm khác, và
doanh nghiệp đó vẫn có thể gia tăng lợi nhuận thì hành vi tăng giá là thành công, có tác động đến cạnh tranh Và thị trường thống lĩnh có thể không mở rộng thêm
VD: Giấy có nhiều loại với những tính năng, công dụng, phẩm chất khác nhau như giấy in ảnh, giấy bao bì, giấy viết, … Nhưng các nhà máy sản xuất giấy thường cùng lúc sản xuất nhiều loại giấy khác nhau, quy trình cũng khác nhau không nhiều Khi gặp khó khăn, nhà máy có thể nhanh chóng chuyển từ sản xuất loại giấy này sang sản xuất loại giấy khác mà không tốn kèm nhiều Do vậy, thị trường liên quan không chia theo từng loại giấy hay mục đích sử dụng mà được xếp vào cùng 1 thị trường liên quan
c Phép thử độc quyền giả định (SSNIP test)
3 Xác định thị trường địa lý liên quan
– Khả năng thay thế về cầu: áp dụng thử nghiệm SSNIP
A là khu vực nơi doanh nghiệp bị điều tra đang cung cấp sản phẩm, nếu doanh nghiệp tăng giá, sản phẩm thay thế sẽ được chuyển từ khu vực khác đến, thị trường địa lý sẽ được mở rộng
– Khả năng thay thế về cung: khả năng các doanh nghiệp tại các vùng địa lý khác (VD: các khu vực lân cận) có thể nhanh chóng cung cấp sản phẩm thay thế cho khu vực đang bị điều
Trang 19Giảng viên: cô Phạm Phương Thảo (ThS)
Chương 3: Pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
I Khái quát về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
1 Khái niệm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
– Hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được nhìn nhận là sự thống nhất cùng hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ sức ép của cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động một cách độc lập giữa các đối thủ cạnh tranh
– Theo khoản 3 Điều 3 Luật cạnh tranh, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là hành vi hạn chế cạnh tranh, làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường
– Điều 8 Luật cạnh tranh 2004 liệt kê 8 dạng hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh:
(1) Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;
(2) Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ; (3) Thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, dịch vụ;
(4) Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;
(5) Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;
(6) Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;
(7) Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thoả thuận;
(8) Thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ
Trang 20==> theo Luật cạnh tranh 2004 chỉ có các thỏa thuận được quy định tại Điều 8 mới được coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và có thể bị cấm
2 Đặc điểm pháp lý của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo Luật cạnh tranh VN
– Chủ thể thực hiện là các doanh nghiệp hoạt động độc lập:
+ là các doanh nghiệp theo Luật cạnh tranh 2004
+ không nhất thiết phải hoạt động trên thị trường liên quan
+ các doanh nghiệp độc lập với nhau về tài chính, ý chí
– Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được thực hiện khi có sự thống nhất ý chí:
+ cần có bằng chứng về sự thỏa thuận
+ chỉ cần có thỏa thuận, không cần xem xét thỏa thuận đó có được thực hiện hay không – Hậu quả của hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh:
+ làm giảm sức ép cạnh tranh, làm sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường
3 Phân loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
– Thỏa thuận theo chiều ngang: là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp hoạt động trên cùng
1 thị trường liên quan VD các nhà cung cấp cùng thỏa thuận với nhau, các nhà sản xuất cùng thỏa thuận với nhau, các nhà phân phối cùng thỏa thuận với nhau, các nhà bán lẻ cùng thỏa thuận với nhau
– Thỏa thuận theo chiều dọc: là các thỏa thuận diễn ra giữa các doanh nghiệp ở các công
đoạn khác nhau trong quá trình sản xuất, phân phối sản phẩm VD nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ cùng thỏa thuận với nhau
– Câu hỏi: Tại sao nói các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quy định từ khoản 1 tới khoản 5 Điều 8 Luật cạnh tranh là thỏa thuận theo chiều ngang?
– Phân loại 8 dạng hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo Luật cạnh tranh 2004
– Luật cạnh tranh của VN có sự phân loại rõ ràng thỏa thuận theo chiều ngang và thỏa thuận theo chiều dọc?
II Các hình thức của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo luật cạnh tranh 2004
1 Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa dịch vụ
– Khái niệm: (khoản 1 Điều 8 Luật cạnh tranh) là Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch
vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
– Phân loại:
+ các thỏa thuận trực tiếp ấn định giá (khoản 1, 2, 3 Điều 14 Nghị định 116/2005)
Trang 21==> tạo ra 1 mức giá mua, bán như nhau giữa các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận
+ thỏa thuận gián tiếp ấn định giá (khoản 4, 5, 6, 7, 8 Điều 14 Nghị định 116/2005)
==> ngăn cản, kìm hãm các doanh nghiệp định giá sản phẩm của mình một cách độc lập theo cơ chế thị trường
– Hậu quả:
+ xóa bỏ cạnh tranh về giá hàng hóa, dịch vụ giữa các thành viên của thỏa thuận
+ tước đoạt cơ hội của khách hàng được lựa chọn mức giá cạnh tranh hợp lý trên thị trường – Biểu hiện của hành vi trên thực tế:
+ VD vụ 19 công ty bảo hiểm ký văn bản thỏa thuận tăng mức phí tối thiểu đối với dịch vụ bảo hiểm vật chất xe ô tô vào cuối năm 2008
2 Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch
vụ
– Khái niệm: (khoản 2 Điều 8 Luật cạnh tranh và Điều 15 Nghị định 116/2005) Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ là việc các doanh nghiệp đang cạnh tranh với nhau trên thị trường đã thống nhất phân chia thị trường đầu vào hoặc thị trường đầu ra của quá trình sản xuất, theo đó mỗi doanh nghiệp chỉ được mua hoặc bán sản phẩm trong 1 lĩnh vực địa lý nhất định, hoặc cho 1 nhóm khách hàng nhất định đã được chỉ định trong thỏa thuận từ trước
– Phân loại:
+ thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ
+ thỏa thuận phân chia nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ
– Biểu hiện của hành vi trên thực tế:
3 Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ
– Khái niệm: (Điều 16 Nghị định 116/2005)
+ Thứ nhất: thỏa thuận hạn chế số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ + Thứ hai: thỏa thuận kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ
Trang 22– Hậu quả:
+ đẩy giá hàng hóa, dịch vụ lên cao gây thiệt hại cho người tiêu dùng
+ gây ra xáo trộn nhất định trong đời sống kinh tế, xã hội
– Biểu hiện của hành vi trên thực tế:
+ VD tình huống: trên trị trường cung cấp sản phẩm X, chỉ có 3 nhà cung cấp là doanh nghiệp A, B và C Căn cứ vào năng lực sản xuất của mình, các doanh nghiệp này đã thỏa thuận phân chia như sau: số lượng sản phẩm đặt hàng của A là 63%, B là 27%, C là 10% tổng nhu cầu của toàn bộ sản phẩm X ước tính sẽ được tiêu thụ cho năm sau Hãy xác định loại thỏa thuận trên thuộc loại nào?
– Lưu ý: không phải lúc nào việc cắt giảm số lượng, khối lượng hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp cũng là kết quả của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh VD suy giảm nhu cầu thị trường đối với hàng hóa hay dịch vụ đó, khủng hoảng kinh tế, hàng hóa tồn kho
4 Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư
– Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ là việc thống nhất mua sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp để tiêu hủy hoặc không sử dụng (khoản 1 Điều 17 Nghị định 116)
– Thỏa thuận hạn chế đầu tư là việc thống nhất không đưa thêm vốn để mở rộng sản xuất, cải tiến chất lượng hàng hóa, dịch vụ hoặc để mở rộng phát triển khác (khoản 2 Điều 17 Nghị định 116)
5 Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ
– Khái niệm (khoản 1 Điều 18 Nghị định 116)
+ Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác lấy điều kiện ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ Chỉ áp dụng với các trường hợp khách hàng là doanh nghiệp
+ Các điều kiện mà thỏa thuận đặt ra phải là những điều kiện có nội dung phản cạnh tranh + Các điều kiện đặt ra phải là những điều kiện tiên quyết để ký kết hợp đồng
7 Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thì trường hoặc phát triển kinh doanh
– Khái niệm: (khoản 6 Điều 8 Luật cạnh tranh, Điều 19 Nghị định 116/2005) Bao gồm: + thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường
+ thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác phát triển kinh doanh
==> hai dạng thỏa thuận này khác nhau về đối tượng hướng tới
Trang 238 Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận
– Khái niệm (Khoản 7 Điều 8 Luật cạnh tranh, Điều 20 Nghị định 116/2005) Đây là loại thỏa thuận trong đó các bên thống nhất không giao dịch với doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận (tẩy chay) và cùng hành động dưới hình thức quy định tại Điểm a) khoản 1 và khoản 2 Điều 19 Nghị định 116/2005
– So sánh khoản 6 và khoản 7 Điều 8 Luật cạnh tranh 2004
9 Thông đồng để một hoặc các bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ
– Khái niệm đấu thầu:
– Đặc điểm của hành vi thông đồng thầu:
+ Thứ nhất: về chủ thể, thỏa thuận thông đồng trong đấu thầu chỉ xảy ra giữa các bên dự thầu với nhau
+ Thứ hai: nội dung của thỏa thuận là các doanh nghiệp tham gia đấu thầu thống nhất để 1 hoặc 1 số doanh nghiệp đã tham gia thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ
+ Thứ ba: về hậu quả, hành vi thông đồng trong đấu thầu đã làm vô hiệu cơ chế cạnh tranh
mà người mời thầu đã nỗ lực tạo ra
– Phân loại thỏa thuận đấu thầu:
+ thỏa thuận ngăn cản đấu thầu: gây cản trở quá trình đấu thầu, làm mất tính công bằng và bình đẳng giữa các chủ thể tham gia
+ thỏa thuận hỗ trợ đấu thầu: đấu thầu quân xanh – quân đỏ
+ thỏa thuận đấu thầu quay vòng: xác định trước số lần mỗi bên được thắng thầu trong 1 khoảng thời gian nhất định
III Hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
– Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm tuyệt đối (khoản 1 Điều 9 Luật cạnh tranh 2004)
– Các thỏa thuận hạn chế bị cấm có điều kiện và việc hưởng miễn trừ (khoản 2 Điều 9 Luật cạnh tranh)
– Chế tài xử lý đối với doanh nghiệp thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: Nghị định 71/2014
Trang 24
——————-
Ngày 02/11/2017
Giảng viên: cô Phạm Phương Thảo (ThS)
Chương 4: Pháp luật về lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền
I Dấu hiệu nhận diện
1 Quy định của PL về lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền
– Pháp luật của nhiều nước:
+ không đưa ra khái niệm chung về lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền
+ chỉ liệt kê các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền
– Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên hợp quốc thông qua ngày 22/04/1980 và Luật mẫu về cạnh tranh của UNCTAD:
+ đưa ra khái niệm chung về lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền
+ liệt kê cụ thể các hành vi bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh
– Khái niệm: Lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền là hành vi hạn chế cạnh tranh mà doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền sử dụng để duy trì hay tăng cường vị trí của nó trên thị trường bằng cách hạn chế khả năng gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh
2 Dấu hiệu nhận diện lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền
– Dấu hiệu nhận diện: doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp có vị trí độc quyền thực hiện những hành vi quy định tại Điều 13 và Điều 14 Luật cạnh tranh bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh
– Căn cứ xác định khả năng hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể:
+ năng lực tài chính của doanh nghiệp, của tổ cức kinh tế, cá nhân thành lập doanh nghiệp, của tổ chức, cá nhân có quyền kiểm soát hoặc chi phối hoạt động của doanh nghiệp theo quy định của PL hoặc Điều lệ doanh nghiệp, của công ty mẹ
Trang 25+ năng lực công nghệ
+ quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiêp
+ quy mô của mạng lưới phân phối
– Doanh nghiệp có vị trí độc quyền: nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan
– Lưu ý: không xác định được doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hay doanh nghiệp độc quyền sẽ loại trừ việc xem xét khả năng doanh nghiệp thực hiện hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền
b Doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, doanh nghiệp độc quyền đã hoặc đang thực hiện hành vi phản cạnh tranh quy định tại Điều 13 và Điều 14 Luật cạnh tranh
– Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng
– Nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường: nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc 1 trong các trường hợp sau:
+ 2 doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan
+ 3 doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan
+ 4 doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan
Lưu ý: giới hạn tối đa 4 doanh nghiệp
VD: nhóm 3 doanh nghiệp Viettel, Mobifone, Vinaphone không phải là nhóm có vị trí thống lĩnh vì nó không cùng hoạt động để gây ra phản cạnh tranh
– Doanh nghiệp có vị trí độc quyền: nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan
Chú ý: Nếu không xác định được doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh
hay độc quyền sẽ loại trừ việc xem xét khả năng doanh nghiệp thực hiện hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền
– Quy trình xem xét vụ việc lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền:
+ B1: xác định thị trường liên quan
+ B2: xác định sức mạnh của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp trên thị trường liên quan + B3: xác định việc có hành vi lạm dụng hay không
– Doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền đã hoặc đang
Trang 26thực hiện hành vi phản cạnh tranh quy định tại Điều 13, Điều 14 Luật cạnh tranh, giữa họ không có sự thống nhất về mặt ý chí
– Ngoài hành vi bị cấm tại Điều 13 Luật cạnh tranh, doanh nghiệp độc quyền còn bị cấm thực hiện hành vi sau:
+ áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng
+ lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có
lý do chính đáng
c Hậu quả của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền
– Là làm sai lệch, cản trở hoặc giảm cạnh tranh trên thị trường liên quan:
+ doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp thực hiện hành vi lạm dụng nhằm duy trì, củng
cố vị trí hiện có nhằm thu lợi ích độc quyền từ việc bóc lột khách hàng
+ việc thực hiện hành vi đã, đang hoặc có thể sẽ gây hậu quả làm suy giảm (ngăn cản) hay hạn chế cạnh tranh đáng kể trên thị trường và có thể gây thiệt hại cho 1 số đối tượng cụ thể
——————–
Ngày 03/11/2017
Giảng viên: thầy Tống Đức Duy (ThS)
(tiếp bài trước)
– Khoản 1 Điều 13 và Điều 23 : căn cứ để xác định hành vi định giá nhằm loại bỏ đối thủ
là giá bán hàng hóa dịch vụ và giá thành toàn bộ của hàng hóa, dịch vụ
II Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền theo luật cạnh tranh
1 Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh
– Khái niệm:
+ Doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh (khoản 1 Điều 13 Luật cạnh tranh)
+ (khoản 1 Điều 23 Nghị định 116/2005) Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh là việc bán hàng, cung ứng dịch vụ với mức giá thấp hơn tổng các chi phí dưới đây:
a) Chi phí cấu thành giá thành sản xuất hàng hóa, dịch vụ theo quy định tại Điều 24 của Nghị định này hoặc giá mua hàng hóa để bán lại;
b) Chi phí lưu thông hàng hóa, dịch vụ theo quy định tại Điều 25 của Nghị định này
Trang 27– Các hành vi không bị coi là bán dưới giá nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh (khoản 2 Điều
23 Nghị định 116/2005):
a) Hạ giá bán hàng hóa tươi sống;
b) Hạ giá bán hàng hoá tồn kho do chất lượng giảm, lạc hậu về hình thức, không phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng;
c) Hạ giá bán hàng hoá theo mùa vụ;
d) Hạ giá bán hàng hoá trong chương trình khuyến mại theo quy định của pháp luật; đ) Hạ giá bán hàng hoá trong trường hợp phá sản, giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh, thay đổi địa điểm, chuyển hướng sản xuất, kinh doanh;
e) Các biện pháp thực hiện chính sách bình ổn giá của nhà nước theo quy định hiện hành của pháp luật về giá
2 Áp đặt giá mua hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng
– Khoản 1, 2, 3 Điều 27 Nghị định 116/2005
– Là việc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng là việc khống chế, không cho phép các nhà phân phối, các nhà bán lẻ bán lại hàng hóa thấp hơn mức giá đã quy định trước
– Các hành vi gồm:
+ doanh nghiệp thống lĩnh độc quyền ấn định giá bán lại
+ ép buộc nhà phân phối, nhà bán lẻ không được bán thấp hơn mức giá đã ấn định
3 Hành vi hạn chế khả năng kinh doanh, khả năng phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng
+ có sự khác nhau trong điều kiện thương mại
+ xác định sự như nhau của các giao dịch
Trang 28– Dấu hiệu 2: hành vi phân biệt đối xử tạo ra sự bất bình đẳng trong cạnh tranh giữa các khách hàng
5 Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch
vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng
– Hành vi gắn việc mua, bán hàng hóa, dịch vụ là đối tượng của hợp đồng với việc phải mua hàng hóa, dịch vụ khác từ nhà cung cấp hoặc người được chỉ định trước
6 Hành vi ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới
– Vụ việc Intel: Ngày 13/0/2009, Ủy ban Châu Âu (EC) đã phạt Tập đoàn Intel 1,06 tỷ Euro (khoảng 1,45 tỷ USD) vì đã thực hiện hành vi vi phạm Luật chống độc quyền: hạ giá chip máy tính bất hợp lý cho các nhà sản xuất máy tính và trả tiền cho các hãng bán lẻ để không nhận bán các sản phẩm có lắp ráp sản phẩm của đối thủ cạnh tranh là AMD
Giảng viên: cô Phạm Phương Thảo (ThS)
Chương 5: Pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế
I Khái quát về tập trung kinh tế
1 Khái niệm tập trung kinh tế
– Với tính chất là hành vi của doanh nghiệp: Tập trung kinh tế được hiểu là sự gia tăng tư bản do hợp nhất nhiều tư bản lại hoặc 1 tư bản này thu hút 1 tư bản khác
– Khái niệm tập trung kinh tế theo Luật cạnh tranh 2004:
+ Khoản 3 Điều 3: hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường
+ Điều 16: Tập trung kinh tế là hành vi của doanh nghiệp bao gồm:
1 Sáp nhập doanh nghiệp;
2 Hợp nhất doanh nghiệp;