1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Trình bày quy định pháp luật về đấu giá hàng hoá (luật thương mại 2)

17 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trình bày quy định pháp luật về đấu giá hàng hoá (Luật Thương mại 2)
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Báo cáo môn học
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 291,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

0 Contents MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 I Khái quát về đấu giá hàng hóa 1 1 Khái niệm 1 2 Đặc điểm 2 3 Các hình thức, phương thức đấu giá hàng hóa 4 3 1 Phương thức đấu giá 4 3 2 Hình thức đấu giá 5 4 Vai trò.

Trang 1

0

Contents

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I Khái quát về đấu giá hàng hóa 1

1 Khái niệm 1

2 Đặc điểm 2

3 Các hình thức, phương thức đấu giá hàng hóa 4

3.1 Phương thức đấu giá 4

3.2 Hình thức đấu giá 5

4 Vai trò của bán đấu giá 5

II Nội dung pháp lý cơ bản về đấu giá hàng hóa 5

1 Nguyên tắc đấu giá hàng hóa 5

1.1 Nguyên tắc công khai 6

1.2 Nguyên tắc trung thực 6

1.3 Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia 7

2 Thủ tục đấu giá hàng hóa 7

2.1 Lập hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá hàng hóa 7

2.2 Xác định giá khởi điểm 8

2.3 Chuẩn bị bán đấu giá hàng hóa 9

2.4 Tiến hành bán đấu giá 10

2.5 Hoàn thành văn bản đấu giá hàng hóa 11

3 Quyền và nghĩa vụ của các bên 12

III Thực trạng và hoàn thiện pháp luật về bán đấu giá hàng hóa 13

1 Thực trạng 13

2 Kiến nghị giải pháp hoàn thiện 14

2.1 Về pháp luật 14

2.2 Về thực tiễn 15

KẾT LUẬN 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 2

1

MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, đấu giá hàng hóa là hoạt động thương mại ngày càng có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, mang tính thiết thực và là nhu cầu cần thiết cho xu thế phát triển xã hội Nó là một trong những phương thức linh hoạt trong việc chuyển quyền sở hữu tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế nói chung

và hoạt động trao đổi mua bán hàng hóa nói riêng, mặt khác, thông qua bán đấu giá hàng hóa, hoạt động bán đấu giá tài sản đặc biệt là mua bán hàng hóa được công khai, minh bạch hơn Bán đấu giá đã có mặt ở Việt Nam từ khá lâu từ những năm đầu của thể kỷ XX, nhưng bán đấu giá hàng hóa với tính chất là hành vi thương mại của thương nhân thì mới được ghi nhận trong pháp luật những năm gần đây Hiểu được tầm quan trọng của vấn đề này, sau đây, em xin

phân tích đề bài LTM2 HK-5: “Trình bày quy định pháp luật về đấu giá hàng

hoá.”

NỘI DUNG

I Khái quát về đấu giá hàng hóa

1 Khái niệm

Căn cứ khoản 1 Điều 185 Luật thương mại 2005 (LTM 2005): “Đấu giá

hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó người bán hàng tự mình hoặc thuê người tổ chức đấu giá thực hiện việc bán hàng hoá công khai để chọn người mua trả giá cao nhất”

Hiểu một cách ngắn gọn, đấu giá hàng hóa là phương thức để bên bán xác định người mua hàng, người mua được hàng hóa là người trả giá cao nhất Đấu giá hàng hóa hoàn toàn khác với mua bán hàng hóa trong dân sự, hoạt động mua bán hàng hóa thông thường có thể được diễn ra bí mật hoặc công khai phù thuộc vào ý chí người bán

Trang 3

2

2 Đặc điểm

Đấu giá hàng hóa là một hoạt động thương mại, do vậy, có những đặc điểm chung của một hoạt động thương mại, ngoài ra, đấu giá hàng hóa còn có những nét đặc thù so với các hoạt động thương mại khác được thể hiện:

- Về chủ thể: Các chủ thể tham gia vào hoạt động đấu giá hàng hóa bao gồm

bên bán, bên mua và bên tổ chức đấu giá

+ Bên bán: Căn cứ khoản 5 Điều 5 Luật Đấu giá tài sản 2016 (Luật ĐGTS

2016), bên bán hàng hóa trong hoạt động đấu giá hàng hóa có thể là cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hàng hóa; người được chủ sở hữu hàng hóa ủy quyền bán đấu giá hàng hóa; người có quyền đưa hàng hóa ra đấu giá theo quy định của pháp luật (ví dụ: cơ quan công an có quyền bán tang chứng vật chứng khi hết

thời hạn xử lý, )

+ Bên mua: Bên mua hàng hóa trong hoạt động đấu giá hàng hóa bao gồm người tham gia đấu giá (là cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện tham gia đấu giá để

mua hàng hóa đấu giá theo quy định pháp luật – khoản 7 Điều 5 Luật ĐGTS 2016) và người mua được hàng hóa (là cá nhân, tổ chức trả giá cao nhất so với

giá khởi điểm hoặc bằng giá khởi điểm trong trường hợp không có người trả giá cao hơn giá khởi điểm khi đấu giá theo phương thức trả giá lên; cá nhân, tổ chức chấp nhận mức giá khởi điểm hoặc mức giá đã giảm trong trường hợp đấu

giá theo phương thức đặt giá xuống – theo khoản 8 Điều 5 Luật ĐGTS 2016)

+ Bên tổ chức đấu giá: Bên tổ chức đấu giá trong hoạt động đấu giá hàng hóa có thể chính là bên bán hàng hóa hoặc tổ chức đấu giá tài sản (bao gồm Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản và doanh nghiệp đấu giá tài sản – theo quy

định tại khoản 11 Điều 5 Luật ĐGTS 2016)

- Về đối tượng: Căn cứ Điều 4 Luật ĐGTS 2016, đối tượng của hoạt động

đấu giá hàng hoá có thể là những tài sản pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá hoặc có thể là những hàng hóa thương mại thông thường thuộc quyền

Trang 4

3

sở hữu của cá nhân, tổ chức Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của việc bán hàng theo phương thức này, hầu hết chỉ những hàng hóa có đặc thù về giá trị cũng như giá trị sử dụng mới thường được cân nhắc để lựa chọn bán theo phương thức đấu giá Những loại hàng hóa này rất khó xác định giá trị thực của nó như các loại hàng hóa khác Do vậy người bán chỉ đưa ra một mức giá cơ sở để người mua tham khảo (giá khởi điểm), còn giá bán thực tế do những người tham dự cuộc bán đấu giá xác định trên cơ sở có sự cạnh tranh Giá bán thực tế

có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá mà người bán đưa ra ban đầu

- Về hình thức của quan hệ bán đấu giá, quan hệ bán đấu giá có thể được thiết lập dưới dạng rất đặc biệt là hợp đồng ủy quyền bán đấu giá hoặc văn bản

bán đấu giá hàng hóa Hợp đồng ủy quyền bán đấu giá được xác lập giữa người

bán hàng và người làm dịch vụ bán đấu giá Nó làm phát sinh quyền và nghĩa

vụ của các bên trong quan hệ ủy quyền bán đấu giá hàng hóa Còn văn bản bán đấu giá thực chất là hợp đồng mua bán hàng hóa, được xác lập giữa các bên liên quan Văn bản này là cơ sở pháp lý để xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa đồng thời là căn cứ để xác lập quyền sở hữu của người mua hàng đối với hàng hóa bán đấu giá

So với các phương thức bán hàng khác, bán đấu giá hàng hóa đem lại lợi ích cho cả người bán hàng và người mua hàng Nó tạo cơ hội bình đẳng cho những người mua hàng cùng tham gia trả giá, qua đó xác định được một mức giá cạnh tranh có lợi nhất cho người bán hàng Nhờ việc tổ chức đấu giá mà hàng hóa đem bán sẽ đến tay những người mua có tiềm năng và hiểu đúng giá trị của chúng nhất Bán đấu giá còn tập trung được cung và cầu về các loại hàng hóa vào một thời gian và một địa điểm nhất định, giúp cho việc xác lập quan

hệ mua bán diễn ra nhanh chóng Những thị trường bán đấu giá chuyên nghiệp

sẽ trở thành động lực rất tốt để thúc đẩy quan hệ trao đổi thương mại phát triển, nhất là với các quốc gia có những mặt hàng thế mạnh của mình

Trang 5

4

3 Các hình thức, phương thức đấu giá hàng hóa

3.1 Phương thức đấu giá

+ Căn cứ vào phương thức xác định giá, khoản 2 Điều 185 LTM 2015, khoản 2 Điều 40 Luật ĐGTS 2016 quy định có hai hình thức đấu giá hàng hóa:

- Phương thức trả giá lên (là phương thức bán đấu giá, theo đó người trả

giá cao nhất so với giá khởi điểm là người có quyền mua hàng);

- Phương thức đặt giá xuống (là phương thức bán đấu giá, theo đó người

đầu tiên chấp nhận ngay mức giá khởi điểm hoặc mức giá được hạ thấp hơn mức giá khởi điểm là người có quyền mua hàng)

+ Căn cứ vào hình thức biểu đạt trong cuộc bán đấu giá, có đấu giá dùng lời nói và đấu giá không dùng lời nói

- Đấu giá dùng lời nói là hình thức trong phiên bán đấu giá, nhân viên điều

hành đấu giá dùng lời nói của mình để đưa ra giá khởi điểm Những người mua

sẽ đặt giá cũng bằng lời nói hoặc bằng việc làm dấu hiệu để người điều hành đấu giá biết Hình thức đấu giá bằng lời nói có ưu điểm là sự trả giá của mọi người mua đều công khai, người trả giá cao nhất được xác định ngay mà không phải mất nhiều thời gian để so sánh, vì thế cuộc đấu giá nhanh chóng kết thúc

- Đấu giá không dùng lời nói là hình thức mà việc trả giá của người mua

không được thể hiện bằng lời nói hoặc việc làm dấu hiệu mà được viết ra giấy hoặc thông qua một hình thức nào đó sẽ thông báo cho nhân viên điều hành đấu giá biết Nhân viên điều hành sẽ thông báo mức giá cao nhất qua mỗi lần trả giá trên cơ sở so sánh các mức giá chấp nhận mà họ được thông báo Việc đấu giá kéo dài cho tới lần trả giá mà không có ai trả cao hơn giá đã trả cao nhất của lần trả tiền trước đó Tuy thủ tục có phức tạp và làm mất nhiều thời gian hơn nhưng hình thức này hạn chế được tình trạng chạy đua giữa những người mua nâng giá lên cao một cách quá đáng so với giá trị thực của hàng hóa, vì người mua sẽ không biết mức giá mà người mua khác trả trong mỗi lần trả giá

Trang 6

5

3.2 Hình thức đấu giá

Căn cứ vào phương thức biểu đạt, khoản 1 Điều 40 Luật ĐGTS quy định

có 4 hình thức đấu giá hàng hóa bao gồm: Đấu giá trực tiếp bằng lời nói tại cuộc đấu giá; Đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá; Đấu giá bằng

bỏ phiếu gián tiếp; Đấu giá trực tuyến Cụ thể chi tiết các hình thức này được

quy định tại Điều 41, 42, 42 Luật ĐGTS 2016

4 Vai trò của bán đấu giá

- Đấu giá hàng hóa đảm bảo tính khách quan, trung thực trong mua bán hàng hóa đặc biệt là trong vấn đề giá cả

- Bán đấu giá hàng hóa thực hiện một cách công khai, đảm bảo sự cạnh tranh công bằng, ngăn ngừa được những hành vi tiêu cực gây thiệt hại cho người bán hàng, người mua hàng và các chủ thể khác có liên quan

- Bán đấu giá hàng hóa giúp cho việc mua bán diễn ra nhanh chóng, nó tập trung được quan hệ cung cầu về một loại hàng hóa nào đó vào một thời gian và địa điểm nhất định Do vậy cơ hội để bán được hàng hóa cho người muốn mua

là rất cao, tạo được sự cạnh tranh về giá cả, nâng cao giá trị hàng hóa đó

- Bán đấu giá hàng hóa thì mang tính tự nguyện cao của người mua vì người mua hàng hóa là người quyết định giá cả đặt mua, do vậy giá của hàng hóa sẽ

là giá của người mua cho là thích hợp

- Bán đấu giá hàng hóa còn đảm bảo lợi ích cho các chủ thể khác có liên quan như người nhận cầm cố, nhận thế chấp, nhận bảo lãnh

II Nội dung pháp lý cơ bản về đấu giá hàng hóa

1 Nguyên tắc đấu giá hàng hóa

Điều 188 LTM 2005, Điều 6 Luật ĐGTS 2016 quy định việc đấu giá hàng

hóa trong thương mại phải tuân thủ pháp luật, được thực hiện theo nguyên tắc đọc lập, công khai, trung thực, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia

Trang 7

6

1.1 Nguyên tắc công khai

Đấu giá là hình thức công khai lựa chọn người mua hàng hóa nên mọi vấn

đề có liên quan đến cuộc bán đấu giá và những thông tin về hàng hóa bán đấu giá phải được công khai cho tất cả những ai muốn mua dưới các hình thức như niêm yết, thông báo, trưng bày, giới thiệu về tài sản,…Những nội dung bắt buộc phải công khai như địa điểm, thời gian tiến hành, tên loại hàng hóa, Tại phiên đấu giá, người điều hành bán đấu giá phải công khai các mức giá được trả và

họ tên người mua trả giá cao nhất mỗi lần trả

Quy định này của pháp luật tránh tình trạng móc ngoặc giữa khách hàng mua hàng hóa bán đấu giá và người điều hành cuộc bán đấu giá Nguyên tắc công khai đảm bảo cho phiên đấu giá được diễn ra trôi chảy, đảm bảo tính chân thực khách quan, từ đó giúp bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia

1.2 Nguyên tắc trung thực

Nguyên tắc này yêu cầu các thông tin về cuộc bán đấu giá, thông tin về hàng hóa, các giấy tờ có liên quan đến hàng hóa bán đấu giá, những đặc điểm khuyết tật không nhìn thấy của hàng hóa, các giấy tờ xác định tư cách người tham gia đấu giá phải thật rõ ràng, chính xác và đầy đủ để không tạo ra sự nhầm lẫn hay lừa dối đối với các bên, sự nhầm lẫn hay lừa dối đó sẽ làm cho cuộc đấu giá vô hiệu

Người bán cần phải trung thực khi xác định giá khởi điểm của hàng hóa, người mua có quyền trả lại hàng hóa cho tổ chức bán đấu giá và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu chất lượng của hàng hóa không đúng như thông báo Tổ chức bán đấu giá không phải chịu trách nhiệm về giá trị, chất lượng hàng hóa bán đấu giá trừ trường hợp không thông tin đầy đủ cho người mua Yêu cầu về tính trung thực còn thể hiện ở việc pháp luật quy định những người có thân phận pháp lý hay hoàn cảnh đặc biệt mà sự tham dự của họ có ảnh hưởng đến

sự trung thực của cuộc bán đấu giá thì không được tham gia trả giá Nguyên tắc

Trang 8

7

này đòi hỏi các chủ thể tham gia quan hệ đấu giá hàng hóa phải tuân theo nhằm đảm bảo sự yên tâm về hàng hóa mà khách hàng đã lựa chọn

1.3 Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia

Nguyên tắc này yêu cầu quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia trong quan hệ đấu giá hàng hóa đều phải được coi trọng và bảo đảm đầy đủ Người bán hàng có quyền xác định giá khởi điểm của hàng hóa, có quyền yêu cầu tổ chức bán đấu giá thanh toán đầy đủ tiền bán hàng hóa ngay sau khi cuộc bán đấu giá kết thúc, được bồi thường thiệt hại nếu tổ chức bán đấu giá hoặc bên mua có hành vi xâm hại đến lợi ích của mình theo quy định của pháp luật Người mua hàng có quyền xem hàng hóa, yêu cầu cung cấp đầy đủ thông tin về hàng hóa, được tự đặt giá, được xác lập quyền sở hữu đối với hàng hóa sau khi hoàn thành văn bản đấu giá và họ đã thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán thoe quy định của pháp luật Tổ chức bán đấu giá được thu của người bán hàng lệ phí và các khoản chi phí cần thiết khác cho việc tổ chức bán đấu giá theo quy định của pháp luật

2 Thủ tục đấu giá hàng hóa

2.1 Lập hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá hàng hóa

Đấu giá hàng hóa có thể được thực hiện bởi chính chủ sở hữu hàng hóa hoặc thông qua một người bán hàng Trong những trường hợp này, các chủ thể

tự tiến hành đấu giá hàng hóa và tự chịu trách nhiệm về công việc này Tuy nhiên do tính chất khá phức tạp của việc tổ chức một cuộc bán đấu giá, hơn nữa

do tính đặc thù của hàng hóa mà sự thành công hay thất bại của một cuộc bán đấu giá hàng hóa phụ thuộc rất nhiều vào cách thức tổ chức bán đấu giá Chính

vì vậy, hầu hết các chủ sở hữu hàng hóa, khi đã lựa chọn bán hàng bằng phương thức đấu giá thì cũng lựa chọn cho mình một người trung gian Đối với các trường hợp bán đấu giá hàng hóa thông qua người trung gian thì việc lập hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá hàng hóa là thủ tục đầu tiên trong trình tự bán đấu giá hàng hóa

Trang 9

8

Người bán đấu giá chỉ được quyền tiến hành bán đấu giá sau khi có sự ủy quyền của người bán hàng hóa bằng một hợp đồng có hiệu lực pháp luật Hợp

đồng dịch vụ tổ chức đấu giá được lập và thực hiện theo quy định tại Điều 33 Luật ĐGTS 2016, Điều 193 LTM 2005 và các quy định khác có liên quan:

- Hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá hàng hoá phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương

- Trường hợp hàng hoá được đấu giá là đối tượng cầm cố, thế chấp thì hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá phải được sự đồng ý của bên nhận cầm cố, thế chấp và bên bán phải thông báo cho các bên tham gia đấu giá về hàng hóa đang

bị cầm cố, thế chấp

- Trường hợp trong hợp đồng cầm cố, thế chấp có thoả thuận về việc bán đấu giá mà người cầm cố, thế chấp vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc

từ chối giao kết hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá hàng hoá thì hợp đồng dịch

vụ tổ chức đấu giá được giao kết giữa người nhận cầm cố, thế chấp với người

tổ chức đấu giá

2.2 Xác định giá khởi điểm

- Theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Luật ĐGTS 2016, giá khởi điểm là giá

ban đầu thấp nhất của tài sản đấu giá trong trường hợp đấu giá theo phương thức trả giá lên; giá ban đầu cao nhất của tài sản đấu giá trong trường hợp đấu

giá theo phương thức đặt giá xuống

- Việc xác định mức giá khởi điểm được quy định tại Điều 194 LTM 2005, điều 8 Luật ĐGTS 2016, cụ thể:

+ Giá khởi điểm của hàng hóa do người bán hàng xác định với sự tham gia của đại diện tổ chức bán đấu giá Giá khởi điểm cũng có thể do người bán đấu giá xác định nếu được người bán ủy quyền nhưng phải thông báo cho người bán hàng hóa trước khi được công bố cho người mua

Trang 10

9

+ Trường hợp hàng hoá đấu giá là đối tượng cầm cố, thế chấp thì người nhận cầm cố, thế chấp phải thoả thuận với người cầm cố, thế chấp xác định giá khởi điểm

+ Trường hợp trong hợp đồng cầm cố, thế chấp có thoả thuận về việc bán đấu giá mà người cầm cố, thế chấp vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc

từ chối giao kết hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá hàng hoá thì giá khởi điểm

do người nhận cầm cố, thế chấp xác định

Pháp luật quy định xác định mức giá khởi điểm là rất quan trọng, mức giá khởi điểm phải phù hợp với giá trị thực tế của hàng hóa, không nên xác định mức giá khởi điểm quá cao hay quá thấp

2.3 Chuẩn bị bán đấu giá hàng hóa

Người bán hàng hóa hoặc người tổ chức bán đấu giá phải tiến hành mọi công việc chuẩn bị cần thiết để tổ chức thành công cuộc bán đấu giá theo quy định của pháp luật, bao gồm các công việc chính sau:

- Niêm yết, công khai việc bán đấu giá: Nội dung của niêm yết, công khai

việc bán đấu giá đã được qui định cụ thể tại điều 197 LTM 2005, Điều 35 Luật ĐGTS 2016 gồm: Thời gian, địa điểm đấu giá; tên, địa chỉ của người tổ chức

đấu giá; tên, địa chỉ của người bán hàng; danh mục hàng hoá, số lượng, chất lượng hàng hóa; giá khởi điểm; thông tin cần thiết liên quan đến hàng hoá; địa điểm, thời gian trưng bày hàng hoá; địa điểm, thời gian tham khảo hồ sơ hàng hoá; địa điểm, thời gian đăng ký mua hàng hoá Việc quy định như vậy giúp các thông tin về cuộc bán đấu giá được phổ biến rộng rãi bên ngoài một cách nhanh chóng và các khách hàng có nhu cầu tham gia sẽ biết được thông tin để tham gia từ đó góp phần giúp cuộc đấu giá thực hiện thành công

- Đăng ký mua hàng hóa bán đấu giá và đặt cọc: Điều 199 LTM 2005, Điều 39 Luật ĐGTS 2016 quy định người tổ chức đấu giá có thể yêu cầu người

muốn tham gia đấu giá phải đăng ký tham gia trước khi bán đấu giá

Ngày đăng: 09/12/2022, 11:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w