Nối tiếp phần 1, phần 2 của tài liệu Văn hóa Hàn Quốc tiếp tục trình bày các nội dung: Ngôn ngữ và văn tự Hàn Quốc; Nghệ thuật và nghề thủ công; Những nhân vật lịch sử của Hàn Quốc; Những di tích và danh thắng nổi tiếng ở Hàn Quốc; Các tập đoàn kinh tế lớn của Hàn Quốc có quan hệ với Việt Nam;... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.
Trang 1NGON NGU VA VAN TU
e Chi viét Hangeul va tiéng Han
Bang, cha cai Hangeu/ bao gém 24 chữ cái: 14 phụ âm và 10 nguyên âm Tiếp đó, một số chữ cái lại được kết hợp để tạo thành những âm vị phụ âm hoặc nguyên âm đôi và kết quả là số lượng,
những âm vị có thể hành chức lên tới 40: 19 phụ âm và 21 nguyên
am
Hangeul la mot bang, cht cái chính xác và khoa học nhưng nó
có tất cả những đặc điểm của bảng ký hiệu âm tiết Những chữ cái luôn luôn được sắp xếp thành những, khối âm tiết Điều này làm cho nó có thể được viết theo thứ tự từ trên xuống, dưới hoặc từ trái sang, phải và không hề có một cách viết nào khác nữa - Đó là điểu thuận lợi cho những, người học tiếng Thuận lợi khác nữa là chữ viết Ƒlangeu! và những chữ viết Trung Quốc (vẫn được sử dụng,
Trang 2254 TRA CUU VAN HOA HAN QUO! IC
Thay cho sự tiến hoá, bảng chữ cái này do một nhóm những, học giả sáng tạo với tất cả tâm huyết của họ dưới sự giao phó của vua Sejong vào năm 1443 để tạo ra một hệ thống cha viet ma no cd thể cho phép tất cả người Triều Tiên ở mọi tầng lớp sử dụng Cho đến khi /Z2ngeu/ được phát minh thì người Triểu Tiên vẫn phải dùng chữ Trung Quốc, lúc thì dùng, để biểu đạt nghĩa, lúc thì đùng,
để biểu đạt âm
Bảng chữ cái mà các học giá đã phát minh gồm 28 chữ cái: 17 phụ âm và 11 nguyên âm, nhưng theo thời gian thì 3 phụ âm và một nguyên âm đã bị rơi rụng đi trong quá trình sử dụng Nó được vua Sejong, truyền bá rộng rãi dưới một cải tên là /#unmzn Cheongum (nghĩa là những âm chính xác) vào năm 1446 Tuy nhiên, giới trí thức chống đối lại việc sử dụng /#Jangeu/ như một ngôn ngữ quốc gia và vẫn tiếp tục dùng chữ Hán Cho đến những, năm cuối thế ki XIX, khi mà thanh thế của /2ngeu/tăng lên thì nó mới thực sự được coi như một ngôn ngữ quốc gia
Ngày nay, có 65 triệu người nói tiếng Hàn sống trên bán đảo
Hàn và các hòn đảo ở xa, không, kể 5,5 triệu người sống, ở nhiều
nơi khác trên thế giới sử dụng chữ viết Hangeul Việc tất cả mọi người Hân nói và viết cùng, một thứ tiếng là một nhân tố quan trọng trong, bản sắc dân tộc mạnh mẽ của họ Tiếng Hàn hiện đại gồm nhiều phương ngữ khác nhau kể cả tiếng địa phương chuẩn ở
Seoul và các khu vực trung, tâm, nhưng những tiếng địa phương, nảy giống nhau tới mức những người nói ở các địa phương khác nhau có thể hiểu nhau mà không có khó khăn gì Những công
Trang 3Ngôn ngữ và văn tực - 255
Cũng; như tiếng Nhật, tiếng Hàn bao gồm một vốn từ vựng, phong, phú mượn từ tiếng Hán giỏng như nhiều ngôn ngữ châu Âu bao
gồm một số lớn các từ mượn từ tiếng, La Tỉnh và Hy Lạp
«- Bộ biên niên sử của triểu đại Choson
(Choson wangyo sillok)
Bộ biên niên sử của triểu đại Choson gồm 1.893 bản, là một bộ
sử ký theo thứ tự cập nhật các sự kiện kéo đài trong, 472 năm
(4292-1863) va bao trim 25 triểu vua thời kỳ Choson, từ vua Taejo
(1392-1398), vị vua sáng lập ra triểu đại, đến vua Chol Cheong (1849-1963), vị vua cuối cùng Bộ sách bao gồm mọi vấn đề chính
ini, bang giao, xa hội, kinh tế, học thuật, tôn giáo, thiên văn, địa lí,
âm nhạc, các sự kiện khoa học, các hiện tượng thiên văn cũng như
mô tả các mối bang giao với khu vực Đông Bắc Á Nó là bộ sử ký
dai va lién tục nhất thế giới Việc lưu trừ công, trình này là một việc
làm công, phu chưa từng, có từ trước đến nay Công lao to lớn đó thuộc về các vị vua thời Choson Họ đã áp dụng những biện pháp
rất đặc biệt để giữ cho bộ sử ký được an toàn, nguyên vẹn Bốn bộ
được ín sao theo kiểu in kim loại đi động Để tránh bị hư hại đo
thiên tai hoặc các rủi ro khác, một bộ được lưu giữ tại văn phòng, sưu tập các bộ biên niên sử ở Seoul và các bộ khác được giữ ở những kho lưu trừ đặc biệt tại một vải ngọn núi heo hút
Trong, suốt cuộc xâm lược của Hideyoshi (1592-1598) và của
Mãn Châu (vào năm 1627 và 1636), các kho lưu trữ ở Seoul bị đốt sạch, nhưng, cứ mỗi lần như vậy, phân mất lại được in lại ngay
Vào thế kỉ 20, bốn kho giữ các văn bản ấy là ở trên các núi
Trang 4256
Cheongjoksan, Taebaeksan, Choksongsan va Odaesan Nhiéu ban sao khác đã bị đốt hoặc thất lạc trong thời kỳ thực đân Nhật (1910- 1945) và cuộc chiến tranh Cao Ly (1950-1953) Hiện tại, người ta nói rằng, bản sao tại Choksongsan được lưu giữ ở trường đại học Kim II Sung ở Bắc Hàn và bao gồm.1.181 quyển, còn 27 quyển của bản sao Odaesan và 21 phần rời rạc hiện đang được lưu giữ tại thư viện Hoàng gia tại trường đại học Seoul Toàn bộ 2.077 quyển đồng thời được công nhận là bảo vật quốc gia số 151
s _ Hệ thống chữ viết
Trong hệ thống chữ viết, người Hàn sử dụng cả chữ viết Hangeul lẫn những cái Trung Quốc - chữ mà người ta vấn gọi là Hanja trong, tiếng Hàn Chữ cái Trung Quốc thường được dùng lẫn lộn với chữ cái (từ) Hàn với mục đích để cho ngắn gọn và đễ hiểu Có khoảng, 1800 từ Trung Quốc được đưa vào sử dụng trong trường, phổ thông nhằm trang, bị cho người ta một vốn từ thiết yếu
để đọc sách, báo và tạp chí Tất nhiên, để trở thành chuyên gia về một chuyên ngành nảo đó thì cần phải có một vốn từ Trung Quốc rộng lớn hơn, phong, phú hơn về ngành đó Khả năng, sử dụng tiếng Trung Quốc một cách thành thạo được coi là uy thế, như là
sự biểu hiện của một tầm tri thức cao và rong
Mặc dù tiếng Trung Quốc và tiếng Hàn là hai ngôn ngữ rất khác nhau nhưng người Hàn đã dùng chit Trung Quốc để viết tư
xa xưa Có thể là, hệ thống chữ viết Trung Quốc đã du nhập vào bán đảo Hàn từ khoảng thế kỉ IV trước công nguyên nhưng, mãi
Trang 5chữ khác có tên là ldu để diễn đạt câu theo cú pháp tiếng Hàn
Cùng với thời gian, một hệ thống chữ viết phức tạp hơn lại được đưa vào sử dụng - đó là #yangcha/ Hệ thống chữ viết này biểu hiện những danh từ tiếng Hàn bằng những, từ có cùng nghĩa và những dae điểm ngữ pháp trong tiếng Trung, Quốc, thân động từ
và những, phụ tố của nó thì được thể hiện bằng những từ Trung, Quốc tu ỳ tiện với cách phát âm để đàng như ý muốn
Hệ thống chữ viết đơn sơ đó được sử dụng, cho đến tận khi người ta phát mình ra chữ viết Hangeul vao thé ki 15 Hangeu/ la một loại chữ ghi âm, rất khoa học và người ta có thể học phát âm một cách thuận lợi, dé đảng, ngay cả những, từ tiếng Trung Quốc được ghủ âm bằng chữ ZZ2ngeø/ thì cũng có thé dé dang ‘phat am
một cacÌh chính xác
Tiếng Hàn có hai cách viết: từ trên xuống, dưới và từ trái sang, phải Từ trên xuống dưới là lối viết truyền thống Với cách viết
này, người ta bắt đầu viết từ phía trên, bên phải của từng trang
dần dẫn: sang bên trái.
Trang 6258 TRA CUU VAN HOA HAN QUOC
e Hunmin Cheong-um
Từ Hunmin Cheong-um c6 nghia la “Chính âm để tỷ dân" nhưng cũng có những người dịch là tương âm chính xác” Đầy là một tên gốc của bộ chữ cái tiếng Hàn, sau đó được đổi tên lại là Hangeul (nghĩa là những mẫu tự vĩ đại) vào thế kỉ 20 Nó là tựa để
của một cuốn sách giải thích cách sử đụng bộ chữ cái này và được
xuất bản khi bộ chữ cái được truyền bá (ngày 10 tháng 9 âm lịch năm 1449) và cũng là tựa để chương chính của quyển sách
Hệ thống chữ viết này được sáng tạo vao triều vua thứ tư của
triểu đại Choson (1392-1910), vua Sejong, Đại Đế (trị vì từ nằm
1418-1450) Trước khi sáng tạo ra bộ chữ này, người Hàn đã sử dụng, Hán tự và điều này có nhiều nhược điểm vì hai ngôn ngử có cấu trúc khác nhau và phải mất nhiều năm học tập đến nỗi chỉ có giai cấp thượng lưu trí thức mới đủ khả năng đọc và việt Bối rối trước tình cảnh này, chính vua Sejong đã làm việc cùng, các học gia
ở Chiphyongjon (Điện của những học giả lối lạc hay Học viên Hoang gia) để rồi tự tạo nên một bộ ngữ âm phù hợp với văn tự
riêng, của tiếng Hàn Hoàn tất vào tháng, 12 âm lịch năm 1443, bộ
chữ cái gồm có 28 mẫu tự, 24 mẫu tự trong số đó đang được sử
dụng Bộ chữ này thường được thừa nhận ở nét độc đáo và tính khoa học Độc đáo ở chỗ nó là một mẫu tự duy nhất và lần đầu tiên do một người duy nhất sáng, tạo ra vào một thời điểm nhất định và không dựa vào một kiểu chữ nào được biết trước; khoa học ở chỗ nó dựa vào kiến thức về âm vị học và ngữ âm học Thêm vào đó, nó còn dựa vào những nguyên lí của triết học Tân Không, giáo
Trang 7Ngôy! ngữ vả văn tự 259
Khi bộ chữ cái được công, bố, vua Sejong, da viet mot ban giới thiệu giải thích rõ vì sao phải sáng tạo bộ chữ cái tiếng Hàn, Ông
cùng cho các học gia tại Học viên Hoàng gia viết một bản giới
thiệu tổng, quát với các ví dụ hướng, dẫn cách sử dụng, và xuất bản thành sách với tựa để “unmin Cheong-uni Kết quả là cách sử dụng bộ chữ cái tiếng Hàn được truyền bá rộng rãi đến mọi người dan Việc phát hành quyển sách là một sự kiện mang ý nghĩa nhân Văn to lớn trong lịch sử Hàn Quốc, và tải liệu này được lưu giữ đến ngày nay như một bảo vật quốc gia Ngày nay, nó đã được công, nhận là di sản văn hoá thế giới
e Hyangga
Là thuật ngữ được dùng, để gọi một thể loại thơ ca thời Shilla
(năm 57 trước CN đến năm 935 sau CN) và thời đầu Koryo (918 -
1932) được viết bằng tiếng Hàn /#/#wangga thay đổi theo độ dài, từ
4 đến 8 dòng hay 10 dòng
Hiện nay, chỉ còn 25 bài thơ Z#y2ngga còn tổÄ tại Hầu hết chúng thể hiện khuynh hướng, Phật giáo rất mạnh mẽ và những, điều bí ẩn của sự sống và cái chết
Từ /2angøa cũng được dùng một cách thoải mái như là một thuật ngữ chung bao gồm tất cả những thể loại thơ ca trữ tình của Triều Tiên ở thời Ba vương quốc và thời ky dau Koryo để làm cho chúng nổi bật và tách chúng, ra khỏi những hình thức thơ ca khác bằng tiếng Trung Quốc tồn tại cũng vào thời gian đó
Trang 8260 TRA CUU VAN HOA HÀN QUỐC
e Kasa
Là một kiểu loại ngôn ngữ sử dụng lối diễn tả dài đồng dưới hình thức thơ ca bằng cách kéo dài việc sử dụng những sư trùng hợp ngữ pháp Nổi bật lên trong suốt những năm cuối của thời Choson (1392 - 1910), Kasa trở thành thứ ngôn ngữ được ưa thích của những học giả Nho giáo và vươn tới đỉnh cao vào cuối thế
kỉ 16
Chủ đề được ưa thích của những người sử dụng, K2s¿ là sức hấp dẫn của những thú vui trần tục Những điều phổ biến khác thường là sự thất vọng trong, tình yêu, nỗi khổ cực của sư tha
ống nông dân, vẻ đẹp của thiên
hương, những điều thú vị của đời
nhiên, và những sự thích thú đối với đời sống với nhàn tan, an dat Phụ nữ ở những tầng lớp cao dùng Kasa để biểu hiện sự thất vọng
về cuộc sống phụ thuộc, thiếu tự đo của họ
s® _Samguk Sagi - Lịch sử của 3 vương quốc
Đây là cuốn lịch sử cổ nhất còn tổn tại đo một vị quan cao cấp trong triều đình là Kim Pu Shik sưu tầm và viết theo ý chỉ Hoàng
đế Tejong- người trị vì vương quốc Koryo vào thế kỉ thứ 11 Kir
Pu Shik viết "Samguk Sag7 dựa trên những nguồn tư liệu gốc của Triểu Tiên mà hiện không còn tồn tại nữa và có tham khảo cả những sử liệu Trung Quốc Cuốn sách nảy được viết đưới hình
thức biên niên sử bang việc phân chia lịch sử thành những, giai
đoạn, những tiểu sử hay những thỏa ước
Trang 9đã xay ra trong quá khứ xa xưa
¢ 5ampuk Yusa
Samguk Yusa là một bộ sưu tập của kho tàng trí thức Phật giác mà thường được coi như một tài liệu lịch sử vì tâm quan trong rat lớn của nĩ đối với nguồn tư liệu lịch sử Triều Tiên Cuốn sácÈ này đo một nhà sư tên là Iryon viết vào cuối thế kỉ 13 nhưng cho dén tận năm 1512 (tức đầu thế kỉ 16) nĩ mới được in ra Người
ta đi cĩ dự định kết hợp nĩ với Samguk Sà1 (lịch sử của 3 vương quơ:):
Tưa để của cuốn sách thực sự là việc dùng sai thuật ngữ, như
là một cuốn sách cĩ liên quan chủ yếu với vương, quốc Shilla, và cũng vượt xa khỏi ba vương quốc đến tân vương quốc Koryo của nhà sự Iyon lúc đĩ Đây khơng, phải là một việc làm chủ ý và cĩ hệ thống, nĩ là sản phẩm của Iryon trong những ngày nhàn rỗi Tuy nhiên, nĩ bao gồm những tên tuổi, những ngày tháng và những xác nhận đối với một số tài liệu gốc, trong đĩ cĩ Saznguk Sag7 mà hiệr vẫn đang tồn tại Nĩ là một tài liệu đặc biệt cĩ giá trị vì đã cưng cấp những hiểu biết về tín ngưỡng, thĩi quen cũng như cuộc
sơmg hàng ngày của người Hân ở thế kỉ 13.
Trang 10262 TRA CUU VAN HOA HAN QUOG
Cuốn sách bao gồm cả những truyén thuyết, những, câu chuyện không có thật liên quan đến việc sáng lập 3 vương, quốc Koguryo, Paekche và Shilla Trong, đó, có cả những câu chuyên về
sự ra đời của Phật giáo, chủ yếu là ở Shilla, và những câu chuyện
về cuộc sống cùng với những phép màu của những nhà sư nổi
tiếng, cả những câu chuyện về lòng hiếu thảo
Một nét đặc trưng cơ ban cua Samguk Yusa là nó đã mở đầu lịch sử Triểu Tiên với một người đàn ông than thanh - Tangun -
Vào thời điểm mà cuốn sách được viết ra, người Triểu Tiên đang,
đắm chìm dưới ach thống, trị của phong kiến Mongol, cho nên đó
cũng có thể chính là sự ao ước của Iryon cho dân tộc mình có được một sự tự ý thức cao hơn bằng, cách cho rằng, tổ tiên của họ là sư nối đõi trực tiếp của chúa Trời
5s Shijo
Shjjo là một hình thức thơ truyền thống có 3 dòng, môi dòng cấu tạo bởi 4 khoảng có nhịp điệu bằng chỗ tạm dừng ngắn khi đọc ở cuối khoảng thứ hai và điểm đừng chính ở cuối khoảng thứ
tư Dòng đầu tiên giới thiệu chủ đề, dòng thứ hai phát triển chủ dé
đó, dòng thứ ba đi đến kết luận
Sự kết hợp lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau giữa âm thanh, nhịp điệu và ý nghĩa là đặc điểm cốt lõi của Shữo và là nét cơ bản trong cấu trúc của thể loại thơ này
Shÿo xuất hiện vào thời kỳ Koryo (918 - 1392) và phát triển cao hơn trong suốt thời kỳ Choson (1392 - 1910) trở thành một thé
Trang 11Naén ngitva van tu 263
loa của văn học bản xứ Nó đã trở thành một phần không, thể thiểu được của việc giáo dục đối với những người ở tầng lớp cao
troap xã hội Triều Tiên Shijo được hát va được lưu truyền bằng, khẩu ngữ (truyền miệng) từ khi ra đời cho đến khi nó bắt đầu
được viết lại từ thế kỉ 18 trở đi
Những chủ để của Shijo cực kỳ phong, phú, từ Triều đình và đất nước, đến quan hệ bạn bẻ, tình yêu, lời ca tụng và trào phung.v.v Co loai Shyo mà trong, đó thấm sâu những lời giáo huấn về đạo đức hay hát về tỉnh thần dũng cảm của những người lính, ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, diễn tả nổi cay đắng của cuộc đời bị áp bức, về những luân lí của Nho giáo, biểu hiện sự khao khát hay cả những lời châm biếm đối với sự quê mùa
Shijo la hình thức thơ ca mang, đậm sắc dân tộc nhất của Triều Tiên và vẫn tiếp tục được sáng, tác cho đến ngày nay
« Từ điển
Cuốn từ điển Triểu Tiên đầu tiên được biết đến được sắp theo
vân tiếng Trung Quốc, là cuốn sách duy nhất các thí sinh được
mang trong các kỳ thi quốc gia Tongguk Cheongun là "7 điền
vần Triéu Tiên” (1448) do Sejong, xuất bản, sử ‹' :ng, chữ Hangeul kiểu mới Chỉ có duy nhất phần đầu và phần cuối trong số 6 phân của nó là hiện còn dùng được, Choe Sejin đã sửa lại nó trong cuốn
“17 luận về vốn văn phong" (1517) Cong Kyujang Cheonun hay
“Từ điên hoàn chỉnh của thư viện Hoàng gia" (1796) là một quyển chính thức, được phát hành trong chương trình học tập của vua Cheongjo
Trang 12264 TRA CUU VAN HOA HAN QUOC
Sự sắp xếp các ký tự theo 214 yếu tố được gọi là “các fừ gôc” trở nên phổ biến ở Trung Quốc với cuốn đại từ điển Kangxi z/đian (1716) chứa đựng, 49.174 mục từ Trật tự của các từ gốc được dùng, đầu tiên bao gồm khoảng 9.000 ký tự và hiện vẫn là quyển từ điển tiêu chuẩn của Triều Tiên và đã được tái bản nhiều lần suốt 100 năm sau
OKjpyon là tên gốc của quyển từ điển do Gu Yewang viết ở
Trung Quốc vào thế kỉ thứ 6 và đã trở thành một cái tên thông, dụng tiếng Triều Tiên cho một cuốn từ điển được sắp xếp theo các mẫu tự Trung Quốc Quyển từ điển hiện đại đầu tiên giải thích ký
tự Trung Quốc bằng tiếng Hàn là Sogyong Sa/eon Sogyong Sajeon hay là “Sự gi” thích các ký tự"(1909) chứa đựng không những, các
từ thông tục mà cả các từ của ngôn ngữ văn chương Những tư điển phat hanh sau do gém: Choe Namson Sin - "Tin từ điền" (1915) với các mục tham khảo ngôn ngữ cổ, và YiMyongChilHan II
- Son Mansin Sajeon- "Tần từ điên" Tiếng Trung, Nhật, Triều Tiên
và Mãn Châu (1937)
Sau chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953) quyển từ điển thông
dụng nhat la Kukhan myongmun-sin-okp-yon Sajeon của Kim Hyokche có nghĩa là “7ữ điển Hần - Trung Quốc chữ rõ nét mới” (1952) ra đời sử dụng nghệ thuật in cổ truyền và khuyết các mục tham khảo ngôn ngữ cổ Tuy nhiên nó có phiên âm tiếng Trung và mục lục tiếng Hàn theo vân ABC cho khoảng 10.000 mục từ Từ
điển được đánh gid cao cua Kim Min Su la "Jan ur điển" (1961)
gồm khoảng, 13.000 mục từ và bổ sung nhiều phụ lục khác Quyển Dai từ điển Trung - Hàn của Chang Samsik (1964) liệt kê 41.388 ký
tu va ca các cụm từ cũng như các từ đơn.
Trang 13Ngôn ngữ và văn tự 265
Từ điển đầu tiên của tiếng Hàn la cuốn Ti dién Han - Phap (1880) do các linh mục Pari viết, kế đó là 7 đi@h Hân - Anh của
JSgale (1897,1911,1914,1931) và Chosen go jiten (1920) Cuốn từ
điển bằng, tiếng Hàn đầu tiên là Chosono Sajeon cua Mun Se Yong
(1938) tên của nó thay đổi sau mi n ân hành và cuối cùng, đổi
thành L7 mài Sa/eon hay “Từ điền ngôn ngữ của chúng ta" (1950) Người cộng tác của Mun là Yï Yun Jae, xuất bản "Tw điền tiêu chuén Hangeul" (1947) Những người sử dụng Hangeul cũng đã chuẩn bị cuốn “g7 (ử điền “cho mình (1929), Quyển này xuất hiện
3 chương đầu tiên vào năm 1947 - 1950 và được tái bản thành một cuỗn gồm 6 chương đầy đủ (1957), lập nên các tiêu chuẩn cho các túc phẩm về từ vựng học trong tương lai, quyển gồm Kjjgo tae -
Sajeon mot chuong cua Yi Hui Sung 1961
Một từ điển lớn đã được xuất bản ở Dyong vang đó là Choson
- Mal Sajeon (1960)
“Từ điện ngôn ngữ cổ" của Nam Kwangu (1960 - 1979) và “Từ
điện ngôn ngữ Triều Y7! (1964) của Yu Chang Don được dùng thời trung đại Cuốn từ điển Hàn - Anh hiện đại nhất là S.E Marti- Y
H Lee và S Chang, "Ju dién Hin - Anh mới" (1967) Những, quyển từ điển Anh - Hàn đã xuất bản ở Triểu Tiên, được thiết kế cho sinh viên người Hàn học tiếng Anh và có nhiều định nghĩa hơn là những nghĩa tương đương của từ vựng,
Trang 15NGHE THUAT
VA NGHE THU CONG
e Am nhac va mua
Trong, suốt lịch sử lâu đài của mình, người Hàn Quốc đã bộc
lệ rõ lòng, yêu thích âm nhạc và múa Từ xa xưa, dẫn làng họp
nhau lại để múa hát ca ngợi việc trồng trọt và thu hoạch, có lẽ đó
là nguồn gốc của âm nhac va múa dân gian mà cho đến ngày nay văn còn được yêu thích và thưởng thức một cách rộng rãi Âm
nhạc truyền thống Hàn Quốc có thể được chia thành hai loại chính
là Chong-ak cho giai cấp quý tộc và Song-a& cho giai cấp bình dân
Chong-ak là âm nhạc cung, đình, thường, chậm rãi và trang, trọng, với những giai điệu cầu kỳ Song-¿Ä bao gồm nhạc nghỉ lễ của thầy mo và Phật giáo, dân ca và ca khúc kịch, thường nhiều màu sắc và dễ làm rung động, dê gợi cảm xúc Âm nhạc phương Tây được đưa vào khoảng cuối thế kỉ 19 và mau chóng được chấp nhân Ngày nay, có một số nhạc sĩ Hàn Quốc đã đi trình diễn hoặc tham dự những, kỳ thi quốc tế
Múa truyền thống Hàn Quốc có thể được chia thành sáu thể loại hà thuy, Phật Không, Cung đình, Dân gian và Mặt nạ
Trang 16268 TRA CUU VĂN HOA HAN QUO:
Nhiều điệu múa truyền thống đã bị mất đi hoặc lãng quên trong, thời kỳ thực dân hay trong những năm đầu hỗn loạn của nước
Cộng hoà, nhưng trong những năm 1980, sự quan tâm đến các
truyền thống Han Quốc và vẫn còn mang ý nghĩa văn hoá to lớn cho đến tận ngày nay Về nguồn gốc, người ta cho rằng các loại hình khác nhau của nông nhạc có thể có nguồn gốc từ lễ tế trời đất trong các lễ hội mùa xuân hay mùa thu, cũng, lại có những, người
kể rằng các vị khất sĩ nhà Phật đội nón có kết hoa và chơi nhạc để quyên tiền của cho nhà chùa dẫn đến sự ra đời của ban nông, nhạc
Nông nhạc truyền thống gồm có 12 phần, mỗi phần có 3 giải
điệu, từng, giai điệu được chơi một cách tuần tự và liên tục Có
những người cho rằng 36 giai điệu này dùng để chỉ huy chiến đấu, Lại có những, người khác cho rằng nông nhạc có cùng nguồn gốc với kịch múa mặt nạ Shaman vì có nhiều lần điệu giống như nhạc
lễ Shaman và các hoạt động của nó thậm chí giống hệt các hoạt
động của lễ Kut
Ngày nay, một ban nông nhạc thường là một nhóm 6 người,
di dau là một người cẩm cờ Người điều khiển ban nhạc thưởng
Trang 17ät và nghề thủ công
269
đổi mù có gắn lông chím, đánh chiêng, nhỏ, Các thành viên khác,
người thì chơi trống tay, người thì đánh chiêng, người thì thôi kèn,
e Pansori
Đây là một hình thức hát kể, gần như một thứ ôpêra dân giản
Nhiều người thường nhầm nó với nhạc kịch Có thể nói đây là một
hình thức kể chuyện bằng lời ca hay có thể ngâm, đọc theo nhịp
trồng Người đánh trống thường là đàn ông, vừa là người giữ nhịp, vừa là người tạo cảm hứng, qua tiếng trống của mình Người
ta cho rằng Z2soz có từ thời Ba vương quốc nhưng chỉ thực sự phát triển :ừ đầu thời Choson - thế kỉ 15 - và đến thé kỉ 18 thì lên đến định cao của nó Trước thế kỉ 19, những bài Ø2nsơz/ chỉ là những, bài hát truyền miệng, Đến thế kỉ 19, một người tên là Shin Chae Hyso mới bắt đầu ghi chép và cho xuất ban tuyển tập /ansorf
Trang 18270 TRA CUU VAN HOA HÀN QUIỐC
đầu tiên Những bài hát trong tuyển tập này đều được biên soạn dựa trên những chuyện đân gian nổi tiếng và có nhịp điệu tương,
tự như những bài dân ca miền Tây Nam Những bản /2nsoz mổi tiếng của Shin Chae Hyo là Xuân Hương ca, Tim Thanh ca, Humg
Phu ca Quảng đại ca Ngoài ra, ông còn viết những ca đoạn
ngắn để hát xướng trước những, màn biểu diễn chính
Những yếu tố quan trọng nhất của /2nsơr/ là giọng, âm và kĩ thuật của người hát lam thé nao để có thể truyền đạt được hết nội dưng, ý nghĩa của câu chuyện Để làm được điều đó, các nghệ sĩ phải trải qua một thời gian dài khổ luyện và phải nắm vững các kĩ thuật Nếu người hát là nữ thì họ còn phải luyện tập các điệu bộ,
cử chỉ của cánh tay, bản tay, quạt và khăn tay để cing với giọng,
hát của mình khơi đậy các tinh cảm của khán giả
Người nghệ sĩ /2nsoz/ thường là những người hát dạo, họ lang thang khấp các làng mạc, đây đó và thường là những người
có một nội tâm u uất, khổ đau Ngày nay, 72nsor7 vẫn là lối hát được ưa chuộng, tuy nhiên, phong cách của nó đã mang, màu sắc hiện đại hơn
s« Sanjo
Đây là một hình thức âm nhạc đùng một số nhạc cụ tạo giai
điệu và trống Nó có thể có nguồn gốc từ các giai điệu dan gian ở miền Tây bán đảo Hàn và chịu ảnh hưởng sâu sắc của âm nhạc truyền thống của đạo Shaman Đây chính là một đặc điểm làm cho
nó ra đời muộn và phát triển chậm Đặc điểm của nó là có tốc độ nhạnh và có nhiều hợp âm phức tạp và chính điều này đã tạo nên
Trang 19Nane thuat va nghé thi: céng 271
sức hấp dẫn của nó Thể loại âm nhạc này phát triển mạnh vào thế
kì 19 với nhiều gương, mặt xuât sắc như Kim Chang ]Jo (1865 -
1920) Những học trò của ông sau này đã cố gắng gìn giữ thể loại
nhạc Sanjo do ống, sáng tạo ra Ngày nay, người ta còn giữ lại được
khoảng, 10 bản Sanjo phổ biến,
e Sinaki
Đây là một loại nhạc cụ dân gian do một nhóm nhạc chơi, có thể gồm Komungo (xem Komungo), Haegum (xem Haegum) và có thể gồm cả kèn Oboa Những người chơi nhạc cụ này có thể chơi giữa nhóm nhạc những đoạn nhạc hay tự ứng tác một mình hơn nhiều là khi họ chơi trong những ban nhạc Jazz kiểu phương Tây, làm cho mọi người có thể thể hiện được khả năng của mình một cách tự do và có giai điệu Còn kết quả đó là một cuộc trình diễn day sinh lực, đam mê và hăng say Loại nhạc này thường gợi lên
một nghị lễ thầy mo mà nhiều người cho là nó có nguồn gốc từ đó Dân dân, nó trở thành một trong những nguồn gốc của những cảm hứng, về Sanjo (xem Sanjo) Cả hai hình thức âm nhạc này đều có
nguồn gốc từ một tỉnh phía Tây là tỉnh Chollanam
¢ Cac loai nhac cu g6
Trang 20272 TRA CỨU VAN HOA HÀN QUỔI
nhất và nặng nhất có tén 1a Para, và thường được sử dụng trong, múa nghỉ lễ của đạo Phật Loại nhỏ nhất gọi là #Zangba/ thường được buộc vào ngón cái và ngón giữa của vũ công và được đánh làm nhạc đệm Những loại chăm chọc to cũng có thể được dùng
để chơi nhạc cho các buổi lễ nghỉ trong quân đội, cũng được chơi thay cho cổng hay chiêng trong những, buổi lễ Shaman ở vùng
Tây Bắc
Changgo
Đây là loại nhạc cụ gõ chính ở Hàn Quốc, một loại trống hai mặt và có hình đồng hồ cát Tên của no bat nguén tir tie “chang” — nghĩa là gay, va “go” — nghia là trống Người ta biết đến loại nhạc
cụ này với rất nhiều tên gọi: trong nông nhạc nó có tên là
yoo", Ö olchanggo”, trong, các thư tịch lịch sử nó có tên là
miền Trung của bán đảo Hàn người ta gọi nó là “changgu”’
Loại trống, này có rất nhiều kích cỡ, chiều đài của nó có thể khoảng từ 40 đến 60cm và đường kính có thể khoảng, từ 20 đến 30cm Thân của trống phải được làm bằng gỗ nguyên khối và người ta sẽ đục nó thành hình đồng hồ cát, bên trong thì được khoét rông ngay cả ở cái eo rất hẹp của nó Trống này thưởng được sơn màu đỏ, nhưng, còn loại trống dùng trong nông nhạc thì người ta thường giữ nguyên màu gỗ tự nhiên, nghĩa là để mộc Mặt trống - làm bằng da súc vật - thường được gắn vảo thân trống, bằng một đai kim loại dai Hai mặt trống nối với nhau bằnz những đây thừng buộc vào các móc đính trên đai kim loại Tronz các thư tịch lịch sử, người ta nói rằng mặt trống trước đây vốa được làm bằng, da ngựa, mặt phải thì bằng đa mỏng con mit tréi
Trang 21Nghề thuật vã nghề thủ công 273
thì bằng đa dày Nhưng bây giờ, người ta làm mặt phải trống bằng,
da cho va mat trai bằng đa bò, trừ loại trống dùng trong nông nhạc thi lam bằng, đa chó ở cả hai mặt
Trong, hầu hết các thể loại âm nhạc, các loại nhạc cụ thường được đặt trên sản nhà, trước mặt người biểu diễn Mặt trái của trống được gõ bằng, lòng bàn tay trái và cho ra âm thanh trầm,
nhẹ, còn mặt phải thì được gõ bằng một thanh tre mỏng và cho ra
âm thanh vang giòn Nhưng với nông nhạc, thể loại nhạc cần đến
âm thanh lớn vì người ta thường biểu diễn ngoài trời, nên người đánh trống phải dùng một chiếc dùi to tròn đầu và đánh bằng dùi vào cá hai mặt trống
Loại nhạc cụ này có một lịch sử rất lâu dài ở Hàn Quốc Nó xuất hiện ngay từ trong những bức họa thời Koguryo (37 trước Công, nguyên - 668 sau Công nguyên) và có mặt trong số các cổ vật còn lại từ thời Shilla (S7 trước Công nguyên - 935 sau Công
nguyên) Ngày nay, changgo có mặt trong hầu hết các thể loại âm
nhạc truyền thống của Hàn Quốc và thường được chơi cùng đàn nhạc như một loại nhạc cụ đệm nhưng cũng có khi người ta dùng
nó để độc diễn trong nông nhạc
Chiêng
Đây là một loại nhạc cụ giống như công nhưng lớn và mỏng, hơn, nó không có một kích thước cố định nhưng, hầu hết có đường kinh khoảng chừng 40 em và độ dày của vành khoảng chừng 8 đến
10 cm Với loại chiêng này, người ta thường làm một cái quai bằng, vải bện kiểu như dây thừng để treo lên khi đánh Cái quai sẽ được
Trang 22274 TRA CỨU VĂN HOA HAN QUO
xỏ từ hai lỗ trên vành của chiêng Khi đánh chiêng, người đánh sẽ cẩm nó trên tay trái của mình, tay phải dùng một chiếc dùi lớn, đầu dùi tròn và bọc vải đánh mạnh vào chỗ gần tâm cua chiéng Chức năng chính của chiếc chiêng này là để tăng cường những âm thanh chính của giai điệu
Trước đây, trong lịch sử, người Hàn Quốc thường dùng chiêng để thể hiện những hiệu lệnh trong quân đội Ngày nay, nó thường xuất hiện khi cử nhạc nghỉ lễ trong các nghỉ lễ tổ tiên Hoàng gia, trong quân nhạc, trong nhạc nghỉ lễ Phật giáo hay Shaman giáo và cả trong nông, nhạc
Chíngo
Đây là loại trống lớn nhất ở Hàn Quốc hiện nay, một loại trống, thùng tròn được đặt trên giá đỡ bằng gỗ có 4 chân Thân trống thường được sơn màu đỏ, đài khoảng 155 em và đường kính hai mặt trống khoảng chừng 110cm Mặt của loại trống, này
thường được trang, trí với rất nhiều họa tiết và nhiều màu sắc ở đường viễn xung quanh, còn ở giữa mặt trống là biểu tượng âm dương Khi đánh trống, người đánh thường, phải đứng và gõ vào mặt trống bằng một chiếc dùi lớn tròn đầu
Loại trống nảy có nguồn gốc từ Trung Quốc và du nhập vào Hàn Quốc cùng với những quà biếu là nhac cu chia Hoang, đế nhà Tống gửi cho triểu đình Koryo vào năm 1116 Nó thường được dùng khi cử nhạc trong các buổi lễ lớn Ngày nay, người ta thường, chỉ dùng nó trong các nghỉ lễ Khổng giáo và nghỉ lễ trong Thái miếu Hoàng gia ở Chongmyo Nó là một phần quan trọng của dân
Trang 23Nghé thuat va nghé thd céng «5
nhạ: đệm Chức năng chủ yếu của nó là để nhấn mạnh thêm những, hợp âm du dương của giai điệu, nhưng quan trọng hơn, nó được dùng, nhiều vào lúc bắt đầu cũng như lúc kết thúc một giai điệu, báo hiệu rằng dàn nhạc bắt đầu chơi hay bắt đầu nghỉ Âm tharh của nó rất trằm hùng và hoành trang
Cholgo
Đây là một loại trống thùng tròn, thường được đặt nằm trên giá sô Thân trống thường có màu đỏ và mặt trống thường làm bằng da bò Mỗi mặt trống có biểu tượng âm dương, ở giữa, xung, quanh đường viền mặt trống là những đường hoa văn trang trí với họa tiết đẹp và màu sắc sặc sỡ Người đánh trống thường ngồi trước trống và đánh vào giữa mặt trống bằng một chiếc dùi bằng, g6 ton dau
Người ta cho rằng loại nhạc cụ này có nguồn gốc từ Trung, Quếc Nó thường được dùng trong âm nhạc nghỉ lễ Ngày nay, người ta chỉ dùng nó trong các nghi lễ Khổng giáo ở Thái miếu Ho¿ng gia hàng năm ở Chongmyo Nó có mặt trong dàn nhạc đệm
và như một bản sao của loại trống lớn Chứazo Chức năng chính của nó là để tăng thêm những hợp âm của giai điệu và cũng dùng
khi bắt đầu và kết thúc khúc đồng diễn
Chwago
Đây là một loại trống kích thước trung, bình Nó có thân bằng, g6 và được treo trên một khung gỗ thẳng đứng Thân trống thường được sơn những màu sáng và mặt trống thi lam bang da
Trang 24276 TRA CUU VAN HOA HAN QUOC
bò Giữa ‘mat trống là biểu tượng âm dương còn viền quanh mặt trống là những đường hoa văn trang trí nhiều màu sắc
Người đánh trống ngồi bên cạnh trống và đánh trống bằng, một chiếc đùi gỗ lớn, loại trống này có âm thanh rất lớn, trầm hùng và tiếng ngân dải
Người ta cho rằng loại nhạc cụ này đến gần đây mới được đưra thêm vào những khúc đồng, diễn vì trước đây không thấy ai nhắc đến nó trong các thư tịch lịch sử Ngày nay, nó chỉ được dùng trong các thể loại nhạc cung đình và nhạc quý tộc, đặc biệt là trong, múa cung đình Cái tên C#wago của nó có nghĩa là “đô ngồi”,
“chua” nghĩa là “ống” còn “go” nghĩa là "gổi”
Chuông
Người ta tìm thấy những, chiếc chuông với nhiều đỉnh nhỏ lân đầu tiên vào thời kỳ đồ đồng Người Hàn thời cổ sử dụng chuông, vào nhiều mục đích, chúng có thể được đeo vào xe ngựa hoặc xe chở hàng, cũng có thể được sử dụng để hướng đạo trong những,
nghỉ lễ Shaman hay có vai trò như một biểu tượng của quyền lực Những nhà nghiên cứu đã tìm thấy một cái chuông, gió bang, vàng cao khoảng, 7 em từ thời Shila, nhưng vào lúc bay giờ, không,
có một cái chuông nào được coi là nhạc cụ cả Tuy nhiên, người tta
đã tìm thấy một số vật chứng tỏ rằng người Hàn có sử dung những bộ chuông treo để hòa âm
Sau này, vào năm 1116, những chiếc chuông trở thành mộột nhạc cụ quan trọng trong dan nhac giao hưởng Tuy nhiên, nhữmg người thợ đồng, đã có kĩ năng vả rất nhiều kinh nghiệm trong, việc
Trang 25Ngê thuật và nghề thủ công - 277
đúc những chuông đơn dùng trong, các đến chùa Phật giáo mà nổi tiếng hơn cả là những chiếc chuông ở thời đại Shilla thống, nhất
Về kích thước vả sự trang trí trên chuông, thì phải nói đến những, chếc được làm vào thời tương đương với thời Đường - Trung Hoa Từ thời kỳ đó, chuông, của người Hàn có ba nét đặc trưng kh¿ tiêu biểu: có núm treo được khắc rất tỉ mử, công phụ; có 9 đỉnh
ở gân đỉnh chuông và ở trên hai bên mặt đối điện của chuông, đước minh họa bằng một cặp Apsara dang bay Nhung qua chuông này không có quả lắc và vì thể người ta phải đánh vào hai bếr hông của chuông bằng một chiếc dùi gỗ khí muốn có tiếng, kêu Chiếc chuông cổ nhất trên bán đảo Hàn hiện vẫn còn được
lưu giữ tại chùa Sangwon thuộc Odae-san có niên đại khoảng năm
72
Emile ở chùa Pongdok với niên đại là năm 771 sau Công nguyên
au Công nguyên Nhưng chiếc chuông lớn nhất lại là chuông,
Chhếc chuông này cao 3,75 mét, đường kính 2/27 mét và nặng 20 tấn Người ta đúc chiếc chuông này để tưởng nhớ tới vị Vua Sorgdok Hiện nay, nó vẫn còn được lưu giữ tại Viện bảo tảng, Quuặc gia ở Kyongju
Năm 1346, vào thời Vua Yonbok, ở Kaesong, người ta đã đúc mìệ chiếc chuông, cao 3,2 mét và trang trí rất công, phu Trên mình ciúc chiếc chuông này có một câu được khắc bằng 6 thứ tiếng, trong, đió có tiếng Trung Quốc, tiếng SanskriL, tiếng Mông Cổ và tiếng, Phun Chiếc chuông này thể hiện tình hữu nghị và nền hòa bình
giữa Vương triểu Koryo và nhà Nguyên — Trung Hoa Tuy nhiên, clhc đến nay vẫn chưa ai biết rằng nó là do những người thợ đồng, Trưng Quốc làm hay do những người thợ đồng xứ Hàn làm dưới
sw thúc ép của những người Mông Cổ nhằm ép buộc nước chư hầu
ph¿i khuất phục mình
Trang 26278 TRA CUU VAN HOA HAN QUOC:
Tại cổng lớn phía Nam thành Seoul (Namdaemun), có một tháp chuông ở trên treo một chiếc chuông được đúc từ năm 1468 với chiều cao 2,38 mét và đường kính 6,49 mót Lúc đầu, chiếc chuông này được đúc cho chùa Wonguksa tại Songno nhưng sau
đó, người ta đã dịch chuyển nó hai lần Người ta dùng chiếc chuông này để thông báo giờ mở và đóng cửa thành Năm 1985,
nó được đưa về Viện bảo tàng Quốc gia
Kkwaenggwari
Đây là một loại công nhỏ bằng đồng, âm thanh của nó rất chói tai, cao và thu hút sự chú ý Tên của nó là một từ tượng thanh, biểu hiện âm thanh mà nó phát ra Nó không có một kích thước cế định nhưng thường có đường kính khoảng 20 em và độ dày của vành là khoảng 5 cm Người đánh cổng cầm nó bằng ngón cái và ngón giữa của bàn tay trái và đánh cổng bằng tay phải, Ông ta dùng một chiếc dùi bằng tre hoặc bằng gỗ có đầu tròn Bằng việc
đặt ngón tay lên mặt cổng, người đánh cổng có thể dễ dàng điều khiển được âm thanh của nó Nếu người đó đặt ngón tay lên mặt cổng, tiếng cổng sẽ rè và có phần ướt át, còn nếu không đặt ngón
tay lên mặt công, tiếng cổng sẽ trong và thanh hơn
Các thư tịch lịch sử kể lại rằng loại cổng này thường được
dùng trong các vũ điệu của nghỉ lễ tổ tiên ở Thái miếu Hoàng gia
Nó cũng thường được đánh để thông báo một buổi lễ sắp bắt đầu
Ngày nay, nó là một loại nhạc cụ chính trong nông nhạc và chỉ
người cầm đầu ban nhạc mới được chơi loại nhạc cụ này để giữ
nhịp cho những loại nhạc cụ khác Nó có thể cũng được dùng trong nhạc lễ Shaman
Trang 27Nehé thuat va nghề thd cong i ee i CD
Moktak
Đây là một loại mõ cẩm tay bằng gỗ mà chỉ có các nhà sư mới dùng khi tụng kinh Nó có hình tròn và rồng bên trong, Người ta đúc nó bằng gỗ nguyên khối, có một tay cầm hình vòng cung gắn
vào bền cạnh và một rãnh chạy theo đường chủ ví kéo dài đến quá nưa chủ vi ở phía đối điện với tay cầm Không có một kích thước chuẩn nào đành cho loại mõ này Khi gõ, người gõ mö sẽ cầm mõ trên tay trái và tay phải cầm đùi gỗ gõ vào gần đường rãnh Tên của nó là tổ hợp của hai từ, “moó&” có nghĩa là “gổ" và “tak" có
nghĩa là “chuồng”
Yonggo
Đây là một loại trống rồng giống như là tên của nó, vì
“yonggo” tiếng, Hàn có nghĩa là "zổng” Mỗi mặt trống có đường, kính chừng khoảng 35 đến 40cm và được làm bằng da bò Thân
trống làm bằng gỗ có độ dày khoảng từ 25 đến 30cm và rồng,
thường được vẽ bằng nhiều màu sáng, Những kiểu trống rồng
không, trang trí gọi là "puk” thì thường được dùng trong nhạc dân
gian
Loại trống này ngày nay thường, được dùng nhiều trong quân nhạc, cũng, được dùng trong dàn nhạc đệm cho những, bài dân ca bản địa của xứ Hàn như 7nsør¿ Trong quân nhạc, người đánh trống sẽ đeo trống trên vai mình và đánh trống bằng hai chiếc dùi g6 lớn Trong #ansorz người đánh trống ngồi phía trước, bên phải trống và đánh trống bằng long ban tay trái của minh
Trang 28280 TRA CUU VAN HOA HAN QUO)
« Pompae
Đây là một lễ cầu kinh và được coi như hình thức cầu kinh
quan trọng nhất đối với kinh Phật Không, khí của buổi lễ này rất trong thể va tôn nghiêm Những bài kinh trong Pompae thường, dua trén những thé tho cua người Trung Quốc và cũng thường, được viết bằng tiếng, Trung Quốc, nhưng không hoàn toản theo
khuôn mẫu và nhịp điệu Trung Quốc Có 7 loại bài kinh Pompae &
Han Quốc, chúng phân biệt vdi nhau bang s6 dm tiét va sO dony Tất cả đều có nhịp điệu chậm không, sao tả nổi Nghĩa của những bài kinh thường rất khó hiểu bởi âm điệu của mỗi âm tiết trong bài được ngân rất dài còn người cầu kinh thì có thể tự ý thêm vảo một Vài từ nào đó
Có hai hình thức cẩu kinh khác nhau: Kiểu ngắn gọi là Hossori va kiểu dài goi la Chissori, Hossori thường được dùng trong các budi 1é ngdn, con Chissori thi khá linh hoạt, có thể kéo
dai ra hay rút ngắn lại tùy theo yêu cầu của mỗi buổi lễ Nó có
nhịp điệu khá đa dạng và được hát bằng một thứ giọng, cao, hơi
the the
Những, nhạc cụ dùng để đệm cho Pompae thudng la mot
chiếc mõ cầm tay nhỏ, một chiếc cổng nhỏ bằng gỗ và một chiếc
công lớn bằng đồn, „
e Cac loai dan dây
Ajaeng
Đây là một loại đàn tam thập lục đài và hơi cong, được làm từ
gỗ nguyên khối Chiều đài của nó khoảng 160cm và chiều rộng,
Trang 29Nghệ thuật và nghề thủ cong 281
khoảng 24cm 7 day dan được bện từ lụa và uốn cong, bằng, cách dính vào những que bằng gỗ cây đâu xuân dài khoảng, 65cm
Những cái đây đàn chạy theo một đường, cong nhẹ nhàng trên
những cái ngựa đàn cĩ thể di động, được Khi chơi, đầu bên phải của đản tức phía bên phải của người chơi đàn được đặt cao lên trên một giá đỡ nhỏ cĩ 4 chân Người chơi đản gáy đàn bằng tay phải cịn tay trái thì ấn xuống dây đản ở vị trí cách cái ngựa đản khoảng vải em
Cĩ một loại đàn thuộc thể loại đàn này nhưng nhỏ hơn tên là
Sao Ajeng, được phát minh ra vào khoảng, những năm 60 của thế ki 20 Nĩ gần như giống, hệt kiểu đàn Ajaeng, nhưng nhỏ hơn, đài khoảng 120 centimet và cĩ 8 dây Với loại đàn này, thay vì một gia đỡ bằng gỗ tách rời khỏi đản là một chiếc nắp bằng, gồ cĩ bản
lễ gắn vào đầu trên của đàn và khi mở ra thì nĩ trở thành giá đỡ Loại đản này du nhập vào bán đảo Hàn từ Trung Quốc vào thời Koryo (918-1392) Đầu tiên, người ta chỉ dùng nĩ trong, nhạc Trung Quốc nhưng sau đĩ dân dẫn người ta chấp nhận nĩ cho cả
nhạc bản địa Ngày nay, nĩ cĩ mặt trong cả hai thể loại nhạc cung,
đình và dân gian và thường được chơi kèm với một vài loại đàn đây khác Từ khi người Hàn phát mình ra Sar/o A/aeng, loại nhạc
cụ này ngày càng trở nên phổ biến, đặc biệt là để độc tấu
Kayakeum
Đây là một loại nhạc cụ rất được ưa thích ở Hản Quốc, một loại đàn giống như đản thập lục dài cĩ 12 đây và đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử Theo Samguk Sàÿ nĩ cĩ từ thời Shilla do nha vua của Kaya, một bộ tộc ở phía Nam của bán đảo Hàn, phát minh vào thế kỉ thứ 6.
Trang 30282 TRA CỨU VĂN HOA HÀN QUỐC
Ngày nay, nhac cụ này co hai loai: Chong-ak Kayageum để chơi trong nhạc quý tộc và nhạc cung đình, còn Sanjo Kayageum
để chơi trong nhạc đân gian và nhạc tải tử Loại thứ nhất thường
có chiều dài khoảng 160cm vả rộng khoảng 30cm 12 dây đàn được làm bằng lụa bén chạy dài từ những cái chốt ở cuối dan qua 12 cái ngựa đàn đến 12 cái chốt có thể vặn được ở đầu đàn Loại thứ hai dài khoảng 142cm và rộng khoảng 23cm Nó hầu như giống hệt loại thứ nhất, nhưng khác là được làm từ hai loại gỗ chứ không, phải từ một loại gô như loại thứ nhất
Khi chơi, đầu cuối của đàn thường, được nâng lên và đặt trên đầu gối của người biểu dién, còn đầu thấp hơn thì đặt một cách thoải mái bên trái người biểu diễn sao cho nó chạy quả phía trước đầu gối bên trái Người chơi đàn gảy và gõ nhẹ vào đây đàn bằng, đầu mút của mỗi ngón tay phải còn tay trái thì ấn xuống các dây dan ở vị trí cách những cái ngựa đàn khoảng vài cm
Komungo
Đây là một loại đàn thập lục dài có 6 đây do một nhạc sĩ ở vương quốc Koguryo phát minh vào thế kỉ thứ 4 Loai dan nay dai khoảng 150cm nhưng chiều rộng thì không, đều nhau, chỗ rộng,
nhất vào khoảng, 20cm, bến trong đàn thì rồng Trên đàn có 16
phím và những cải ngựa đàn có thể di động được Dây đàn làn bằng lụa chạy từ những cái ngựa đàn gắn ở đầu cuối của đản đến những chốt có thể vặn được ở đầu còn lại Các dây thứ nhất, thứ năm và thứ sáu được căng ra qua 3 cái ngựa đàn còn dây thứ hai, thứ ba và thứ tư thì được căng qua các phím dan
Trang 31Nahé thuat và nghề thủ công 283
Khi chơi, không đặt đàn song song trước mặt mà đặt chếch gối
từ đùi bên phải chạy qua đối điện với đầu gối bên trái Người chơi
sẽ gảy đây đàn ở cả phía trên và phía đưới bằng, một que tre to bằng khoảng cái bút chì cầm giữa ngón trỏ và ngón giữa của bản
tay phải trong khi các ngón của bàn tay trái thì ấn trên các dây đản
để tạc nên những hợp âm nhỏ
Người ta tìm thấy một loại nhạc cụ tương tự như Kœmungo trong những bức tranh trên những ngôi mộ cổ thời Koguryo Kormungo trd thành một loại nhạc cụ chính trong suốt thời kỳ Ba vương quốc Ngảy nay, nó được đùng trong nhiều thể loại nhạc, cả nhạc cung đình, nhạc dân gian vả nhạc tài tử
Yanggeum
Đây là một loại đàn dây truyền thống nhưng các dây của nó thì làn bằng kim loại chứ không phải bằng, lụa Hình dáng của nó
là hình thang với cạnh đáy là 71cm, đỉnh là 47cm và hai cạnh bên
là 28m, Nó có 14 bộ đây, mỗi bộ 4 dây chạy qua bên trên và bên dưới của hai cái ngựa đàn đài có nhiều lỗ Người ta đánh đàn bằng
mộit chiếc que tre mong
Yanggum của người Hàn là bản sao một loại đàn của người Ba
Tư Loại nhạc cụ này được đưa vào dàn nhạc của Hàn Quốc và người ta tín rằng có một công, sứ người Hàn đã mang nó về từ Trurg Quốc vảo thế kỉ 18, nơi mà những nhà truyền đạo Cơ đốc
đã mang tới vào thế kỉ 16.
Trang 32284 TRA CUU VAN HÓA HÀN QUỐC
e Các loại nhạc khí
Chi
Đây là một loại sáo trúc ngắn có 1 lỗ để thổi và 5 lỗ để tạo nhạc, trong đó lỗ đầu tiên được khoét ở phía ngược với những, lỗ còn lại Đầu mút cuối cùng của ống sáo thì được gò vào sao cho lỗ
có dạng nằm ngang và vừa với tâm ngón tay út trong bản tay phải của người thổi sáo Có một khoá trên miệng sáo làm bằng trúc Khoá này được gắn với ống, sáo bang sáp ong,
Loại sáo này được coi là một loại nhạc cụ có nguồn gốc từ
Trung Quốc Người ta chỉ dùng, nó khi cử nhạc lễ Không giao và trong những, buổi hoà nhạc có tính chất nghỉ lễ
Hun du nhập từ Trung Quốc vào bán đảo Hản trong, số lượng, lớn những quả tặng của hoàng đế nhà Tống tặng cho vương quốc Koryo vào năm 1114 và 1116 Nó được ra đời lần đầu tiên trên bán đảo Hàn dưới triều vua Sejong (năm trị vì: 1418-50), người có công, lớn trong, việc phát triển nền âm nhạc nói riêng và nghệ thuật rói chung trên bán đảo Hàn
Trang 33Nghệ thuật và nghề thủ cong 285
Ngày nay, loại sáo này chỉ được dùng khi cử nhạc trong, các nghỉ lễ Không, giáo tô chức hai lần một năm tại Thái miếu Hoàng gia ở Seoul
Teegeum
Đây là một loại sáo trúc cầm ngang mà người ta cho rằng, có
nguồn góc bản địa Loại sáo này đài chừng khoảng 80cm nghĩa là
tương đối lớn Tên của nó, “tae” co nghia la "Jon", con “geum" co
nghĩa là "sáo" Nó có 6 lỗ cho đầu ngón tay, 1 lỗ để thổi và một
nắp day Giữa lồ để thổi và lỗ cho đầu ngón tay là một lỗ hổng với
mót mang mong để tạo nén tiéng ri ram, chinh diéu nay lam cho Taogeem khác hẳn với những loại sảo khác
De kích thước quá khổ của loại sáo này nên nó trở thành một loại nhạc cụ rất khó chơi Người biểu diễn phải chịu trọng lượng,
của sác cũng như phải căng tay đến mỏi nhữ vì lỗ sáo cuối cùng ở
tít đầu mút của sáo làm cho ngón tay cứ phải vươn dải ra
Teegeum là một loại nhạc khí tương đối có ưu thế ở Triều Tiên suốt tù thời Shilla thống, nhất (668 - 935) Người ta dùng nó trong,
cả nhạ: cũng đình và nhạc đân gian Nó được coi là một nhạc cụ tưởng đổi quan trọng trong dàn nhạc
Trang 34286 TRA CỨU VĂN HÓA HÀN QUỐC
dưới chỗ đặt môi và một chuông bằng, kim loại hình cái ly ở đâu
cuối cùng,
Người ta tin rằng loại nhạc cụ này có nguồn gốc từ Trung, Quốc và du nhập vào bán đảo Hàn ở vào khoảng thế kỈ 15 Nó được dùng trong quân nhạc và một số thể loại nhạc cung đình khác trong, suốt thời kỳ Choson (1392 - 1910) nhưng bây giờ người
ta thường dùng nó trong nhạc lễ tổ tiên, trong, Hoàng, tộc, trong những ban nông nhạc Âm thanh của nó cao và sắc, rất thích hợp
với những tổ khúc biểu diễn ngoài trời
e Danca
Dân ca là một phần quan trọng của âm nhạc bản địa và văn chương truyền miệng Hàn Quốc Những bài dân ca đã ra đời từ rất
sớm trong lịch sử, gắn liên với đời sống hàng ngày của người dân
trên bán đảo Hàn Có những bài dân ca dành riêng cho đàn ông,
lại có những, bài dành riêng cho phụ nữ hay cho trẻ con Những bài dành cho đối tượng nào thì thường nói về những hoàn cảnh, hoạt động hay tâm tư của những đối tượng đó
Mỗi miền, mỗi địa phương ở Hàn Quốc đều có những bài đân
ca riêng của mình như đân ca miền Trung, dân ca miễn Nam, dân
ca miền Tây
Bài dân ca nổi tiếng nhất của người Hàn là Arirang ma ngudi
Hàn có thể hát tập thể hay đơn ca trong cả lúc vui lẫn lúc buồn Cũng có Arzang riêng cho các vùng hay các tỉnh Bài hát kể về những người yêu nhau bất chấp mọi gian nan Đây là tên của một
Trang 35« Múa cung đình
Múa cung đình Hàn Quốc gồm có hai thể loại: một được kết hợp với âm nhạc Trung Hoa thời Đường, một sử dụng, âm nhạc bản địa Có khoảng hơn 50 điệu múa cung đình Những người trình điễn được chia thành hai nhóm: nhóm chính và nhóm phụ họa Những nam diễn viên được gọi là ÄZudonz còn nữ diễn viên được gọi là Ksaeng Mfudong chủ yếu phục vụ cho vua, hoàng tử
và khách khứa Còn Kaeng thì trình điễn phục vụ cho hoàng hậu, công chúa hoặc nhà vua và các quan khách tại các buổi lễ tân
Mua cung đình là loại nghệ thuật múa trang trọng, kiểu cách, huy hoàng, thường được dàn dựng cho các buổi diễn lớn, có khi có tới trên 200 vũ công tham gia Để làm tăng thêm vẻ hoành tráng của các vũ điệu, các vũ công thường mặc y phục rực rỡ, trang sức lộng lẫy, cầu kỳ Thường thì trong âm nhạc cung, đình cũng, như trong múa cung đình, nhịp điệu phải rất nghiêm ngặt Vì vậy, trong các điệu múa cung đình thiếu han sw biểu đạt tình cảm cho
dù chính nó được mệnh danh la “hinh anh thu nho cua thơ ca và
sự duyên dáng của tình cảm con người”
Có nhiều điệu múa cung đình Trung Hoa du nhập vào bán đảo Hàn và trở thành các vũ điệu chính thức của triểu đình Nhiều
Trang 36288 TRA CUU VAN HOA HAN QUOG
thư tịch lịch sử cũng cho thay rằng hầu hết các vũ điệu Trung, Hoa
du nhập vào Hàn Quốc đều đã không còn tồn tại Nhiều vũ điệu được xem là có nguồn gốc bản địa nhưng thực chất lại là của Trung Quốc Cho dù vậy, múa bản địa vẫn trở thành một phần quan trọng của múa cũng đình Hàn Quốc, đặc biệt là trong, triểu
dai Yi Điệu múa bản địa cổ nhất được sáng tác dưới thời Shilla, là
một điệu múa rất gần với vũ điệu Shaman Các điệu múa cũng đình phổ biến nhất là "Chéo thuyén”, “Chim hoa mi",
đẹp hái hoa mẫu don", “Mua tréng”, “Mua kiếm”, "Múa sêu”
e Mua nghi lé va ton giao
Múa tôn giáo và nghỉ lễ truyền thống Hàn Quốc gồm ba lo¿i
là múa Nho giáo, Phật giáo và Shaman giáo
Múa nghỉ lễ Nho giáo du nhập vào Hàn Quốc từ đầu thế kỉ 12
và bản chất trang trọng của nó đến nay vẫn còn được bảo tổa nguyên vẹn Múa nghỉ lễ Nho giáo được gọi chung là 7//zzz và vẫn
còn được trình diễn trong các lễ tế mùa xuân, mùa thu tổ chức tại
các miếu thờ Khổng Tử ở Seoul để dâng lễ cho đức Khổng Tử vì các môn đệ của Người Múa nghỉ lễ này cũng được trình diễn
Trang 37Nghệ thuật và nghề thủ công — —_ — 269
trong lễ hội mùa xuân hàng, năm tại Thái miếu Hoàng gia Các điệu múa đó được phân biệt bởi những động tác cứng, nhắc và những lần cúi đầu kính cẩn khác nhau và chủ yếu bởi số lượng vũ công trong môi điệu múa
Múa nghỉ lễ Phật giáo được du nhập vào xứ Hàn qua đường, Trung Quốc vào thế kỉ thứ 8 và từ thế kỉ thứ 9 trở đi thì hoàn toàn
bị Hàn hoá, mất đi nhiều đặc điểm nguyên sơ của nó Tuy vậy, đến nay vấn còn lại bốn điệu trong bộ sưu tập múa nghĩ lễ Phật giáo chính Các điệu múa nảy được diễn trong các buổi lễ Phật như lễ thần núi, cầu xin đức Phật phù hộ độ trì cho lĩnh hồn người quá cố được siêu thoát về chốn Tây thiên Một số điệu múa Phật
tinh tế và kiểu cách, toát lên vẻ thanh thoát va siéu pham Diéu
múa này thường, do hai nhà sư thực hiện với trang phục là áo ca sa
bằng vải gai trắng hay vàng, tay áo phải thật rộng, và dài Cũng có
khi họ còn khoác áo cả sa màu đỏ tươi vắt qua mot bén vai “Mua
trồng” là điệu múa hành xác, thường do một nhà sư độc diễn với một chiếc trống tròn đường, kính khoảng 60 cm, có âm thanh như tiếng sấm Vị sư này chỉ phác những động tác rất đơn giản và đánh trống Cùng vơi múa trống còn có “A/ta chăm choe”, đây là một trong, những điệu được coi là khó nhất trong múa nghi lễ Phật
giáo, nó đòi hỏi sự điều khiển khéo léo hai động tác nâng lên cao
khỏi đầu và xoay liên tục từ trước mặt ra sau gáy cặp chăm choẹ rất to và nặng Người thực hiện điêu múa này thường vận y phục rất sặc sỡ
Trang 38290 TRA CỨU VĂN HÓA HAN QUO IO
e Mua dan gian
Đây mới thực sự là tính hoa của múa Hàn Quốc Có nguồn gốc từ các nghỉ lễ Shaman hơn 3000 năm trước, ý tưởng sử dụng các cử chỉ bên ngoài để diễn tả nội tâm thể hiện rõ rang nhất trong các điệu múa này
Điệu múa dân gian cổ nhất và phổ biến nhất là "/8u mưa cửa người nông dân” Phiên bản ngày nay là sự pha trộn của hai dạngy,
một dạng có nhịp nhanh và thoải mái, dạng kia thì phức tạp Và
- tỉnh tế hơn Chiếc mũ quay tròn có đải đuôi lệch xuất hiện trước tiên rồi đến những chiếc mũ bằng hoa giấy to lớn khác thường được lắc nhẹ cùng mỗi vòng quay Với tiếng trống, cổng chiêng inh tai, các nghệ sĩ múa quay tròn và nhảy như điên cuồng xung quanh khi họ nhảy từ nhà này qua nhà khác để xua đuổi những tả
ma ra khỏi nhà cửa
Người ta tin rằng những vũ kịch mặt nạ đầy màu sắc đã đến
từ Trung Á như một phần ảnh hưởng, của văn hoá Phật giáo da du nhập vào Hàn Quốc thế kỉ thứ 7 Có nguồn gốc tôn giáo, những; chiếc mặt nạ đẹp đề là vật thiêng và thường được đốt đi ngay sau
môi buổi trình diễn Tuy vậy, ở Hàn Quốc thời phong, kiến, vũ
kịch mặt nạ trở thành những trò châm biếm để nói lên điểm xấu của các thầy tu tham nhũng, các Yangban giả dâm đăng, các thương gia tham lam, các bà chủ nhà bắn tính và các thầy tế Shaman bip bom Do la cac vii diéu Pongsan hay “Mua su tr” ma ngày nay vẫn thường được trình điễn Con sư tử vốn không được biết tới ở Hàn Quốc, xé xác kẻ có tội chống, lại đức Phật nhưng; bay
giờ nó nuốt chứng cả những nhà quý tộc ngớ ngẩn và những thầy
Trang 39Nghệ thuật và nghề thủ công 291
tu tinh quai Voi sự pha trôn của hát, múa, kịch câm, những đoạn đối thoại ứng khẩu hài hước, những bộ trang phục sặc sở và những chiếc mặt nạ rất đẹp, đây là dạng gần gũi nhất với nhà hát nguyên mẫu đã từng có ở Hàn Quốc trước kia
Các điệu múa mạnh mẽ nhất trong, số các điệu múa đân gian
của Hàn Quốc là Sungrmu và Sanpurr Diệu Sungmu hay điệu múa
của những nhà sư có thể có nguồn gốc từ một truyền thuyết cổ về một kĩ nữ xinh đẹp, được phái đi quyến rũ một nhà sư nổi tiếng vì cuộc sông, độc thân của ông, Trong, bộ quân áo và chiếc mũ nhà chua, nàng đi đến nơi ở của nhà sư và bắt đầu chẳm chậm đánh những nhịp điệu xúc động trên chiếc trống của mình Nàng bước
đi càng lúc càng nhanh, lắc lư và nhảy múa trước nhà sư đã xuất thần bị mê hoặc Cuối cùng, khi bộ quần áo của nàng tuột xuống đất, nhà sư bất hạnh đã hoàn toàn mất tự chủ và háo hức vì +, quyến rũ Biểu diễn một mình, người múa xuất hiện trong bộ quần
áo trùm đầu của nha su, nhảy xung quanh một chiếc trống lớn, lúc tiến, lúc lùi Sau cùng như không thể cưỡng lại được, người múa bên rút những chiếc dùi trống từ trong áo và bắt đầu gõ solo đến đứt hơi trên chiếc trống đó Nhịp trống nhanh dân cho đến khi người chơi dừng lại, kiệt sức Thành công của điệu nưía nhà sử phụ thuộc hoàn toàn vào sự cuốn hút nội tâm của người biểu diễn
Trang 40292 TRA CUU VAN HOA HAN QUOC
xúc mạnh mẽ thì nó là hình ảnh thu nhỏ cua nghệ thuật múa Hàn Quốc
s« Kịch rối
Kịch rối truyền thống Hản thường do một người tên là
“Namsadang" trình điễn ngoài trời vào buổi tối trong ánh lửa Người này sử dụng những, con rối bằng gỗ mà chân tay được gắn
trên những, chiếc que để người biểu diễn dé đàng, điều khiển khi ông ta nấp ở bên đưới sân khấu Tất cả các con rối đều được lồng, dây điểu khiển Người điều khiến rối thường nói lời thoại, một thành viên khác trong đoàn đứng hoặc ngồi phía trước sân khẩu
để dẫn giải và chỉ đạo những đoạn thoại trong suốt buổi diễn, Nhiều khi, chỉ có duy nhất một vở kịch rối nhưng những đoạn
thoại có thể thay đổi đối với mỗi buổi diễn
Lịch sử của bộ môn nghệ thuật này thật khó hiểu, nhưng có
những con rối ở Koguryo mà người ta phỏng đoán rằng, có thể nó
có nguồn gốc từ lục địa Trung Quốc, hay một nơi nào đó là trung, tâm của châu Á Những vở kịch trước đó có thể để diễn tả sự tôn sting dao Phat, chế giễu tầng lớp quý tộc và những, vị sư sải hay những thói hư tật xấu phổ biến trong thời đại Choson Nó có vỏ
như là để giải trí hơn là để phản kháng xã hội
e Kich va phim ảnh
Kịch Hàn Quốc bắt nguồn từ những nghĩ lễ tôn giáo thời tiên
sử Trong toàn bộ các chương trình biểu diễn của nhà hát truyền