1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

bán trắc nghiệm Hình sự 2

14 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 34,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hình sự 2 4 Mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc của tội buôn lậu ( Điêu 188) Đúng Vì dấu hiệu mục đích là một trong những dấu hiệu bắt buộc của tội buôn lậu đây là căn cứ để xác định tội Nếu vận chuyển hàng hóa tiền tệ qua biên giới mà không có mục đích buôn bán kiếm lời thì sẽ không cấu thành tội buôn lậu mà cấu thành tội vận chuyển trái phép hàng hóa , tiền tệ qua biên giới ( điều 189) 5 Nhanh chóng tẩu thoát không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội cướp giật tài sản( Điều 171) Đúng Vì hành.

Trang 1

Hình sự 2

4 Mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc của tội buôn lậu ( Điêu 188).

Đúng

Vì: dấu hiệu mục đích là một trong những dấu hiệu bắt buộc của tội buôn lậu đây

là căn cứ để xác định tội Nếu vận chuyển hàng hóa tiền tệ qua biên giới mà không có mục đích buôn bán kiếm lời thì sẽ không cấu thành tội buôn lậu mà cấu thành tội vận chuyển trái phép hàng hóa , tiền tệ qua biên giới ( điều 189)

5 Nhanh chóng tẩu thoát không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội cướp giật tài sản( Điều 171)

Đúng

Vì: hành vi chiếm đoạt tài sản ở tội cướp giật tài sản có 2 dấu hiệu đó là dấu hiệu công khai và giấu hiệu nhanh chóng Trong đó dấu hiệu nhanh chóng phản ánh thủ đoạn thực hiện hành vi chiếm đoạt của người cướp giật tài sản đó là thủ đoạn lợi dụng sơ hở của chủ tài sản nhanh chóng tiếp cận, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và nhanh chóng lẩn tránh Và nhanh chóng tẩu thoát chỉ là thủ đoạn nhanh chóng lẩn tránh của kẻ cướp giật chứ không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm

7 Lỗi ở tội giết người chỉ có thể là lỗi cố ý trực tiếp.

Sai

Vì: lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp

Lỗi cố ý gián tiếp trong trường hợp người phạm tội nhận thức được hành vi của mình có khả năng nguy hiểm đến tính mạng của người khác ,thấy trước hậu quả chết người có thể xẩy ra nhưng để đạt được mục đích của mình người phạm tội

có ý thức để mặc cho hậu quả xẩy ra hay nói cách khác,họ có ý thức chấp nhận hậu quả đó (nếu xẩy ra) Điều đó có nghĩa là trong ý thức chủ quan của mình, người phạm tội hoàn toàn không có ý định tước đoạt tính mạng của người khác,

mà họ chỉ thực hiện hành vi phạm tội với thái độ bỏ mặc cho hậu quả muốn đến đâu thì đến

Trực tiếp: Cầm dao đâm thẳng vào tim/cắt đứt cổ/ với ý chí làm cho người đó chết

Gián tiếp: Cầm dao đâm bừa vào người, trúng đâu thì trúng, bỏ mặc hậu quả và ý chí là mong muốn người đó chết

Hay lỗi gián tiếp Ví dụ trường hợp biết nạn nhân không biết bơi, người thực hiện hành vi phạm tội đã đẩy nạn nhân ngã xuống hồ bơi, sông hồ để nạn nhân chết đuối

1 Hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của tội bức tử.

=> Sai Khoản 1 Điều 130 BLHS 2015 quy định:“Người nào đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người

đó tự sát, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm." Hånh vi tự sát ở đây có thể gây hậu quả chết người cũng có thể không Hậu quả của việc tự sát là dấu hiệu bắt

Trang 2

buộc của CTTP không kể việc tự sát của nạn nhân có dẫn đến cái chết hay không

2 Tội phạm có cấu thành vật chất là 1 tội phạm mà trên thực tế đã gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội

=> Sai Để xác định một tội phạm có cấu thành vật chất là phải dựa vào mặt khách quan của tội phạm do luật định, tức là hậu quả của tội phạm được qui định

cụ thể trong điều luật, không dựa vào hậu quả đã xảy ra trên thực tế

3 Khách thể của tội phạm là các QHXH mà luật hình sự có nhiệm vụ điều chinh

=> Sai Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật Hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại Còn quan hệ xã hội được luật hình sự điều chinh các QHXH phát sinh giữa Nhà nước và người phạm tội khi người này thực hiện một tội phạm, đây là quan hệ phảp luật hình sự

4 Đối tượng tác động của một tội phạm luôn là đối tượng vật chất cụ thể

=>Sai Đối tượng tác động của tội phạm có thể là con người (VD: hành vi giết người), đối tượng vật chất (VD: trộm cắp tài sản) hoặc hoạt con người (VD: đưa hối lộ)

5 Tuổi chịu TNHS là tiền đề để xác định lỗi của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bình thường của

=> Đúng Vì chỉ khi một người đạt đến một độ tuổi nhất định( do luật qui định) thì người này mới có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của bản thân Từ

đó vấn đề lỗi mới được đặt ra nếu người này đủ tuổi chịu TNHS

6.Người mắc bệnh tâm thần thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS 2015 thì không phải chịu trách nhiệm hình sự

=> Sai Vi căn cứ điều 21 BLHS2015 quy định:" Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của minh , thì không phải chịu trách nhiệm hình sự." Theo đó người bị bệnh tâm thần chỉ là diều kiện cần để loại trừ trách nhiệm hình sự Chi khi nào người đó bị bệnh tâm thần đã đến khả năng mất nhận thức hoặc mất khả năng điều khiển hành vi của mình khi đang thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội (điều kiện đủ) thì mới không phải chịu trách nhiệm hình sự

7.Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội không bị coi là phạm tội

=>Sai Vì căn cứ vào điều 16 BLHS 2015: “ Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm ; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành một tội khác , thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này" Vậy việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội chi được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm do chính sách khoan hồng của nhà nước chứ không phải là không phạm tội

8.Tội phạm có cấu thành hình thức là loại tội phạm không có giai đoạn phạm tội Lub chưa đạt.

Trang 3

=> Sai Căn cứ điều 15 BLHS: “ Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội “, Vậy dối với những loại tội phạm có CTTP hình thức mà hành

vi khách quan bao gồm nhiều hành vi , nếu người phạm tội chưa thực hiện hết tất

cả các hành vi mà dừng lại do nguyên nhân khách quan thi được coi là phạm tội chưa đạt

9 Bãi nại của người bị hại là căn cứ pháp li có giá trị bắt buộc làm chấm dứt quan hệ pháp luật hình sự BANKING UNIVE

=> Sai vì bãi nại được hiểu là người bị hại rút yêu cầu khởi kiện Tuy nhiên không phải mọi hành vi phạm tội đều không bị xử lí hình sự khi có bãi nại

10 Phòng vệ khi tấn công chưa xảy ra là phòng về quá sớm.

=>Đúng Vì theo điều 22 BLHS 2015 quy định: “Phòng vệ chính dáng là hành vi của người vì bào vệ quyền hoặc lợi ích chinh đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của nhà nước, cả cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ich nói trên" Vậy khi tấn công chưa xảy ra mà người phòng vệ tấn công là quá sớm, chưa thực sự cần thiết

11 Hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong Chương các tôi xâm phạm sở hữu chỉ là hành vi chiếm đoạt tài sản.

Nhận định: Sai

Giải thích: Hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu rất đa dạng, không phải chỉ duy nhất hành vi chiếm đoạt tài sản mới là hành vi khách quan của các tội phạm này Ngoài hành vi chiếm đoạt tài sản, còn có các nhóm hành vi khách quan khác như:

+ Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS)

+ Hành vi sử dụng trái phép tài sản (Điều 177 BLHS)

+ Hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178 BLHS)

+ Hành vi vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản.(Điều 180 BLHS)

Cơ sở pháp lý: Điều 176, 177, 178, 180 BLHS

12 Không phải mọi loại tài sản bị chiếm đoạt đều là đối tượng tác động của các tội phạm xâm phạm sở hữu.

Nhận định: Đúng

Không phải mọi loại tài sản bị chiếm đoạt đều là đối tượng của tội xâm phạm sở hữu Vì để trở thành đối tượng tác động của tội xâm phạm sở hữu thì tài sản đó phải thỏa mãn một số điều kiện

Ví dụ như: Vật: muốn thành đối tượng tác động của tội phạm xâm phạm sở hữu thì vật đó không có tính năng đặc biệt ví dụ như ma túy, vũ khí quân dụng Lúc bấy giờ nếu có hành vi xâm phạm đến quyền chiếm hữu, định đoạt, sử dụng những vật có tính năng đặc biệt như trên thì không cấu thành đối tượng tác động của các tội phạm sở hữu, mà cấu thành những tội riêng biệt Như hành vi cướp

ma túy của người khác không cấu thành tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) mà cấu thành tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252 BLHS)

Trang 4

CCPL: Điều 168, Điều 252 BLHS.

13 Mọi hành vi đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản đều cấu thành Tội cướp tài sản (Điều 1168 BLHS).

Nhận định Sai

Hành vi đe dọa dùng vụ lực nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi khách quan trong cấu thành tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) và Tội cưỡng đoạt tài sản (Diêu 170 BLHS) Do đo, hành vi này không chỉ cấu thành tội cướp tài sản mà còn có thể cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản tùy vào trường hợp

VD: A đe dọa B giao 5 triệu vào ngày mai nếu không sẽ cùng nhóm bạn đánh hội đồng B Trong trường hợp này, hành vi đe dọa dùng vụ lực của A không diễn ran gay tức khắc, nạn nhân là B cũng không rơi vào tình trạng không thể chống cự được ngay tức khắc, B chỉ bị tác động, quyền xử sự vẫn do B quyết định Trường hợp này, hành vi đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản của A cấu thành Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS)

Căn cứ pháp lý: Điều 168, Điều 170 BLHS

14 Dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người

là hành vi cấu thành cả hai tội: Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) và Tội giết người (Điều 123BLHS).

Nhận định sai

Giải thích:

Trước tiên, dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người

có thể cấu thành một trong hai tội danh:

- Tội cướp tài sản với tình tiết định khung tăng nặng là “làm chết người” được quy định tại điểm c khoản 4 Điều 168 BLHS;

- Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với tình tiết định khung tăng nặng là “làm chết người” được quy định tại điểm d khoản 5 Điều 169 BLHS

Tuy nhiên, tùy thuộc vào hình thức lỗi mà người dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người có thể cấu thành một tội danh hoặc hai tội danh Cụ thể:

- Trường hợp cấu thành một tội danh: Nếu lỗi của người dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản là lỗi hỗn hợp, tức là người phạm tội cố ý với hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản nhưng vô ý với hậu quả chết người thì chỉ cấu thành một tội danh là Tội cướp tài sản hoặc Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với tình tiết định khung tăng nặng là “làm chết người”

- Trường hợp cấu thành hai tội danh: Nếu người dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản ngoài cố ý với hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản còn cố ý với hành vi giết người thì cấu thành cả hai tội danh là Tội cướp tài sản hoặc Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và Tội giết người

Như vậy, dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản không phải lúc nào cũng cấu thành hai tội danh và trong trường hợp cấu thành hai tội danh không chỉ có

Trang 5

trường hợp Tội cướp tài sản và Tội giết người mà còn có trường hợp Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và Tội giết người

15 Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) đòi hỏi người phạm tội phải lén lút với tất cả mọi người.

-Nhận định: Sai

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) không đòi hỏi người phạm tội phải lén lút với tất cả mọi người vì trong ý thức chủ quan của người phạm tội, chủ thể mà họ mong muốn che giấu hành vi phạm tội của mình nhất chính là người quản lý tài sản bởi chính người quản lý tài sản

là chủ thể dễ dàng nhất trong việc nhận thức được tài sản mình đang trong tình trạng thế nào, ở đâu … , chính vì thế, dấu hiệu đặc trưng của tội trộm cắp tài sản thể hiện ở hành vi chiếm đoạt tài sản một cách lén lút, bí mật đối với người quản

lý tài sản mà không đòi hỏi phải lén lút với tất cả mọi người, ở đây, trong một số trường hợp, có thể người phạm tội công khai hành vi dịch chuyển tài sản của mình trước người không có trách nhiệm quản lý tài sản, nếu họ thấy việc công khai này không ảnh hưởng đến việc chiếm đoạt tài sản của họ

Cơ sở pháp lý: Điều 173 BLHS

16 Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối là hành vi chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS)

- Nhận định: Sai

- Giải thích:

Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối là hành vi không chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) mà

cò cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoat tài sản (Điều 175 BLHS) nếu thỏa mãn hết các dấu hiệu định tội Xét về biểu hiện khách quan:

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) quy định người nào dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên thì cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS) quy định người nào thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ dưới 4 triệu đồng (đối với trường hợp Luật định) bằng việc vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rôi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản (Điểm a Khoản 1) thì cũng sẽ cấu thành tội này

Trong trường hợp chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối nhưng biểu hiện gian dối này không là hành vi để Tội phạm chiếm đoạt được tài sản thì sẽ không cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều

174 BLHS)

CSPL: Điều 174, 175 BLHS

17 Mọi hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp

Trang 6

đồng khác mà tài sản từ 4 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS).

- Nhận định sai

- Hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng khác mà tài sản từ 4 triệu đồng trở lên có thể không cấu thành tội quy định tại Điều 175 Lúc này, quan hệ giữa các bên là quan hệ dân sự

Hành vi này chỉ cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khi đi cùng với hành vi khách quan dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; hoặc đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản

- Cơ sở pháp lý khoản 1 Điều 175 BLHS

18 Nạn nhân tử vong là dấu hiệu định tội của Tội bức tử (Điều 130 BLHS)

- Nhận định Sai

- Giải thích:

Tội bức tử được hiểu là hành vi đối xử tàn án, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát

Điều 130 BLHS chỉ quy định về hành vi phạm tội “người nào có hành vi đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát” mà không quy định hậu quả Căn cứ theo quy định trên CTTP của tội bức tử là CTTP hình thức, nghĩa là không quan tâm đến hậu quả xảy ra, chỉ có hành vi phạm tội là dấu hiệu bắt buộc Tội phạm cấu thành khi có xử sự tự sát của nạn nhân bất kể sự tự sát có thành hay không Do đó nạn nhận tử vong không phải là dấu hiệu định tội của tội phạm này

- CSPL: Điều 130 BLHS

19 Cố ý tước đoạt tính mạng của người khác theo yêu cầu của người bị hại

là hành vi cấu thành Tội giúp người khác tự sát (Điều 131 BLHS).

- Nhận định sai

- Giải thích:

Giúp người khác tự sát là hành vi tạo ra những điều kiện vật chất hoặc tinh thần

để người khác sử dụng các điều kiện đó để tự sát

Hành vi khách quan của Tội giúp người khác tự sát là hành vi tạo ra những điều kiện vật chất hoặc tinh thần để người khác tự sát như cung cấp thuốc độc để nạn nhân tự đầu độc hoặc chỉ dẫn cách tự sát Hành vi khách quan này chỉ đóng vai trò là điều kiện để nạn nhân sử dụng các điều kiện đó mà tự sát Chủ thể tội phạm không trực tiếp tước đi tính mạng của nạn nhân

Còn hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác dù có theo yêu cầu của người bị hại hay không đều là hành vi khách quan của tội giết người

Như vậy, cố ý tước đoạt tính mạng của người khác theo yêu cầu của người bị hại không là hành vi cấu thành tội giúp người khác tự sát

Trang 7

- CSPL: Điều 131, Điều 123 BLHS.

20 Hàng hóa có hàm lượng, định lượng chất chính thấp hơn so với tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa là hàng giả.

Nhận định: Sai

Không phải cứ là hàng hóa có hàm lượng, định lượng chất chính thấp hơ so với tiêu chuẩn đã đăng ký, công bố, ghi trên bào bì là hàng giả Trong trường hợp trên, để hàng hóa đó là hàng giả thì phải đáp ứng điều kiện theo : “Hàng hóa có hàm lượng, định lượng chất chính, tổng các chất dinh dưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa”

CCPL: Điểm b- Khoản 1- Điều 4- Nghị định 08/2013

21 Hàng giả chỉ là đối tượng tác động của các tội phạm quy định tại điều

192, 193, 194, 195 BLHS.

- Trả lời: Nhận định sai

- Hàng giả còn có thể là đối tượng tác động của Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nếu hàng hóa giả về nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý

- Cơ sở pháp lý Điều 226 BLHS

22 Không phải mọi trường hợp trốn thuế từ 100 triệu đồng trở lên đều cấu thành tội trốn thuế được quy định được quy định tại Điều 200 BLHS.

- Nhận định đúng

- Hành vi khách quan cấu thành tội trốn thuế là các hành vi được quy định tại khoản 1 Điều 200 Trong đó có các hành vi cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; câu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hành hóa; khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan ngoài cấu thành tội trốn thuế (Điều 200) còn có thể cấu thành các tội buôn lậu (Điều 188), tội vận chuyển trái phép hành hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 189) trong những trường hợp thỏa mãn cấu thành tội phạm của các tội này

- CSPL: Điều 188, Điều 189, Điều 200 BLHS

23 Không phải mọi hành vi in trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước đều cấu thành Tội in trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp từ ngân sách nhà nước (Điều 203 BLHS)

- Nhận định: Đúng

- Hành vi in trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước chỉ cấu thành Tội in trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp từ ngân sách nhà nước nếu chứng từ, hóa đơn từ thu nộp ngân sách ở dạng phôi từ 50 đến dưới 100 số hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số hoặc thu lợi bất chính

từ 30000000 đồng đến dưới 100000000 đồng

- Cơ sở pháp lý: Điều 203 BLHS

Trang 8

24 Mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đang được bảo hộ tại Việt Nam đều cấu thành Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226 BLHS).

- Nhận định Sai

- Dấu hiệu băt buộc trong cấu thành tội phạm của Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp:

+ Hành vi khách quan: Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nahn4 hieu5 hoặc chỉ dẫn địa lý đăng được bảo hộ tại Việt Nam

+ Hậu quả: hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng

Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là tội phạm có CTTP vật chất do đó hành vi, hậu quả, quan hệ nhân quả là dấu hiệu bắt buộc Do đó, chỉ những hành

vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đang được bảo hộ tại VIệt Nammang lại hậu quả như quy định tại Khoản 1 Điều 226 BLHS thì mới cầu thành tội phạm này

- Cơ sở pháp lý: Điều 226 BLHS

23 Mọi trường hợp giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đều cấu thành Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125)

- Nhận định: Sai

- Giải thích: Không phải mọi trường hợp giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đều cấu thành Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125)

Bởi để bị cấu thành tội Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thì hành vi phải thỏa mãn 02 yếu tố sau:

Thứ nhất, đối với người bị giết phải là người có hành vi phạm tội nghiêm trọng: Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân, trước hết bao gồm nhưng hành vi vi phạm pháp luật hình sự xâm phạm đến lợi ích của người phạm tội hoặc đối với những người thân thích của người phạm tội Thông thường những hành vi trái pháp luật của nạn nhân xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người phạm tội và những người thân thích của người phạm tội

Thứ hai, hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân là nguyên nhân dẫn tới trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội:

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với tinh thần bị kích động mạnh là mối quan hệ tất yếu nội tại có cái này thì ắt có cái kia Không có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân thì không có tinh thần bị kích động

Trang 9

mạnh của người phạm tội và vì thế nếu người phạm tội không bị kích động bởi hành vi trái pháp luật của người khác thì không thuộc trường hợp phạm tội này

* so sánh cướp tài sản với cướp giật

Cướp tài sản Cướp giật tài sản Cưỡng đoạt tàisản Giống nhau Nhằm chiếm đoạt tài sản, xâm phạm quyền sở hữu của

người khác

- Lỗi cố ý

- Chủ thể phạm tội: Người đủ 14 tuổi sẽ chịu trách nhiệm hình sự nếu vi phạm về tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, người từ đủ 16 thì phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi

Căn cứ pháp luật Điều 168, Bộ luậtHình sự 2015 Điều 171, Bộ luậtHình sự 2015 Điều 170, Bộ luậtHình sự 2015

Hành vi

- Dùng vũ lực: Người phạm tội tác động vào thân thể của người chủ sở hữu tài sản, người có trách nhiệm quản

lý tài sản hoặc bất

cứ người nào cản trở việc chiếm đoạt tài sản của người phạm tội, làm cho những người đó không thể kháng cự lại

để người phạm tội thực hiện việc chiếm đoạt tài sản

- Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc: Là hành vi

cụ thể của người

- Cướp giật tài sản của người khác

Người phạm tội thường thực hiện hành vi một cách nhanh chóng

Lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc có thể tự mình tạo ra những sơ hở để thực hiện hành vi công khai chiếm đoạt tài sản đang rồi nhanh chóng tẩu thoát

Điểm quan trọng

ở đây là tính công khai của hành vi

và không sử dụng

Đe dọa sẽ dùng

vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản Hành vi của người phạm tội là

đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần của người khác, tức là

có thể sử dụng lời nói để uy hiếp nạn nhận trước, nếu người phạm tội có dùng vũ lực thì nó sẽ diễn ra sau một thời gian chứ không diễn ra ngay lập tức Nạn

Trang 10

phạm tội nhằm biểu hiện cho người bị tấn công biết rằng người phạm tội có thể

sử dụng vũ lực ngay tức khắc nếu người bị tấn công

có hành vi cản trở việc chiếm đoạt tài sản của người phạm tội

+ Có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản: Được hiểu là những hành vi được thực hiện thông qua cử chỉ, lời nói, thái

độ, hoặc những thủ đoạn khác (cho uống thuốc

mê Dùng vũ khí giả để uy hiếp…)

Những hành vi này thường không phải là những hành vi tác động bằng sức mạnh vật chất

vũ lực với nạn nhân

nhân vẫn có thể chống cự được, chứ không mất hoàn toàn khả năng chống cự như cướp tài sản

Khách thể bị xâm

phạm - Xâm phạm - Xâm phạm quyề - Xâm phạm

Ngày đăng: 29/06/2022, 22:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Căn cứ pháp luật Điều 168, Bộ luật Hình sự 2015 Điều 171, Bộ luật Hình sự 2015 Điều 170, Bộ luật Hình sự 2015 Hành vi - bán trắc nghiệm Hình sự 2
n cứ pháp luật Điều 168, Bộ luật Hình sự 2015 Điều 171, Bộ luật Hình sự 2015 Điều 170, Bộ luật Hình sự 2015 Hành vi (Trang 9)
nặng + Hình phạt - 07 năm đến 15 năm tù - bán trắc nghiệm Hình sự 2
n ặng + Hình phạt - 07 năm đến 15 năm tù (Trang 11)
Hình phạt cho hành   vi   chuẩn   bị phạm tội - bán trắc nghiệm Hình sự 2
Hình ph ạt cho hành vi chuẩn bị phạm tội (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w