Vì vậy, để bảo đảm khoảng không nhìn ra hồ trước mặt, năm 2006 giữa ông Trần Xuân Thành và ông Đỗ Bá Hiển đã ký kết một bản thỏa thuận, theo đó ông Đỗ Bá Hiển được xây dựng các công trìn
Trang 1MỞ BÀI: 4 TÓM TẮT TÌNH HUỐNG: 5
Câu 1: Quan điểm của nhóm về phán quyết trong bản án sơ thẩm, của tòa án nhân dân quận TH và bản án phúc thẩm của tòa án nhân dân thành phố H? Nếu rõ căn cứ pháp lý 6 Câu 2: Giả sử vụ án trên diễn ra tại thời điểm BLDS năm 2015 đã có hiệu lực, hãy cho biết quan điểm giải quyết của nhóm đối với vụ án trên theo quy điểm của BLDS năm 2015? 9
SO SÁNH QUYỀN ĐỐI VỚI TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005
VÀ 2015 13 KẾT LUẬN: 15 TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 2Tình huống 2:
Nguyên đơn: Ông Trần Xuân Thành
Bị đơn: Ông Đỗ Bá Hiển
Nội dung vụ án: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các
đương sự nhận thấy, nhà ông Trần Xuân Thành và nhà ông Đỗ Bá Hiển nằm đối diện nhau trên một con ngõ nhỏ trên phố T, quận TH, thành phố H, trước mặt nhà ông Hiển là một hồ nước tự nhiên Vì vậy, để bảo đảm khoảng không nhìn
ra hồ trước mặt, năm 2006 giữa ông Trần Xuân Thành và ông Đỗ Bá Hiển đã ký kết một bản thỏa thuận, theo đó ông Đỗ Bá Hiển được xây dựng các công trình xây dựng trên đất của mình nhưng chiều cao của công trình không được vượt quá chiều cao 9m Đổi lại, ông Trần Xuân Thành phải trả cho ông Đỗ Bá Hiển một khoản tiền là 2,5 tỷ đồng Thời hạn của thỏa thuận trên là 50 năm Thực hiện thỏa thuận trên, ông Thành đã chuyển cho ông Hiển đủ số tiền 2,5 tỷ đồng, ông Hiển đã viết giấy xác nhận đã nhận đủ số tiền trên
Năm 2015, ông Hiển tiến hành tháo dỡ nhà cũ và xây dựng nhà mới Khi biết được ý định của ông Hiển dự định xây dựng một ngôi nhà mới 5 tầng có chiều cao khoảng 20m, ông Thành đã sang gặp ông Hiển và nhắc về thỏa thuận giữa mình và ông Hiển Tuy nhiên ông Hiển vẫn xin cấp phép xây dựng và tiến hành thi công xây dựng Sau khi đã đổ xong mái tầng hai, ông Hiển tiếp tục cho tiến hành xây dựng tầng ba Thấy vậy, ông Thành đã làm đơn yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền dừng thi công vì giữa ông và ông Hiển có bản thỏa thuận
về chiều cao tối đa của công trình mà ông Hiển được xây dựng trên đất của mình Tuy nhiên, cho rằng yêu cầu của ông Thành là không có căn cứ nên cơ quan Nhà nước có thẩm quyền vẫn để ông Hiển tiếp tục thi công Do đó, ông Thành đã tiến hành khởi kiện ra tòa án nhân dân quận TH, thành phố H yêu cầu tòa án buộc ông Hiển tôn trọng bản thỏa thuận đã ký với ông năm 2006 và tháo
dỡ những hạng mục công trình có chiều cao vượt quá 9m Trong quá trình tòa
Trang 3án nhân dân quận TH đã thụ lý để giải quyết, ông Hiển thừa nhận có ký thỏa thuận như trên, nhưng ông cho rằng bản thỏa thuận đó là trái pháp luật nên ông
đề nghị tòa án hủy bản thỏa thuận đó, ông đồng ý trả lại cho ông Thành số tiền
là 2,5 tỷ đồng
Bản án sơ thẩm của tòa án nhân dân quận TH, thành phố H đã quyết định hủy bản thỏa thuận trên với lý do ông Hiển có quyền sử dụng đất hợp pháp, theo quy định của pháp luật, ông Hiển được quyền sử dụng mặt đất, khoảng không trong khuôn viên đất của mình Do đó, thỏa thuận hạn chế quyền sử dụng khoảng không giữa ông Hiển và ông thành là không đúng pháp luật Đồng thời, bản án sơ thẩm cũng buộc ông Hiển phải trả lại cho ông Thành số tiền là 2,5 tỷ đồng
Sau đó, ông Thành kháng cáo, tại bản án dân sự phúc thẩm, tòa án nhân dân thành phố H đã quyết định sửa bản án sơ thẩm theo hướng, hủy bản thỏa thuận năm 2006 giữa ông Thành và ông Hiển, buộc ông Hiển phải trả cho ông Thành 2,5 tỷ đồng đã nhận và phải trả lãi theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định từ thời điểm nhận tiền đến thời điểm xét xử sơ thẩm
Câu 1: Quan điểm của nhóm về phán quyết trong bản án sơ thẩm, của tòa án
nhân dân quận TH và bản án phúc thẩm của tòa án nhân dân thành phố H? Nếu
rõ căn cứ pháp lý
Câu 2: Giả sử vụ án trên diễn ra tại thời điểm BLDS năm 2015 đã có hiệu
lực, hãy cho biết quan điểm giải quyết của nhóm đối với vụ án trên theo quy định của BLDS năm 2015?
Trang 4MỞ BÀI:
Giao dịch dân sự là những vấn đề xảy ra thường xuyên và hàng ngày hàng giờ Tranh chấp trong các giao dịch dân sự cũng là những vấn đề rắc rối và còn gây rất nhiều tranh cãi Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 đã có những cải tiến để việc xác lập giao dịch dân sự và các vấn đề liên quan đến tranh chấp trong giao dịch dân sự sẽ dễ dàng hơn, bảo vệ quyền lợi của các bên nhất là trong vấn đề giao dịch dân sự liên quan đến quyền khác đối với tài sản mà trong Bộ luật dân
sự năm 2005 vẫn chưa quy định dẫn đến chưa bảo vệ quyền lợi của chủ thể có quyền trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản mà quyền sở hữu thuộc về một chủ thể khác Việc giải quyết việc tranh chấp giữa ông Thành và ông Hiển trong tình huống dưới đây sẽ phần nào giúp chúng em hiểu rõ hơn về chế định quyền bề mặt được quy định trong BLDS năm 2015 và giải quyết việc tranh chấp như thế nào khi quyền này vẫn chưa được quy định trong BLDS năm 2005 Qua đây cũng phần nào cho thấy được sự ưu việt của BDLS năm 2015 nhằm ngày càng tiến tới sự thuận lợi trong giao dịch dân sự, phù hợp với sự tiến bộ của thế giới
về vấn đề đất đai Do tầm hiểu biết của chúng em còn hạn chế nên không thể tránh khỏi sai sót, mong thầy cô sẽ góp ý để bài của chúng em hoàn thiện hơn
Trang 5TÓM TẮT TÌNH HUỐNG:
Nguyên đơn: Ông Trần Xuân Thành
Bị đơn: Ông Đỗ Bá Hiển
Năm 2006, giữa ông Trần Xuân Thành và ông Đỗ Bá Hiển ký kết một thỏa thuận, theo đó ông Hiển được xây dựng các công trình trên đất của mình nhưng không được vượt quá chiều cao 9m, đổi lại ông Thành sẽ đưa cho ông Hiển 2,5
tỷ đồng Thời hạn của bản thỏa thuận là 50 năm Ông Hiển đã viết giấy xác nhận là nhận đủ số tiền trên Năm 2015, ông Hiển tiến hành tháo dỡ nhà cũ và quyết định xây dựng căn nhà mới cao 5 tầng với chiều cao là 20m, ông Thành
đã nhắc nhở ông Hiển về bản thỏa thuận đã ký giữa hai bên, tuy nhiên ông Hiển vẫn xin giấy phép xây dựng và tiến hành xây dựng
Sau đó, ông Thành đã yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tuyên bố dừng thi công, nhưng cơ quan đó cho rằng yêu cầu của ông Thành là khoogn có căn cứ do đó vẫn để ông Hiển thi công Ông Thành đã tiến hành khởi kiện ra tòa
án nhân dân quận TH, thành phố H yêu cầu tòa án buộc ông Hiển tôn trọng bản thỏa thuận đã ký với ông năm 2006 và tháo dỡ những hạng mục công trình có chiều cao vượt quá 9m Bản án sơ thẩm của tòa án nhân dân quận TH quyết định hủy bản thỏa thuận giữa ông Thành và ông Hiển vì cho rằng không có căn
cứ pháp luật, đồng thời buộc ông Hiển trả lại cho ông Thành khoản tiền 2,5 tỷ đồng
Ông Thành tiếp tục kháng cáo, tại bản án dân sự phúc thẩm của tòa án nhân dân thành phố H đã quyết định sửa bản án sơ thẩm theo hướng, hủy bản thỏa thuận giữa ông Thành và ông Hiển, buộc ông Hiển phải trả cho ông Thành 2,5
tỷ đồng đã nhận, kèm theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định từ thời điểm nhận tiền cho đến thời điểm xét xử sơ thẩm
Trang 6Câu 1: Quan điểm của nhóm về phán quyết trong bản án sơ thẩm, của tòa
án nhân dân quận TH và bản án phúc thẩm của tòa án nhân dân thành phố H? Nếu rõ căn cứ pháp lý.
Căn cứ pháp lý:
Điều 4 Luật đất đai năm 2013: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà
nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này”
Điều 13 Luật đất đai năm 2013 quy định: Quyền của đại diện chủ sở hữu
về đất đai:
“1 Quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất
2 Quyết định mục đích sử dụng đất
3 Quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất
4 Quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất
5 Quyết định giá đất
6 Quyết định trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất
7 Quyết định chính sách tài chính về đất đai
8 Quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất”
Căn cứ vào khoản 8 Điều này thì Nhà nước có quyền quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Quy định này được cụ thể hóa tại Điều 20 Bộ luật đất đai năm 2013 như sau:
“Nhà nước quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất phù hợp với hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nguồn gốc sử dụng đất và nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất.”
Tức là, Nhà nước chỉ giao cho người sử dụng một số quyền nhất định phù hợp với hình thức giao đất hoặc cho thuê đất, người sử dụng sẽ không có những quyền khác nếu Nhà nước không trao cho họ Bao gồm quyền đối với khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước, lòng đất,… Chủ sở hữu đất chỉ có những quyền đó khi đã được Nhà nước cấp phép
Điều 128 BLDS năm 2005 quy định:
Trang 7“Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội
Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu
Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”
Khoản 2 Điều 137 BLDS 2005 quy định:
“Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.”
Quan điểm của nhóm về phán quyết trong bản án sơ thẩm của tòa án nhân dân quận TH:
Nhóm đồng tình với phán quyết về hậu quả pháp lý ông Hiển phải chịu nhưng không đồng tình với lý do hủy bản thỏa thuận giữa ông Thành và ông Hiển trong bản án sơ thẩm của tòa án nhân dân quận TH, vì những lý do sau:
Căn cứ Điều 4 và khoản 8 Điều 13 của Luật đất đai năm 2013 thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và Nhà nước có quyền quy định quyền và nghĩa của người sử dụng đất Quy định đó được
cụ thể trong Điều 20, như đã giải thích ở trên thì chủ sở hữu chỉ có quyền
sử dụng đất đúng theo hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền
sử dụng đất của Nhà nước Áp dụng vào tình huống, ông Đỗ Bá Hiển chỉ
có quyền sử dụng đất và chiếm hữu đất mà chưa có quyền đối với khoảng không gian phía trên diện tích đất ông đang sử dụng Nhưng trong thời gian đó, ông Đỗ Bá Hiển lại ký kết một bản thỏa thuận đối với ông Trần Xuân Thành về việc ông Hiển sẽ không xây dựng các công trình cao hơn
Trang 89m để đảm bảo khoảng không nhìn ra hồ của nhà ông Thành, đổi lại ông Thành phải trả cho ông Hiển một khoản tiền là 2,5 tỷ đồng Thời hạn thỏa thuận là 50 năm Trên thực tế, ông Hiển không hề có bất cứ quyền nào với khoảng không đó khi chưa xin phép Nhà nước và vào thời điểm ký kết bản thỏa thuận đó ông Hiển cũng chưa được Nhà nước cấp phép xây dựng Điều này đồng nghĩa với việc, thỏa thuận giữa hai người là vô hiệu ngay từ đầu vì vi phạm điều cấm của luật theo Điều 128 BLDS 2005, điều cấm ở đây là đã thỏa thuận về khoảng không phía trên diện tích đất nhà ông Hiển khi chưa có sự cấp phép của Nhà nước
Do đó, lý do tòa án nhân dân quận TH đưa ra để hủy bản thỏa thuận là chưa thỏa đáng vì như đã giải thích ở trên là ông Hiển vào thời điểm đó chưa có sự cấp phép của Nhà nước về quyền sử dụng khoảng không trong khuôn viên đất của mình nên ông Hiển không có quyền đó Chính vì thế, thỏa thuận này không hạn chế quyền sử dụng khoảng không giữa ông Hiển và ông Thành vì cả hai ông đều không có quyền đó Và bản thỏa thuận trên là không đúng pháp luật, vô hiệu ngay khi ký kết
Theo khoản 2 Điều 137 về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu:
“Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường” Như vậy, tòa án nhân dân quận TH đã làm đúng khi đưa ra phán quyết hủy bản thỏa thuận trên và buộc ông Hiển phải trả lại cho ông Thành số tiền 2,5 tỷ đồng
Quan điểm của nhóm về phán quyết trong bản án phúc thẩm của tòa án nhân dân thành phố H:
Nhóm chưa đồng tình về phán quyết trong bản án phúc thẩm của tòa án nhân dân thành phố H vì tòa chưa đưa ra được căn cứ để dẫn đến hậu quả pháp lý mà tòa đã quyết định là hủy bản thỏa thuận năm 2006 giữa ông
Trang 9Thành và ông Hiển, buộc ông Hiển phải trả cho ông Thành 2,5 tỷ đồng đã nhận và phải trả lãi theo lãi suất cơ bản do ngân hàng Nhà nước quy định
từ thời điểm nhận tiền đến thời điểm xét xử sơ thẩm
Theo quan điểm của nhóm, tòa phúc thẩm tuyên thêm ông Hiển phải trả lãi cho ông Thành theo lãi suất cơ bản là không hợp lý vì tại thời điểm giao kết thỏa thuận hai bên không có đề cập đến vấn đề lãi suất Cộng thêm bản thỏa thuận đã vô hiệu ngay tại thời điểm ký kết như lý do đã nêu trên, do đó không thể phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên Có thể thấy ông Thành không có nghĩa vụ phải trả thêm phần lãi suất cho ông Hiển như phán quyết của tòa phúc thẩm thành phố H
Câu 2: Giả sử vụ án trên diễn ra tại thời điểm BLDS năm 2015 đã có hiệu lực, hãy cho biết quan điểm giải quyết của nhóm đối với vụ án trên theo quy điểm của BLDS năm 2015?
Quyền bề mặt là một khái niệm mới, được quy định lần đầu tiên tại BLDS năm 2015, nhưng đã rất quen thuộc trên thế giới, được quy định từ rất lâu trong Luật La Mã Ở Luật La Mã, các quyền đối vật (vật quyền) bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sở hữu, quyền địa dịch, quyền dụng ích cá nhân, quyền bề mặt và quyền cầm cố Quyền bề mặt có hai dạng đặc biệt là: quyền của người thuê trường kỳ đất canh tác và quyền xây dựng các công trình trên đất của người khác1 Các vật quyền này được chia thành hai loại: vật quyền chính yếu và vật quyền phụ thuộc Trong đó, quyền bề mặt là vật quyền phụ thuộc, là vật quyền được xác lập đối với tài sản của người khác, là quyền của chủ thể không phải là chủ sở hữu của tài sản nhưng có quyền sử dụng và hưởng những lợi ích mà tài sản đó đem lại Vật quyền phụ phải phát sinh trên cơ sở vật quyền chính (vật quyền chính luôn có trước), tác động hạn chế lên vật, không xâm phạm lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu vật, nên vật quyền phụ còn được gọi là vật quyền hạn chế Quyền bề mặt được pháp luật các quốc gia quy định là vật quyền phụ thuộc hay vật quyền hạn chế Theo cách hiểu ban đầu thì “quyền bề mặt” là quyền sử
1 Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình luật La Mã, NXB.Công an nhân dân, Hà Nội.
Trang 10dụng bề mặt đất để tạo lập các tài sản gắn liền với đất và một người có thể có quyền bề mặt bằng cách thỏa thuận với chủ sở hữu đất cho phép xây dựng công trình trên đó, bằng cách như vậy, người đó có được quyền bề mặt Họ phải thanh toán một chi phí hợp lý cho chủ đất theo thỏa thuận, đó là tiền thuê đất Ngày nay với nhu cầu ngày càng cao của con người, quyền bề mặt không còn
bó hẹp trên bề mặt đất nguyên nhân là do sự mở rộng mục đích sử dụng của người sử dụng đất Đó là việc không những tạo những công trình trên đất mà còn là tài sản gắn liền với đất Hơn thế nữa nó còn mở rộng phạm vi lên đến phần không gian phía trên đất và phần không gian dưới lòng đất Đây cũng là quyền bề mặt được pháp luật Việt Nam quy định trong BLDS năm 2015 Quyền
bề mặt được quy định một cách cụ thể tại Điều 267
Điều 267 BLDS năm 2015 - Quyền bề mặt quy định:
“Quyền bề mặt là quyền của một chủ thể đối với mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất mà quyền sử dụng đất đó thuộc
về chủ thể khác.”
Điều 268 BLDS năm 2015 - Căn cứ xác lập quyền bề mặt quy định:
“Quyền bề mặt được xác lập theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc theo di chúc.”
Điều 269 BLDS năm 2015 - Hiệu lực của quyền bề mặt quy định
“Quyền bề mặt có hiệu lực từ thời điểm chủ thể có quyền sử dụng đất chuyển giao mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất cho chủ thể có quyền bề mặt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác
Quyền bề mặt có hiệu lực đối với mọi cá nhân, pháp nhân, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.”
Đối với BLDS năm 2015, khi nhà nước trao cho họ quyền sử dụng thì cũng
đã đồng thời trao cho họ các quyền khác liên quan đến tài sản mà cụ thể ở đây
là đất đai trong đó có quyền bề mặt Chủ sử dụng đất có quyền trao cho cá nhân hoặc pháp nhân theo thỏa thuận hai bên đã ký kết trong hợp đồng hoặc chủ thể