ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG NGOẠI NGỮ TIỂU LUẬN Học phần: TÂM LÝ DẠY HỌC NGOẠI NGỮ Tên tiểu luận: Chủ Đề 1: Phân tích những nét riêng về sự phát triển thể chất, tâm lý của các lứa tuổi học
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG NGOẠI NGỮ
TIỂU LUẬN
Học phần: TÂM LÝ DẠY HỌC NGOẠI NGỮ
Tên tiểu luận: Chủ Đề 1: Phân tích những nét riêng về sự phát triển thể chất, tâm lý của các lứa tuổi học sịnh và đưa ra nhận xét khái quát Từ những đặc điểm về sự phát triển trí tuệ
(cảm giác, tri trác, tư duy, tưởng tượng, trí nhớ…) của học sinh Anh/Chị sẽ vận dụng trong quá trình dạy học ngoại ngữ cho học sinh các giai đoạn lứa tuổi như thế nào?
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2021
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG NGOẠI NGỮ
TIỂU LUẬN
Học phần: TÂM LÝ DẠY HỌC NGOẠI NGỮ
Tên tiểu luận: Chủ Đề 1: Phân tích những nét riêng về sự phát triển thể chất, tâm lý của các lứa tuổi học sịnh và đưa ra nhận xét khái quát Từ những đặc điểm về sự phát triển trí tuệ
(cảm giác, tri trác, tư duy, tưởng tượng, trí nhớ…) của học sinh Anh/Chị sẽ vận dụng trong quá trình dạy học ngoại ngữ cho học sinh các giai đoạn lứa tuổi như thế nào?
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2021
Trang 3KẾT QUẢ CHẤM TIỂU LUẬN
Điểm
Nhận xét của CB chấm 1 CB chấm 1
(Ký, ghi rõ họ tên)
Bằng số Bằng chữ
Điểm
Nhận xét của CB chấm 2 CB chấm 2
(Ký, ghi rõ họ tên)
Bằng số Bằng chữ
LỜI CẢM ƠN
Trang 4Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường Ngoại Ngữ - Đại học Thái Nguyên đã đưa môn học Tâm lý dạy học Ngoại ngữ vào trương trình giảng dạy Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn - đã dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian học tập vừa qua dạy và em xin cảm ơn ban giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất, hệ thống trang thiết bị cho việc học tập nhất là trong thời gian đại dịch Covid 19 diễn ra Trong thời gian tham gia lớp phần môn Tâm lí dạy học Ngoaị ngữ của cô, em đã có thêm cho mình nhiều kiến thức bổ ích, tinh thần học tập hiệu quả, nghiêm túc Đây chắc chắn sẽ
là những kiến thức quý báu, là hành trang để em có thể vững bước sau này
Bộ môn Tâm lí dạy học ngoại ngữ là môn học thú vị, vô cùng bổ ích và có tính thực tế cao Đảm bảo cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu thực tiễn của sinh viên Tuy nhiên, do vốn kiến thức còn nhiều hạn chế và khả năng tiếp thu thực tế còn nhiều bỡ ngỡ Mặc dù em đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn bài tiểu luận khó có thể tránh khỏi những thiếu sót và nhiều chỗ còn chưa chính xác, kính mong cô xem xét và góp ý
để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn
Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng do kiến thức và thời gian nghiên cứu có hạn nên bài tiểu luận của em không tránh khỏi những sai sót Do đó, một lần nữa em rất mong nhận được sự góp ý của các Thầy/ cô để em có điều kiện hoàn thiện hơn kiến thức của mình
Trang 5MỤC LỤC Trang
A Lời mở đầu
B Nội dung chính:
I Sự phát triển thể chất, tâm lý của các lứa tuổi học sinh
1 Tâm lý của lứa tuổi học sinh tiểu học
1.1 Vị trí, ý nghĩa của lứa tuổi học sinh tiểu học
1.2 Những yếu tố của sự hình thành và phát triển tâm lý của học sinh tiểu học
2 Tâm lý của lứa tuổi học sinh THCS
2.1 Vị trí, ý nghĩa của thời kỳ phát triển tâm lý ở lứa tuổi học sinh THCS
2.3 Những đặc điểm về hoạt động của học sinh THCS
2.4 Những đặc điểm về sự hình thành và phát triển tâm lý của học sinh THCS
2.5 Những nét nhân cách nổi bật của học sinh THCS
3 Tâm lý của lứa tuổi học sinh THPT
3.1 Vị trí, ý nghĩa của lứa tuổi học sinh trung học phổ thông
3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của học sinh THPT
3.3 Những đặc điểm tâm lý của thanh niên học sinh THPT
II Nhận Xét
III Vận dụng trong quá trình dạy học ngoại ngữ trong quá trình dạy học Ngoại ngữ
cho học sinh
C Kết luận.
Trang 6Chủ đề 1: Phân tích những nét riêng về sự phát triển thể chất, tâm lý của các lứa tuổi
học sịnh và đưa ra nhận xét khái quát Từ những đặc điểm về sự phát triển trí tuệ (cảm giác, tri trác, tư duy, tưởng tượng, trí nhớ…) của học sinh Anh/Chị sẽ vận dụng trong
quá trình dạy học ngoại ngữ cho học sinh các giai đoạn lứa tuổi như thế nào?
A Lời mở đầu.
Trong lịch sử các khoa học về con người, Tâm lý học trở thành một khoa học độc lập,
tách ra khỏi Triết học từ năm 1879 của thế kỉ XIX Cũng từ đó Tâm lý dạy học lứa tuổi đời gắn liền với sự thâm nhập của các tư tưởng di truyền học vào khoa học tâm lí học lứa tuổi, trong đó có vấn đề nguồn gốc phát triển tâm lí con người, các quy luật, các con đường, các điều kiện và động lực của sự phát triển tâm lý, vai trò của dạy học và giáo dục đối với sự hình thành và phát triển tâm lí con người Cùng với học thuyết tiến hoá, những thành tựu trong việc nghiên cứu hoạt động phản xạ của con người do I M Xêtrênôv tiến hành đã khẳng định mối quan hệ qua lại giữa các hiện tượng sinh lí và tâm lý, chỉ ra sự phát triển tâm lí của trẻ em gắn liền với cơ sở sinh lí thần kinh và não bộ con người
Tâm lý học lứa tuổi là một chuyên ngành của tâm lý học Tâm lý học lứa tuổi nghiên cứu quy luật và động lực phát triển tâm lý của con người theo các lứa tuổi khác nhau
và xem xét quá trình con người trở thành nhân cách như thế nào Nghiên cứu quá trình tâm lý, trạng thái tâm lý, thuộc tính tâm lý ở các lứa tuổi khác nhau và sự khác biệt của chúng ở mỗi cá nhân trong cùng một lứa tuổi Nghiên cứu các dạng hoạt động (vui chơi, học tập, lao động ) khác nhau và vai trò của chúng với sự phát triển tâm lý của cá nhân Qua đó nêu lên nguyên nhân động lực của sự phát triển tâm lý cùng với những đặc trưng tâm lý qua các giai đoạn phát triển của từng lứa tuổi Ngoài ra, tâm lý học lứa tuổi chia thành những chuyên ngành hẹp để nghiên cứu sâu về từng lứa tuổi Cùng với những thành tựu đó, các công trình nghiên cứu dựa trên sự tích lũy và tổng kết kinh nghiệm của những quan sát sự phát triển tâm lí trẻ em và tâm lí quá trình dạy học giáo dục trẻ đã đặt cơ sở thực tiễn cho Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm lúc bấy giờ Những nghiên cứu thực nghiệm lúc này cũng bắt đầu thâm nhập vào Tâm
lí học sư phạm và Tâm lí học trẻ em Những kết quả nghiên cứu thực nghiệm trong Tâm lí học đại cương như: "quy luật tâm lý" của Weber và Feisner, nghiên cứu
về trí nhớ của Ebbinhauz, nghiên cứu về cảm giác và vận động trong tâm sinh
lí học của W.Wundt v.v cho phép hi vọng vận dụng thực nghiệm vào Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm Các quan điểm đúng đắn của N K Crupxcaia, A.X.Macarencô đã đặt cơ sở cho việc nghiên cứu các vấn đề hình thành phát triển nhân cách trẻ em trong giáo dục và trong hoạt động tập thể A X Macarencô đã khẳng định: "Nhà giáo dục hiểu biết học sinh không phải trong quá trình nghiên cứu học sinh một cách thờ ơ mà trong chính quá trình cùng làm việc với học sinh và trong chính
Trang 7sự giúp đỡ học sinh một cách tích cực Nhà giáo dục phải xem xét học sinh không phải như là đối tượng nghiên cứu, mà là đối tượng giáo dục”
B Nội dung chính
I Sự phát triển thể chất, tâm lý của các lứa tuổi học sinh.
1 Tâm lý của lứa tuổi học sinh Tiểu học.
1.1 Vị trí, ý nghĩa của lứa tuổi học sinh tiểu học
Lứa tuổi học sinh tiểu học bao gồm những em có độ tuổi từ 6 tuổi đến 11-12 tuổi
Đó là những học sinh đang học lớp 1 đến lớp 5 nhà trường tiểu học Lứa tuổi này có tên là lứa tuổi nhi đồng, là lứa tuổi hoa, là lứa tuổi đầu tiên của tuổi đi học Chính vì vậy, tuổi nhi đồng được coi là nền móng cho các giai đoạn của lứa tuổi tiếp theo Lứa tuổi này có vị trí đặc biệt quan trọng đó là giai đoạn mở đầu của cả một thời kì phát triển rất quan trọng đối với trẻ em: đó là thời kì tuổi đi học Ở lứa tuổi này trẻ bắt đầu hình thành những cấu trúc tâm lý mới làm nền tảng cho sự phát triển tâm lý và nhân cách ở lứa tuổi tiếp theo
1.2 Những yếu tố của sự hình thành và phát triển tâm lý của học sinh tiểu học
a) Những đặc điểm về sự phát triển thể chất
- Ở lứa tuổi này sự phát triển về chiều cao và cân nặng chậm hơn so với thời kì mẫu giáo.Theo tài liệu của viện dịch tễ nếu được nuôi dưỡng tốt thì hàng năm các em cao trung bình từ 2-5cm và nặng thêm 2 kg
- Hệ xương
- Hệ cơ
- Não và hệ thần kinh: có nhiều biến đổi lớn so với tuổi mẫu giáo
Tóm lại: sự phát triển thể chất của học sinh tiểu học đủ điều kiện cho các em có thể lĩnh hội được các tri thức phù hợp với độ tuổi để hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách
b) Những đặc điểm về hoạt động của học sinh tiểu học
- Sự thay đổi về hoạt động chủ đạo
- Những khó khăn của trẻ đầu câp 1:
+ Khó khăn thứ nhất: hoạt động học tập có nhiều mới mẻ được thể hiện ở chỗ: nội dung hết sức phong phú và mục đích học tập rõ ràng Các môn học được sắp xếp theo
Trang 8một chương trình có hệ thống giúp cho các em hình thành và phát triển trí tuệ.
+ Khó khăn thứ hai: Tính chất quan hệ qua lại giữa giáo viên và đứa trẻ, giữa trẻ
với trẻ, giữa trẻ với gia đình cũng có nhiều thay đổi
+ Khó khăn thứ ba: do trẻ chỉ hứng thú với đặc điểm bên ngoài của quá trình học tập nên hứng thú đó dễ mất đi cho nên cần phải làm cho trẻ hứng thú với chính quá trình học tập và sự hấp dẫn của chính quá trình học tập
Tóm lại hoàn cảnh sống có tính chất đặc biệt của học sinh tiểu học với hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo đã trở thành cơ sở vững chắc, là nền tảng cho sự hình
thành và phát triển tâm lý, nhân cách của học sinh tiểu học
c) Những đặc điểm tâm lý nhân cách
* Đặc điểm về hoạt động nhận thức
Hầu hết học sinh tiểu học đều sớm hình thành nhu cầu và khả năng nhận thức thế giới: mức độ, tính chất và phạm vi của hoạt động nhận thức của các em được bộc lộ ở
những mặt sau đây:
- Về cảm giác: Trong hoạt động học tập, vui chơi và lao động, các quá trình cảm giác
về hiện thực bên ngoài đã có sự phát triển khá nhanh
- Về tri giác: Phát triển khá nhanh đặc biệt những tri giác những thuộc tính bên ngoài
của sự vật hiện tượng Tri giác không chủ định chiếm ưu thế
- Về ghi nhớ: Cả hai loại ghi nhớ đều phát triển Ở đầu độ tuổi các em thiên về ghi nhớ
trực quan hình ảnh, ghi nhớ máy móc và học thuộc lòng
- Về chú ý: Chú ý không chủ định chiếm ưu thế, chú ý có chủ định đang phát triển
Khối lượng chú ý còn ít, sức tập trung chú ý chưa cao nhưng sự di chuyển chú ý khá nhanh
- Về tưởng tượng: Rất phát triển tuy nhiên vẫn còn tản mạn, ít có tổ chức.
- Về tư duy: Ở đầu độ tuổi hình thức tư duy chủ yếu là tư duy trực quan, tư duy
cụ thể Sau đó, càng về cuối độ tuổi chuyển sang tư duy hình tượng, tư duy trừu
tượng
+ Về ngôn ngữ: Phát triển nhanh chóng cả về số lượng lẫn chất lượng Các em biết
đọc, biết viết đúng ngữ pháp Các em biết lựa chọn từ để diễn đạt ý của mình Ngôn
Trang 9ngữ nói và ngôn ngữ viết của học sinh tiểu học có sự thay đổi lớn về chất lượng Điều
đó đã có tác dụng lớn đối với sự hình thành và phát triển tâm lý và nhân cách của học sinh tiểu học
* Những đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học
Đời sống tình cảm của học sinh tiểu học
So với tuổi mẫu giáo thì đời sống tình cảm ở lứa tuổi mẫu giáo phong phú, đa dạng
và ổn định hơn Ở độ tuổi này đời sống tình cảm đã trở thành vấn đề cơ bản và nổi bật nhất trong toàn bộ tâm lý của các em Tình cảm là mặt nhân lõi quan trọng trong đời sống tâm lý và nhân cách của học sinh tiểu học
- Đặc điểm bao trùm nhất trong đời sống tình cảm của học sinh tiểu học là rất giàu cảm xúc và sống bằng cảm xúc Đây là tuổi dễ khóc, dễ cười: “Ròn cười, tươi khóc” Càng về cuối độ tuổi thì khả năng tự kiềm chế của các em càng cao hơn
- Nhìn chung tình cảm của học sinh tiểu học nhiều khi còn biểu hiện mức độ chưa bền vững Các em hay thay đổi tâm trạng, dễ xúc động; các mức độ và các loại cảm xúc biểu hiện nhanh, dễ thay đổi, dễ vui mừng và dễ lo sợ
- Sự nảy sinh xúc cảm và tình cảm của học sinh tiểu học thường gắn liền với những tình huống cụ thể trong hoạt động của các em Ở độ tuổi này các loại tình cảm cao cấp đang được hình thành và phát triển đặc biệt là tình cảm đạo đức và tình cảm trí tuệ
- Học sinh tiểu học rất thích đọc truyện, đặc biệt là những truyện khoa học, văn
nghệ có tính chất li kì
- Tình bạn ở lứa tuổi này đang được hình thành phát triển mạnh Có thể nói tình
bạn ở lứa tuổi này chiếm một ưu thế rất lớn trong đời sống tâm lý của các em
.*Những đặc điểm về ý chí và tính cách của học sinh tiểu học.
- Những phẩm chất ý chí và tính cách của học sinh tiểu học đang hình thành và phát triển nhưng chưa ổn định Đặc điểm nổi bật của ý chí là tính độc lập phát triển chưa cao, các em thường phải dựa vào ý kiến của người lớn trong gia đình và thầy cô giáo Học sinh tiểu học hình thành năng lực tự chủ nhưng còn yếu Ở các em tính tự phát còn nhiều
- Các em hay dao động giữa cái đúng và cái sai dễ vi phạm kỉ luật
Trang 10- Về tính cách: Học sinh tiểu học rất hiếu động và hay bắt chước Ở nhiều em thể hiện rất rõ tính thật thà và dũng cảm
*Những đặc điểm về hứng thú và ước mơ của học sinh tiểu học.
Hứng thú và ước mơ của học sinh tiểu học đang phát triển Các em hứng thú với nhiều lĩnh vực Tuy nhiên hứng thú của các em ít bền vững, dễ thay đổi Về cuối độ tuổi, hứng thú học tập đã dần thay thế cho hứng thú vui chơi của các em
2 Tâm lí của lứa tuổi học sinh THCS.
2.1 Vị trí, ý nghĩa của thời kỳ phát triển tâm lý ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở
- Tuổi thiếu niên là giai đoạn phát triển từ 11,12 tuổi đến 14, 15 tuổi, các em được vào học từ lớp 6 đến lớp 9 ở trường THCS
- Đây là lứa tuổi chuyển tiếp, là lứa tuổi bắc cầu từ trẻ em sang người lớn Điều đó được biểu hiện ở sự phát triển mạnh mẽ, thiếu cân đối về cơ thể, ở dự phát dục và việc xây dựng lại một cách cơ bản các quá trình, các hoạt động tâm lý ở các em và sự phát triển mạnh mẽ của nhu cầu tự ý thức
2.2 Những điều kiện phát triển tâm lý của lứa tuổi học sinh THCS
a Sự phát triển về thể chất (hay là sự biến đổi về mặt giải phẫu sinh lý)
* Thể chất của lứa tuổi học sinh THCS về thể chất phát triển mạnh mẽ nhưng không cân đối, chứa nhiều mâu thuẫn.
- Thể chất của lứa tuổi này có những biến đổi rất cơ bản thể hiện:
+ Về chiều cao: Có sự phát triển đột biến Trung bình một năm các em cao lên được 5
- 6 cm
+ Về hệ xương: Đang phát triển và tiếp tục được cốt hóa; xương tay, xương chân phát triển rất nhanh nhưng xương ngón tay, ngón chân lại phát triển chậm
+ Hệ cơ phát triển chậm nên các em tỏ ra lóng ngóng, vụng về khi làm việc
+ Hệ tim mạch: Phát triển không cân đối
- Hệ thần kinh: đang tiếp tục phát triển và hoàn thiện Chức năng của não có sự thay đổi đáng kể về chất Sự hình thành những vùng chuyên biệt của người trên vỏ não ở các em diễn ra khá nhanh chóng đặc biệt là thùy trán, thái dương đỉnh… Ở lứa tuổi này quá trình hưng phấn chiếm ưu thế rõ rệt có tính chất lan tỏa Vì vậy nhiều khi học
Trang 11sinh THCS không làm chủ được cảm xúc của mình, dễ xúc động, dễ nổi cáu hoặc có những hành vi xấu không đúng với bản chất của các em
* Sự phát dục - tuổi dậy thì là một chức năng sinh lý hoàn toàn mới.
- Tuổi dậy thì của các em nữ khoảng 13,14 tuổi còn các em nam khoảng 15,16 tuổi
“Gái thập tam, nam thập lục”
- Biểu hiện bên ngoài của sự chín muồi của các cơ quan sinh dục ở các em trai là sự xuất tinh, ở các em gái là hiện tượng kinh nguyệt
- Thời kì phát dục sớm hay muộn phụ thuộc vào vào nhiều yếu tố: yếu tố dân tộc, yếu
tố khí hậu, chế độ sinh hoạt và sức khỏe cá nhân Hiện nay do điều kiện phát triển xã hội có nhiều thay đổi nên có sự gia tốc phát triển về thể chất và sự phát dục
- Sự phát dục này đã làm nảy sinh ở lứa tuổi học sinh THCS nhiều hiện tượng tâm lý mới đó là cảm giác về tính người lớn, những cảm xúc và ý nghĩ mới mẻ , kích thích sự phát triển mối quan tâm tới người khác giới…
2.3 Những đặc điểm về hoạt động của học sinh THCS
a) Hoạt động ở nhà trường THCS
Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi HS nhưng đến tuổi Hs THCS hoạt động học tập có sự thay đổi cơ bản Các môn học được phân hóa rõ rệt Học sinh THCS được tiếp xúc với nhiều thầy cô giáo khác nhau Điều đó, ảnh hưởng quan trọng đến việc tổ chức quá trình tự học của các em : Đọc lập lĩnh hội kiến thức mới, đọc thêm sách tham khảo…Hoạt động học tập dần dần hướng vào việc thỏa mãn nhu cầu nhận thức Điều phải thừa nhận là động cơ học tập của học sinh THCS rất phong phú,
đa dạng, trong đó những động cơ mang ý nghĩa xã hội dần dần được phát triển (học để phục vụ xã hội, để có tri thức, để giành một vị trí xứng đáng trong xã hội…)
- Thái độ đối với học tập của học sinh THCS cũng thay đổi Các em tự ý thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của học tập nhưng thái độ biểu hiện rất khác nhau.VD:
nhiều em có thái độ tích cực, có năng lực tự quản nhưng một số em lại tỏ ra lười biếng, thờ ơ, thiếu trách nhiệm
- Về mức độ lĩnh hội tri thức: Một số em đạt tới mức phát triển cao và có sự ham hiểu
biết nhiều lĩnh vực tri thức khác nhau nhưng ở một số em khác thì mức độ phát triển yếu, tầm hiểu biết tỏ ra hạn chế
- Về phương thức lĩnh hội tài liệu học tập: ở những em tích cực học tập, kỹ năng học
tập độc lập được hình thành, phương thức lĩnh hội tài liệu học tập trở nên phong phú,