Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyế
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN:LUẬT HÌNH SỰ 1
ĐỀ BÀI: 03
Trình bày quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án và đưa ra nhận xét về hai trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều bản án được quy
định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 56 BLHS năm 2015.
Hà Nội, 2021
HỌ VÀ TÊN : Vũ Hồng Ngân
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3
NỘI DUNG 4
I Lí thuyết 4
1 Khái niệm và đặc điểm của hình phạt 4
2 Hệ thống hình phạt 4
3 Quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với cá nhân, PNTM phạm tội 5
3.1 Quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với cá nhân phạm tội 5
a Trường hợp có nhiều bản án 5
b Quy định về tổng hợp hình phạt chung của nhiều bản án đối với cá nhân phạm tội 7
3.2 Quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với PNTM phạm tội 8
II Nhận xét về hai trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều bản án được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 56 BLHS năm 2015 8
KẾT LUẬN 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 3MỞ ĐẦU
Hình phạt và những quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án luôn
là đề tài nghiên cứu nhận được rất nhiều sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu pháp luật, nhiều giảng viên cũng như nhiều sinh viên từ nhiều năm qua
Vì vậy, em xin chọn đề tài: “Trình bày quy định về tổng hợp hình phạt của
nhiều bản án và đưa ra nhận xét về hai trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều bản án được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 56 BLHS năm 2015.” cho bài tiểu luận kết thúc học phần Luật hình sự 1 Bài viết mang
nhiều ý kiến, quan điểm cá nhân và trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện không thể tránh khỏi thiếu sót, kính mong quý thầy cô góp ý để bài làm thêm hoàn thiện Em xin chân thành cảm ơn!
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS Bộ luật Hình sự PNTM Pháp nhân thương mại
Trang 4NỘI DUNG
I Lí thuyết
1 Khái niệm và đặc điểm của hình phạt.
Theo như quy định tại Điều 30 BLHS Việt Nam thì hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong BLHS, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc PNTM phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, PNTM đó
Qua định nghĩa trên, ta có thể hiểu được rằng hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước,
nó được xem như là một công cụ hữu hiệu trong phòng chống tội phạm để bảo vệ lợi ích của Nhà nước; quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, PNTM khác cũng như có tác dụng răn đe những đối tượng có ý nghĩ vi phạm pháp luật Hình phạt được quy định trong BLHS, không được áp dụng hình phạt đối với những hành vi không được BLHS quy định là tội phạm và không được áp dụng những hình phạt không có trong BLHS; ngoài Tòa án ra thì không có cơ quan nào được phép quyết định hình phạt đối với cá nhân, PNTM phạm tội Hình phạt chỉ được áp dụng cho cá nhân hoặc PNTM phạm tội, vì vậy mà không thể áp dụng hình phạt cho thân nhân người phạm tội và không chấp nhận trường hợp chấp hành hình phạt thay cho cá nhân, PNTM phạm tội; kể cả là tự nguyện
2 Hệ thống hình phạt
Tội phạm có rất nhiều loại khác nhau và mỗi loại tội phạm đều có tính chất
và mức độ nguy hiểm khác nhau Cá nhân phạm tội cũng là những người khác nhau, thuộc các tầng lớp, giai cấp và chức vụ khác nhau; có những người là nông dân nhưng lại có những người đang nắm giữ chức vụ quan trọng trong
bộ máy Nhà nước Chính vì sự đa dạng về tội phạm như vậy mà hình phạt cũng cần phải đa dạng theo, mặc dù đa dạng những vẫn phải thống nhất với nhau và thể hiện đầy đủ chính sách hình sự của nước ta
Hệ thống hình phạt gồm có hình phạt chính và hình phạt bổ sung Mỗi tội phạm chỉ được áp dụng một hình phạt chính, có thể có một hoặc nhiều hình phạt bổ sung kèm, tùy theo tính chất và mức độ của hành vi phạm tội Hình phạt chính và bổ sung của cá nhân phạm tội là khác so với PNTM phạm tội
Trang 53 Quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với cá nhân, PNTM phạm tội
3.1 Quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với cá nhân phạm tội
Điều 56 BLHS 2015 đã quy định về trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, cụ thể như sau:
Điều 56 Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án
1 Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này.
Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.
2 Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phân hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này.
3 Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Để có thể trình bày kĩ lưỡng hơn về quy định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, có thể chia điều luật này ra làm hai phần, đó là: các trường hợp được coi là nhiều bản án và cách thức tổng hợp hình phạt chung cho từng trường hợp
a Trường hợp có nhiều bản án
Trường hợp bị coi là có nhiều bản án gồm có hai trường hợp được quy định tại khoản 1 và khoản 2 tại Điều 56 BLHS như sau: Một, là khi cá nhân phạm tội đang chấp hành án của một bản án khác thì lại bị đưa ra xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án đang chấp hành; Hai, cá nhân phạm tội đang chấp hành bản án thì lại bị xét xử về một tội đã phạm sau khi có bản án đang chấp hành
Trang 6Trước hết, chúng ta cần làm rõ thế nào là đang chấp hành một bản án? Đó
là việc người đã bị kết án và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật, có thể chưa kịp chấp hành hoặc chấp hành chưa xong một hoặc nhiều hình phạt theo quyết định của bản án đã có hiệu lực pháp luật
Tại trường hợp thứ nhất, cá nhân phạm tội đang chấp hành một bản án thì
bị đưa ra xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án đó Tại trường hợp này,
có thể hiểu một cách đơn giản như sau: một người đang phải chấp hành hình phạt theo quyết định của bản án do Tòa án ban hành đã có hiệu lực pháp luật, thì lại bị đưa ra xét xử về tội mà người này đã phạm trước khi mà bản án người đó đang chấp hành có hiệu lực Trong trường hợp này, Tòa án sẽ quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 BLHS; thời gian đã chấp hành của bản án trước đó
sẽ được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung của hai hay nhiều bản án
Có thể lấy một ví dụ cụ thể như sau: Nguyễn Văn A, 22 tuổi, đang chấp hành bản án tù 05 năm về tội lưu hành tiền giả được 01 năm thì bị cơ quan điều tra phát hiện ra rằng thanh niên này đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với trị giá 30.000.000 triệu đồng trước khi có bản án này Vì vậy, Tòa án đã tuyên A phải chịu 02 năm tù giam về tội trộm cắp tài sản Nguyễn Văn A phải chịu hình phạt chung cho 02 tội là 08 năm tù giam, tuy nhiên, do anh này đã chấp hành được 01 năm tù của bản án trước nên A chỉ phải tiếp tục chấp hành thêm
07 năm nữa
Đối với trường hợp thứ hai, cá nhân phạm tội đang chấp hành bản án thì
bị xét xử về tội đã phạm sau khi có bản án đang chấp hành Trường hợp này
khác với trường hợp thứ nhất ở chỗ là, trong khoảng thời gian mà người phạm tội đang chấp hành hình phạt của bản án đã có hiệu lực thì người này lại thực hiện thêm một hoặc nhiều hành vi vi phạm pháp luật mới Khi đó, Tòa án sẽ đưa ra quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phân hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi mới đưa ra quyết định hình phạt chung cho tất cả bản án mà người này phải chấp hành Ví dụ như sau: Nguyễn Thị B đang chấp hành bản án tù 05 năm về tội danh tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Trong một lần xô xát với bạn tù, B đã ra tay giết chết 01 người,
vì vậy nên Tòa án tuyên chị chịu 08 năm tù giam Bởi B đã chấp hành được
Trang 702 năm tù cho bản án trước đó, nên hình phạt chung dành cho Nguyễn Thị B
là 11 năm
b Quy định về tổng hợp hình phạt chung của nhiều bản án đối với cá nhân phạm tội
Quy định về tổng hợp hình phạt chung của nhiều bản án đối với cá nhân phạm tội được quy định cụ thế như sau:
Đối với hình phạt chính, nếu như các hình phạt đã được tuyên đều cùng một loại là cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn thì các hình phạt được cộng lại thành một hình phạt chung; theo đó, không quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ và không quá 30 năm đối với tù có thời hạn Nếu như hình phạt đã được tuyên gồm có hai loại là cải tạo không giam giữ và tù
có thời hạn thì hình phạt cải tạo không giam giữ sẽ được chuyển đổi thành hình phạt tù có thời hạn theo tỉ lệ 3:1, tức là 03 ngày tù không giam giữ thì sẽ được chuyển thành 01 ngày tù có thời hạn, sau đó tổng hợp lại để thành một hình phạt chung và không quá 30 năm tù giam Ví dụ: Hà Văn C bị phạt 20 năm tù về tội giết người, bản án có hiệu lực kể từ ngày 05/05/2021 Khi đã chấp hành được 06 tháng thì C bị đưa ra xét xử về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là tội C đã phạm trước khi phạm tội giết người, đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi này C bị phạt 12 năm tù giam Vì vậy, hình phạt chung mà
C sẽ phải chấp hành là 30 năm tù giam, tuy nhiên, do C đã chấp hành 06 tháng tù giam nên C chỉ phải tiếp tục chấp hành thêm 29 năm 06 tháng tù giam
Nếu hình phạt nặng nhất của nhiều bản án là tù chung thân thì hình phạt chung được áp dụng là tù chung thân, tương tự đối với hình phạt tử hình Hình phạt phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác, nếu như nhiều bản án có nhiều khoản tiền phạt thì các khoản tiền phạt sẽ được cộng lại thành một hình phạt chung và không có quy định về số tiền phạt tối đa Hình phạt trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác, hình phạt này là hình phạt riêng biệt chỉ áp dụng đối với người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam (người không có quốc tịch Việt Nam)
Đối với hình phạt bổ sung, nếu các hình phạt đã tuyên là cùng một loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn được quy định riêng đối với
từng hình phạt cụ thể Cụ thể như sau: đối với các hình phạt cấm đảm nhiệm
Trang 8chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân có thời hạn từ 01 năm đến 05 năm; tịch thu tài
sản thì sẽ tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết
án, giá trị tịch thu tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, tuy nhiên vẫn để cho người bị kết án cũng như gia đình họ có điều kiện sinh sống Trong trường hợp có nhiều loại hình hình phạt khác nhau thì người bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt Tòa án đã tuyên Ví dụ, bác sĩ Cù Văn D bị kết án 05 năm tù giam và bị cấm hành nghề bác sĩ 03 năm về tội vô
ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp Sau khi đã chấp hành hình phạt tù được 01 năm thì bị đưa ra xét xử về tội cưỡng dâm là tội đã phạm trước khi có bản án về tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp, đối với tội cưỡng dâm C phải chịu hình phạt tù 02 năm và bị cấm hành nghề bác sĩ 03 năm Do đó, hình phạt chung mà C phải chấp hành là hình phạt 07 năm tù giam và 05 năm cấm hành nghề bác sĩ, do C đã chấp hành 01 năm tù giam về tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp nên C chỉ phải chấp hành thêm 06 năm tù giam nữa
3.2 Quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với PNTM phạm tội
Tại Điều 87 BLHS 2015 đã quy định những trường hợp được coi là có nhiều bản án và cách thức tổng hợp hình phạt chung đối với PNTM vi phạm Theo đó, PNTM cũng có hai trường hợp được coi là phải chấp hành nhiều bản
án tương tự như đối với cá nhân phạm tội Tuy nhiên, trong trường hợp thứ nhất, cụ thể ở đây là trường hợp PNTM đang chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này thì khi Tòa án tổng hợp hình phạt chung, Tòa án sẽ trừ đi khoảng thời gian mà PNTM đã chấp hành hình phạt vào thời hạn chấp hành hình phạt chung nếu như những hình phạt mà PNTM đó đang phải chấp hành là về đình chỉ hoạt động có thời hạn, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn
II Nhận xét về hai trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều bản án được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 56 BLHS năm 2015.
Pháp luật Hình sự Việt Nam chỉ chấp nhận hai trường hợp được phép tổng hợp hình phạt của nhiều bản án và hai trường hợp này đều đã được quy định
Trang 9cụ thể tại khoản 1 và khoản 2 của Điều 56 BLHS năm 2015 Điểm chung của hai trường hợp này là người phạm tội đều đang ở trong hoàn cảnh đang phải chấp hành một bản án nào đó thì lại bị đưa ra xét xử Xét về điểm riêng, thời gian thực hiện tội phạm được coi là điểm khác biệt lớn nhất giữa hai trường hợp, từ đó dẫn tới sự chênh lệch về hậu quả pháp lý mà người phạm tội phải chịu
Cụ thể, tại Khoản 1 Điều 56 có quy định về trường hợp cá nhân phạm tội đang chấp hành một bản án thì bị đưa ra xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án đó Trong trường hợp này, thời điểm cá nhân thực hiện tội phạm bị đưa
ra xét xử sau là trước khi có bản án đang phải chấp hành, vì vậy mà việc tổng hợp hình phạt chung sẽ theo hướng lỗi thuộc về cơ quan nhà nước, cơ quan có thẩm quyền do không phát hiện đầy đủ tội phạm Vậy nên thời gian đã chấp hành đối với bản án trước đó sẽ được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung, do đó mà hậu quả pháp lí trong trường hợp này sẽ nhẹ nhàng và có lợi hơn cho người phạm tội
Còn đối với trường hợp được quy định tại Khoản 2 Điều 56 là trường hợp
cá nhân phạm tội đang chấp hành bản án thì bị xét xử về tội đã phạm sau khi
có bản án đang chấp hành Thời điểm cá nhân thực hiện tội phạm trong trường hợp này là sau khi đã có bản án, đang trong thời gian mà cá nhân phải chấp hành hình phạt nhằm mục đích cải tạo; vì vậy mà nếu đang trong thời gian này mà cá nhân lại thực hiện thêm hành vi vi phạm pháp luật đã chứng tỏ người này chưa thực sự biết hối cải, chưa có ý thức tuân thủ các quy định pháp luật, vẫn còn là một mầm mống gây hại cho xã hội Chính vì vậy mà việc tổng hợp hình phạt chung trong trường hợp này sẽ được thực hiện theo hướng có lỗi của người thực hiện hành vi phạm tội nên hậu quả pháp lý mà họ gánh chịu sẽ nặng nề và bất lợi hơn so với trường hợp được quy định tại Khoản 1 Vì vậy mà có những trường hợp nếu tính tổng thời gian đã chấp hành hình phạt trước khi bị đưa ra xét xử về tội mới và thời hạn thực hiện hình phạt chung thì thời gian thực tế mà người này phải ngồi tù có thể trên 30 năm tù giam
Trang 10Có thể lấy một ví dụ cụ thể để làm rõ được sự khác biệt giữa hai trường hợp này như sau:
Nguyễn Văn E bị tuyên án 20 năm tù giam về giết người tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, bản án có hiệu lực kể từ ngày 27/10/2020 Sau khi đã chấp hành hình phạt được 01 năm
Giả sử:
E bị phát hiện đã thực hiện hành vi bức tử người vợ đang mang thai của mình, vì vậy mà E đã bị đưa ra xét xử
và bị kết án 12 năm tù giam
Vào ngày 27/10/2021 E xảy ra xô xát với bạn tù, làm bạn tù chết Vì vậy, E đã bị đưa ra xét xử về tội cố ý gây thương tích dẫn tới chết người, Tòa án đã tuyên E phải chịu 12 năm
tù giam, bản án mới có hiệu lực từ ngày 05/11/2021
Hình phạt chung mà E phải chịu là
30 năm, tuy nhiên, trừ đi 01 năm mà
E đã chấp hành đối với bản án về tội giết người nên E chỉ phải chấp hành thêm 29 năm tù giam
Vì đã chấp hành 01 năm tù giam về tội giết người nên E còn phải tiếp tục chấp hành 19 năm tù, vì vậy hình phạt chung mà E phải chịu là 30 năm tù giam tính từ ngày 05/11/2021
Từ ví dụ trên, ta có thể thấy rằng mặc dù cùng là phạm tội rất nghiêm trọng
và bị kết án 12 năm tù giam cho hành vi phạm tội của mình, nhưng do thời điểm thực hiện tội phạm khác nhau mà từ đó hậu quả pháp lý mà người thực hiện phải gánh chịu cũng là khác nhau Nếu như hành vi phạm tội được thực hiện trong thời gian đang phải chấp hành một bản án khác thì cá nhân đó sẽ phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn từ đó mà nâng cao được khả năng cải tạo ý thức tuân thủ pháp luật cũng như giúp người phạm tội hiểu ra được tội lỗi mà mình đã gây ra; ngoài ra việc quy định hình phạt chung nghiêm khắc hơn đối với trường hợp này còn thể hiện tính giáo dục, răn đe những người chưa thực sự biết ăn năn hối cải; vẫn còn suy nghĩ thực hiện hành vi phạm tội mới
Tuy nhiên, nếu xét về mặt bản chất thì cả hai trường hợp đều là việc người
bị kết án đã thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, điều khác biệt duy nhất ở đây là thời gian mà người đó thực hiện tội phạm – điều này đã được lấy làm căn cứ cho việc tính thời hạn của hình phạt chung Cách tính hình phạt chung khác biệt này là chưa thực sự hợp lí Bởi còn phải dựa trên nhiều yếu tố, ví dụ